BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN MỸ HOA
NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP XÉT XỬ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ
: LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ HUYỀN
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử
5
trong tố tụng dân sự
1.2. Cơ sở của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong tố tụng dân
14
sự
1.3. Mối liên hệ giữa nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong tố
17
tụng dân sự với các nguyên tắc khác của luật tố tụng dân sự
1.4. Khái quát lịch sử nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong tố
19
tụng dân sự Việt Nam
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT
25
NAM HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ
HAI CẤP XÉT XỬ
2.1. Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng Dân sự
(Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 đã được sửa đổi,
bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2011)
HĐXX
Hội đồng xét xử
HLPL
Hiệu lực pháp luật
LTCTAND
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
PLTTDS
Pháp luật Tố tụng Dân sự
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Tố tụng dân sự (PLTTDS) nói
riêng và pháp luật tố tụng nói chung. Việc quy định nguyên tắc thực hiện chế độ hai
cấp xét xử trong TTDS là một tất yếu khách quan, phù hợp với thực tiễn xét xử,
nhằm đạt tới mục đích cao nhất là giải quyết đúng đắn, chính xác các vụ án dân sự,
bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, củng
cố lòng tin của nhân dân vào các cơ quan tố tụng, vào Nhà nước. Trước khi ban
hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (LTCTAND) năm 2002 và Bộ luật Tố tụng
Dân sự (BLTTDS) năm 2004, đã có một khoảng thời gian dường như trong hệ
thống pháp luật tố tụng nước ta tồn tại ba cấp xét xử: cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và
cấp giám đốc thẩm. Điều này làm cho thời gian giải quyết các vụ án dân sự bị kéo
dài, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, cơ quan, tổ chức,
làm giảm niềm tin vào Tòa án, các cơ quan tố tụng. Bên cạnh đó, việc quy định
nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong TTDS đồng thời còn là cơ chế bảo
vệ quyền con người trong TTDS.
Trên thực tế, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, bên cạnh
những tích cực của việc đem lại sự tăng trưởng, phát triển về kinh tế, xã hội thì
2
cũng phát sinh những tác động tiêu cực, những mặt trái của xã hội. Đồng thời, khi
xã hội càng phát triển thì các tranh chấp dân sự càng gia tăng và phát triển hơn về
tính chất, mức độ tranh chấp. Có những vụ án mà việc xét xử kéo dài hàng chục
năm, Tòa án phải xét xử nhiều lần, qua nhiều phiên tòa, không những mất thời gian,
tốn công sức, tiền của mà còn đánh mất niềm tin của nhân dân vào hệ thống Tòa án,
vào Nhà nước. Do đó, không chỉ dừng lại ở việc quy định nguyên tắc thực hiện chế
độ hai cấp xét xử trong TTDS mà còn cần hoàn thiện hơn các quy định của pháp
luật, các thủ tục tố tụng, cũng như công tác tổ chức Tòa án nhằm phát huy hơn nữa
hiệu quả của nguyên tắc. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quan điểm được Bộ
Chính trị xác định tại Nghị quyết 48-NQ/TW “trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về
sắc hơn nữa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về
nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong TTDS, những quy định của pháp
luật hiện hành về nguyên tắc này, thực tiễn thi hành, áp dụng nguyên tắc, đề xuất
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nguyên tắc. Với các mục đích này, việc
nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp
xét xử trong TTDS;
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc thực hiện
chế độ hai cấp xét xử trong TTDS;
- Khảo sát thực tiễn thi hành, áp dụng nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp
xét xử trong TTDS;
- Phát hiện những bất cập, thiếu sót trong quá trình thi hành, áp dụng
nguyên tắc; từ đó tìm ra các phương pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận về nguyên tắc
thực hiện chế độ hai cấp xét xử, quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành
về nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử; thực tiễn thi hành nguyên tắc (thực
tiễn xét xử các VADS ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm) trong những năm gần đây.
4
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn chỉ nghiên cứu về nguyên tắc
thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong hoạt động giải quyết, xét xử các VADS và tập
trung chủ yếu vào các vấn đề sau:
- Nghiên cứu các quan điểm lý luận về nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp
xét xử trong TTDS;
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử
trong Tố tụng Dân sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong tố
tụng dân sự
“Nguyên tắc của luật tố tụng dân sự Việt Nam là những tư tưởng pháp lý
chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự và
được ghi nhận trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự”[52, tr. 36]. BLTTDS
hiện nay quy định một hệ thống các nguyên tắc tại Chương II, bao gồm 23 nguyên
tắc, nhằm điều chỉnh các hoạt động TTDS. Các nguyên tắc này chính là những tư
tưởng pháp lý cơ bản, mang tính chỉ đạo và làm cơ sở cho việc xây dựng và thực
hiện PLTTDS.
Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc
cơ bản của PLTTDS nói riêng và pháp luật tố tụng Việt Nam nói chung. Các ngành
luật tố tụng khác nhau có những đặc điểm khác nhau, đồng thời có cũng có những
nguyên tắc đặc thù chi phối hoạt động tố tụng của ngành đó. Tuy nhiên nguyên tắc
thực hiện chế độ hai cấp xét xử tồn tại trong toàn bộ hệ thống pháp luật tố tụng
nước ta, là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất, mang tính chỉ đạo, định hướng
cho tổ chức hoạt động tố tụng.
Theo Từ điển Tiếng Việt, xét xử là hoạt động “xem xét và xử các vụ án”
[57, tr. 1148].
Theo Từ điển Luật học, xét xử là: “hoạt động xem xét, đánh giá bản chất
pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ
việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất,
mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh
doanh, thương mại, lao động, hành chính..) [56, tr. 869].
6
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng, xét xử là “hoạt
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng, xét xử sơ thẩm là
“xét xử lần đầu, bản án và quyết định của Tòa án sơ thẩm sau khi tuyên án 15 ngày,
nếu không có kháng cáo và kháng nghị theo quy định của pháp luật thì sẽ có HLPL
được thi hành” [14, tr. 482].
Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội lại
cho rằng sơ thẩm là xét xử lần đầu để giải quyết tất cả những vấn đề liên quan trong
vụ án. Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án xem xét và giải quyết mọi vấn đề của vụ án bằng
việc ra bản án và quyết định. Hội đồng xét xử (HĐXX) có Hội thẩm nhân dân tham
gia. Trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị, bản án và quyết định sơ thẩm chưa có
HLPL có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm [51, tr. 220-221].
Trong các cách giải thích nêu trên, quan điểm được trích từ Từ điển Giải
thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội là hợp lý nhất khi đưa ra
được những đặc điểm, đặc trưng cơ bản của xét xử sơ thẩm: là việc xét xử lần đầu
một vụ án và bản án, quyết định của lần xét xử này chưa có HLPL ngay. Như vậy,
có thể hiểu xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án dân sự. Khi xét xử sơ thẩm, Tòa
án giải quyết mọi vấn đề của vụ án bằng việc ra bản án và quyết định. Bản án và
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại tại
Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
PLTTDS quy định bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm sau khi
tuyên án, ra quyết định chưa có HLPL ngay, đồng thời bản án, quyết định này có
thể bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định. Nếu bản án, quyết định bị
kháng cáo, kháng nghị sẽ được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Cũng giống như khái niệm sơ thẩm, hiện nay cũng tồn tại khá nhiều quan
điểm về khái niệm xét xử phúc thẩm. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học
giải thích: “phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do cấp dưới đã
xử sơ thẩm mà có chống án” [57, tr. 790-791].
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học, phúc thẩm là việc “Tòa án cấp
trên trực tiếp xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL của Tòa án cấp dưới
bị kháng cáo hoặc kháng nghị”[51, tr. 209-210].
sau: Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại VADS mà một phần
hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị theo quy định của pháp luật. Khi xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét,
9
giải quyết vụ án theo nội dung kháng cáo, kháng nghị. Bản án, quyết định phúc
thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên.
Suy cho cùng, xét xử “là hoạt động chủ yếu dựa trên tư duy của các thành
viên HĐXX” [15, tr.17], mà hoạt động tư duy này chỉ diễn ra trong một thời gian
nhất định theo quy định của pháp luật, song kết quả của hoạt động xét xử lại là
những bản án, quyết định ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các chủ thể có liên
quan. Để đưa ra bản án, quyết định chính xác, đòi hỏi việc xét xử phải thận trọng,
chính xác, khách quan. Để làm được điều này, pháp luật tố tụng đã quy định việc
xét xử một VADS được thực hiện ở các cấp khác nhau, cùng với tổ chức hệ thống
Tòa án, thủ tục tố tụng tương ứng. Như vậy việc xét xử có thể đạt được hiệu quả cao
nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như lợi ích của Nhà nước được
bảo đảm một cách tối đa.
Về khái niệm “cấp xét xử”, cấp xét xử là một vấn đề thường xuyên được
nhắc tới trong PLTTDS nói riêng hay trong hệ thống pháp luật tố tụng nói chung và
tổ chức hệ thống Tòa án, nhưng khái niệm “cấp xét xử” lại chưa được đề cập nhiều
trong khoa học pháp lý. Trong khoa học pháp lý Liên Xô cũ, cấp xét xử được xem
như là “giai đoạn xem xét vụ án tại Tòa án với thẩm quyền xác định” [50, tr.46].
Tuy nhiên, quan niệm này sẽ dẫn đến cách hiểu sai về cấp xét xử, từ quan điểm này
thì có thể hiểu giám đốc thẩm, tái thẩm là cấp xét xử thứ ba.
TS. Vũ Gia Lâm đã đưa ra khái niệm cấp xét xử như sau: “Cấp xét xử là
hình thức tổ chức tố tụng để xét xử và xét xử lại các vụ án, hình thức tổ chức tố tụng
này được đảm bảo thực hiện bằng việc quy định các thủ tục tố tụng cụ thể và tổ
chức hệ thống Tòa án có thẩm quyền xét xử theo các thủ tục tố tụng xét xử khác
lý và thủ tục chứ không xét xử lại những nội dung vụ án đã được quyết định tại Tòa
sơ thẩm.
Về khái niệm “chế độ”, theo từ điển Luật học, chế độ là “hệ thống các quy
định pháp luật cần phải được tuân thủ trong một quan hệ xã hội nhất định nhằm đạt
được mục đích nhất định” [56, tr. 122]. Chế độ hai cấp xét xử được hiểu là hệ thống
các quy định của pháp luật tố tụng về hai cấp xét xử trong tổ chức, hoạt động tố
tụng. Từ các khái niệm nguyên tắc TTDS, xét xử, cấp xét xử đã đề cập trên đây, có
thể đưa ra khái niệm nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử như sau:
11
Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự là tư
tưởng chỉ đạo, có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định hướng của
Nhà nước trong việc thực hiện hệ thống quy định của pháp luật tố tụng dân sự về tổ
chức tố tụng để xét xử các vụ án dân sự. Trong đó xác định một vụ án dân sự được
xét xử lần đầu ở cấp sơ thẩm (cấp xét xử thứ nhất) có thể được xét xử lại ở cấp phúc
thẩm (cấp xét xử thứ hai) nếu có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp
luật tố tụng dân sự, nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời vụ án, bảo đảm lợi ích Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Bản án, quyết
định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay.
1.1.2. Ý nghĩa của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong tố
tụng dân sự
1.1.2.1. Ý nghĩa pháp lý
Thứ nhất, đối với Tòa án, việc quy định thực hiện chế độ hai cấp xét xử
nhằm bảo đảm tính chính xác và đúng đắn cho việc xét xử của Tòa án cũng như
đảm bảo tính chính xác, khách quan của các bản án, quyết định khi thi hành trên
thực tế.
Việc xét xử của Tòa án không phải lúc nào cũng hoàn toàn chính xác,
những sai lầm hoàn toàn có thể xảy ra. Việc quy định một VADS có thể được xét
định của Tòa án, tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Khi quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không được Tòa án cấp sơ
thẩm bảo vệ hay nói cách khác, bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa
đảm bảo đúng đắn, chính xác, khách quan, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của các đương sự, thì bản thân các đương sự có quyền kháng cáo bản án,
quyết định sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại một lần nữa những
phần, những nội dung mà các đương sự cho rằng chưa đúng, chưa chính xác. Tuy
quyết định cụ thể về việc giải quyết VADS của HĐXX phụ thuộc phần lớn vào khả
năng chứng minh của đương sự, nhưng quyền phán quyết vẫn thuộc về Tòa án, bản
án, quyết định của Tòa án mới là kết quả cuối cùng, có ý nghĩa pháp lý và được thi
hành trên thực tế. Việc quy định nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử hay cụ
thể hơn là quy định quyền kháng cáo của các đương sự thể hiện quan điểm của Nhà
nước trong việc trao cho đương sự quyền năng cho phép đương sự tự bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc trực tiếp đánh giá, trực tiếp thể hiện
13
quan điểm, thái độ của mình đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và
yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết lại VADS.
1.1.2.2. Ý nghĩa chính trị, xã hội
Ý nghĩa chính trị: việc quy định nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét
xử trong TTDS đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với việc đảm
bảo các quyền và lợi ích của công dân, đảm bảo dân chủ, đảm bảo sự công bằng,
nghiêm minh, đúng đắn, khách quan của pháp luật, thể hiện nhận thức khoa học về
hoạt động của Tòa án phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Về bản chất, hoạt động xét xử là hoạt động nhận thức thế giới khách quan,
qua các tài liệu thực tế, từ đó đánh giá và kết luận về bản chất của sự việc. Nhận
thức của con người là một quá trình vận động và phát triển, vì vậy không phải nhận
thức của con người luôn đúng từ lần đầu tiên. Dựa trên quy luật của nhận thức, pháp
1.2. Cơ sở của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong Tố
tụng Dân sự
- Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm cho việc xét xử của Tòa án được chính xác,
khách quan
Tòa án là cơ quan được Nhà nước giao thực hiện chức năng tư pháp, với
thẩm quyền xét xử nhân danh Nhà nước. Hoạt động xét xử của Tòa án là sự thể hiện
quan điểm, thái độ của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, bảo vệ lợi ích công cộng và cả lợi ích của Nhà nước; bản án, quyết định
của Tòa án là “tuyên ngôn công lý” nhân danh Nhà nước. Thêm nữa, kết quả hoạt
động xét xử của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của công dân, các cơ
quan, tổ chức, lợi ích cộng cộng, lợi ích xã hội và cả lợi ích của Nhà nước. Bởi vậy
việc hoạt động xét xử nhất định phải đảm bảo tính chính xác, khách quan. Nguyên
tắc thực hiện chế độ hai cáp xét xử được ra đời cũng nhằm mục đích đảm bảo sự
chính xác, khách quan cho việc xét xử của Tòa án.
Thẩm phán mặc dù được đào tạo chuyên môn về luật pháp, có kinh nghiệm
xét xử nhưng dù sao vẫn là những con người bình thường, tức là cũng có thể mắc
những sai lầm do trình độ, nhận thức hoặc cảm tính cá nhân, thêm vào đó là những
nguyên nhân khách quan khác nữa khiến cho việc xét xử không phải lúc nào cũng
đạt được sự khách quan, chính xác ngay từ lần đầu tiên. Sẽ là rất tốt nếu như việc
xét xử đạt được kết quả “hoàn hảo” chỉ trong một lần, một cấp xét xử, chắc chắn
15
đây là điều mà bất cứ một thẩm phán, đương sự hay những người tham gia tố tụng
nào cũng mong đạt được. Tuy nhiên sức người có hạn, xã hội lại luôn biến đổi, cùng
với đó là những yếu tố khách quan không thể lường trước và nhiều những nguyên
nhân khác nữa làm cho việc xét xử không đảm bảo được sự chính xác, khách quan.
Vì lẽ đó, cần quy định cấp xét xử thứ hai nhằm mục đích cho Tòa án làm rõ, khắc
phục, sửa chữa kịp thời những sai lầm của mình, để bản án, quyết định có HLPL,
Trong quá trình Tòa án xét xử VADS, đương sự cũng tự bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình thông qua hoạt động tự chứng minh, tuy nhiên, quyết định cuối
cùng vẫn phụ thuộc vào HĐXX. Kết quả này có thể không phải là kết quả mà
đương sự mong muốn, hoặc đương sự cho rằng bản án, quyết định của Tòa án chưa
bảo vệ được hay chưa bảo vệ toàn diện quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Bởi vậy,
về phía đương sự, họ cần có quyền thể hiện quan điểm, thái độ của mình đối với
bản án, quyết định của Tòa án, và cũng cần phải có Tòa án có thẩm quyền xét xử lại
VADS khi đương sự không chấp nhận bản án, quyết định của Tòa án để đương sự
tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
Để bảo vệ triệt để hơn quyền và lợi ích của các đương sự, nguyên tắc thực
hiện chế độ hai cấp xét xử còn cho phép xem xét lại bản án, quyết định đã có HLPL
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, đảm bảo không có cũng như ngăn chặn bản
án, quyết định thiếu chính xác, thiếu khách quan thi hành trên thực tế gây ảnh
hưởng xấu, xâm phạm đến quyền, lợi ích chính đáng của đương sự.
- Xuất phát từ thực tiễn xét xử
Xã hội càng phát triển thì các quan hệ xã hội, các quan hệ pháp luật càng
nhiều hơn, phát triển phúc tạp hơn. Các tranh chấp dân sự cũng theo đó mà phát
triển cả về loại tranh chấp và tính chất phức tạp của các tranh chấp. Bởi vậy, việc
xét xử, giải quyết các VADS không phải vụ án cũng giống nhau, không phải tranh
chấp nào cũng giải quyết được một cách nhanh, gọn và không phải bao giờ cũng
đảm bảo được tính đúng đắn, chính xác, khách quan của các bản án, quyết định.
Thực tiễn xét xử nhiều năm cho thấy số lượng án hủy, án sửa vẫn luôn tồn
tại đáng kể. Điều này có nghĩa là hoạt động xét xử chưa đảm bảo tính chính xác,
khách quan, đi đôi với nó là bản án, quyết định của Tòa án cũng chưa đạt tính đúng
đắn, chính xác, chưa có sức thuyết phục đối với đương sự. Cùng với đó là tính chất
phức tạp của các VADS càng cao làm cho việc giải quyết vụ án càng trở nên khó
17
18
nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử và nguyên tắc quyền quyết định và tự
định đoạt của đương sự được thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, VADS được xét xử trên cơ sở khởi kiện của đương sự. Đương sự
tự quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền xét xử VADS. Toà án
chỉ thụ lý giải quyết vụ án khi có đơn khởi kiện, và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn
khởi kiện đó. Khi có kháng cáo, kháng nghị, vụ án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm
và khi xét xử, Tòa án cấp chỉ xét xử lại những nội dung trong phạm vi kháng cáo,
kháng nghị, không được vượt quá nội dung kháng cáo, kháng nghị và nội dung khởi
kiện ban đầu. Đồng thời, trong quá trình xét xử, đương sự có quyền chấm dứt, thay
đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận về việc giải quyết vụ án.
Thứ hai, sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản
án, quyết định chưa có HLPL của Tòa án cấp sơ thẩm. Việc kháng cáo của đương
sự dựa trên thái độ, quan điểm của đương sự đối với bản án, quyết định sơ thẩm và
hoàn toàn do đương sự tự quyết định, tự định đoạt việc kháng cáo.
- Mối liên hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự
Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự xác định việc bảo đảm
đương sự có thể tự bảo vệ hoặc ủy quyền cho người khác bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình; Toà án có trách nhiệm thực hiện các biện pháp, hoạt động cần
thiết bảo đảm cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Nguyên tắc
bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự được thể hiện trong thực hiện chế độ hai cấp
xét xử qua quy định đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có HLPL và Tòa án có thẩm quyền phải xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Khi đương sự cho rằng bản án, quyết định sơ thẩm chưa bảo vệ đầy đủ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay không đồng tình, không “thỏa mãn” với bản
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, đương sự có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích của
mình thông qua quyền kháng cáo. Quyền kháng cáo của đương sự cho phép đương
sự thể hiện quan điểm, thái độ của mình đối với bản án, quyết định sơ thẩm; đồng
án bấy giờ, Điều 63 Hiến pháp năm 1946 quy định như sau: “Các cơ quan tư pháp
của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có:
a)
Tòa án tối cao.
b)
Các Tòa phúc thẩm.
c)
Các Tòa đệ nhị cấp và sơ cấp”. [18]
20
Hiến pháp năm 1946 và Sắc lệnh 13/SL cũng đã quy định các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của hệ thống Tòa án. Tuy nhiên, trong thời kì này, chế độ hai cấp
xét xử chưa chính thức được quy định thành một nguyên tắc tố tụng cụ thể mặc dù
nó đã xuất hiện trong hệ thống tổ chức Tòa án và các quy định về thẩm quyền xét
xử của Tòa án lúc đó. Với việc tổ chức Tòa án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp, Tòa phúc
thẩm và quy định thẩm quyền xét xử cho các Tòa án này theo các thủ tục tố tụng xét
xử khác nhau cho thấy chế độ hai cấp xét xử đã bước đầu được thực hiện.
Ngày 17/4/1946 Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh
số 51/SL “Ấn định thẩm quyền của các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên
trong Tòa án”. Sắc lệnh 51/SL đã quy định khá rạch ròi về thẩm quyền xét xử của
các Tòa án thời kì này. Sắc lệnh này quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ của Tòa
án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp, Tòa thượng thẩm; đồng thời quy định rõ thẩm quyền
xử của Tòa án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp đối với các loại việc khác nhau như về hình