NGƯỜI bị THIỆT hại DO tội PHẠM gây RA TRONG tố TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM - Pdf 22

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
◘◘◘
LÊ NGUYÊN THANH
NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI DO TỘI PHẠM GÂY RA TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 62.38.40.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
2
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí
Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thái Phúc

người bị hại và nguyên đơn dân sự theo hướng nâng cao vai trò của
họ trong tố tụng hình sự, như quyền phát biểu, quyền tranh luận tại
phiên tòa, nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ.
Về mặt lý luận, mảng tri thức về người bị thiệt hại do tội phạm
gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam hầu như còn rất hạn chế do
chưa được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Vì thế, hoạt động
lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự chưa nhận
được sự hỗ trợ, định hướng về mặt khoa học.
Từ những hạn chế trong nhận thức và pháp luật thực định, thực
tiễn áp dụng pháp luật cũng gặp phải những khó khăn, sai lầm khi
xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị hại và nguyên đơn
dân sự. Tình trạng bị vi phạm quyền và không đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ của hai chủ thể này còn xảy ra. Ví dụ, tình trạng người bị
hại không được triệu tập tham gia tố tụng, triệu tập không đúng hoặc
được triệu tập quá trễ; sự khó khăn trong việc chủ động cung cấp
thông tin, tiếp cận vụ án, thực hiện quyền đề nghị; không được thông
báo về người tiến hành tố tụng; không có người đại diện hợp pháp,
người bảo vệ quyền lợi; kết quả điều tra không được thông báo;
không có cơ hội phát biểu, tranh luận dân chủ, công khai với các bên
4 tham gia tố tụng; vấn đề bồi thường thiệt hại không được chú ý từ
giai đoạn điều tra, giải quyết bồi thường theo yêu cầu không hợp lý;
công tác bảo vệ người bị hại trước nguy cơ bị trả thù còn xem nhẹ;
tình trạng xúc phạm danh dự, nhân phẩm và tiếp tục làm tổn thương
người bị hại trong quá trình giải quyết vụ án hình sự vẫn tồn tại. Tình
trạng đó đã làm cho người bị hại và nguyên đơn dân sự thật sự gặp
nhiều khó khăn khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình,
đồng thời phần nào làm giảm hiệu quả giải quyết vụ án hình sự khi

và nghĩa vụ được Bộ luật tố tụng hình sự quy định mà không lý giải
cơ sở của các quyền và nghĩa vụ tố tụng đó. Do đó, các tài liệu chưa
làm rõ được vai trò cơ bản của người bị hại và nguyên đơn dân sự
trong tố tụng hình sự.
- Việc nghiên cứu về người bị hại và nguyên đơn dân sự còn
manh mún, chia cắt ở phạm vi khái niệm, ở những quyền và nghĩa vụ
cụ thể của chủ thể, như khởi tố theo yêu cầu người bị hại, yêu cầu
bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra… Do đó, không thể đưa ra
những giải pháp đồng bộ để hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về
loại chủ thể này.
- Nguyên đơn dân sự cũng là chủ thể được Bộ luật tố tụng hình sự
quy định là “bị thiệt hại do tội phạm gây ra”, có hệ thống quyền và
nghĩa vụ tương đương với người bị hại, có nhiều loại và rất khó xác
định để đưa vào hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự. Thế nhưng mảng tri thức khoa học về nguyên đơn dân sự
trong vụ án hình sự còn quá ít và cũng chỉ dừng lại ở mức độ bàn về
khái niệm nguyên đơn dân sự và phân biệt với người bị hại.
6 3. Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nhằm làm rõ những vấn đề lý
luận về người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự
cùng với những bất cập của pháp luật và thực tiễn giải quyết vụ án
hình sự, từ đó đưa ra kiến nghị đối với hoạt động lập pháp và hoạt
động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Luận án tập trung nghiên cứu về người bị thiệt hại do tội phạm
gây ra theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, bao gồm người bị
hại và nguyên đơn dân sự.
Những thông tin, tư liệu được sử dụng để nghiên cứu chủ yếu

5. Điểm mới của luận án
Thứ nhất, luận án nghiên cứu người bị thiệt hại do tội phạm gây
ra trong tố tụng hình sự không chỉ có người bị hại mà còn có nguyên
đơn dân sự. Hai chủ thể này tuy có địa vị tố tụng khác nhau nhưng
“gần” nhau và cùng bị chi phối bởi dấu hiệu đặc trưng: “bị thiệt hại
do tội phạm gây ra”. Chính vì vậy, trong nội dung nghiên cứu có sự
liên hệ, so sánh các dấu hiệu pháp lý giữa người bị hại với nguyên
đơn dân sự, đồng thời phân biệt với các chủ thể khác trong tố tụng
hình sự.
Thứ hai, cách tiếp cận quyền, nghĩa vụ của người bị hại và
nguyên đơn dân sự xuất phát từ vị trí, vai trò của hai chủ thể này
trong tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, luận án trình bày quyền, nghĩa
vụ của người bị hại và nguyên đơn dân sự theo nhóm quyền, nghĩa
8 vụ cơ bản và nhóm các quyền, nghĩa vụ khác. Mặt khác, các quyền,
nghĩa vụ của người bị hại và nguyên đơn dân sự được đề cập trong
luận án không chỉ trong phạm vi các Điều 51 và Điều 52 mà còn liên
quan với nhiều điều luật khác của Bộ luật tố tụng hình sự.
Thứ ba, những kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự nhằm thực hiện tốt hơn vai trò của người bị hại
và nguyên đơn dân sự, đảm bảo quyền con người, đồng thời đáp ứng
yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta. Những kiến nghị này là phù hợp
với xu hướng cải cách hệ thống tố tụng hình sự của các nước trên thế
giới, trong đó có sự cải thiện vị trí, vai trò nạn nhân của tội phạm. Vì
thế, nội dung các kiến nghị mang tính thời sự.
6. Ý nghĩa khoa học của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ làm phong phú thêm khoa học
luật tố tụng hình sự ở nước ta.

1.1.2. Khái niệm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố
tụng hình sự
Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự
(TTHS): là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại hoặc đe dọa bị thiệt hại đáng
kể về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra và được cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng (THTT) công nhận.
1.2. Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003
1.2.1. Người bị hại
Khái niệm pháp lý về người bị hại được quy định tại khoản 1
Điều 51 BLTTHS.
10 Về mặt khoa học, ngoài cá nhân, cần thừa nhận pháp nhân và kể
cả tổ chức không có tư cách pháp nhân cũng là người bị hại trong
trường hợp bị thiệt hại trực tiếp về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra.
Dấu hiệu “đã thực tế bị thiệt hại” không phải là dấu hiệu bắt buộc
của người bị hại. Chỉ cần có hành vi phạm tội đe dọa gây ra thiệt hại
cho một người được xác định thì người đó là người bị hại. Thiệt hại
của người bị hại là thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra. Ngoài ra,
người bị hại có thể có thêm thiệt hại gián tiếp. Người bị hại được cơ
quan có thẩm quyền THTT công nhận tư cách tham gia tố tụng của
họ.
Như vậy, người bị hại là cá nhân, tổ chức bị tội phạm trực tiếp
gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về thể chất, tinh thần,
tài sản. Người bị hại được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng công nhận khi xác định có dấu hiệu thiệt hại.
1.2.2. Nguyên đơn dân sự
Khái niệm pháp lý về nguyên đơn dân sự được quy định tại khoản

1.3.2. Vai trò của người bị hại và nguyên đơn dân sự trong tố tụng
hình sự Việt Nam
Là chủ thể có quyền buộc tội nhân danh cá nhân (quyền của
người bị hại) đồng thời với quyền yêu cầu bồi thường, khắc phục
thiệt hại do tội phạm gây ra (quyền của người bị hại và nguyên đơn
dân sự). Hai là, chủ thể có nghĩa vụ khai báo trung thực trong TTHS
với lý do biết được thông tin về tội phạm, người phạm tội. Vai trò đó
giống như người làm chứng.
12 1.4. Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong lịch sử tố
tụng hình sự và trong luật tố tụng hình sự của một số nước trên
thế giới
1.4.1. Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong lịch sử tố tụng
hình sự
1.4.2. Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong luật tố tụng hình
sự của một số nước trên thế giới.
Chương 2 – Quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại do tội
phạm gây ra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
2.1. Quyền buộc tội của người bị hại, quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại của người bị hại và nguyên đơn dân sự
2.1.1. Quyền buộc tội của người bị hại
Quyền buộc tội nhân danh cá nhân được coi là quyền cơ bản và
đặc trưng của người bị hại.
Quyền buộc tội của người bị hại trong TTHS Việt Nam trước hết
được thể hiện trong những vụ án mà BLTTHS quy định chỉ được
khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (xem Điều 105 BLTTHS). Đó
quyền yêu cầu (rút yêu cầu khởi tố vụ án), quyền trình bày lời buộc
tội tại phiên tòa như một thủ tục tố tụng bắt buộc trong những vụ án

- Người bị hại yêu cầu bị đơn dân sự (là bị can được miễn trách
nhiệm hình sự trong giai đoạn điều tra) liên đới cùng với bị cáo
(đồng phạm) bồi thường thiệt hại.
Nguyên đơn dân sự có quyền yêu cầu bị can, bị cáo bồi thường
thiệt hại trong các trường hợp sau:
14 - Nguyên đơn dân sự là cá nhân, tổ chức yêu cầu bị can, bị cáo
bồi thường thiệt hại tài sản, thể chất do tội phạm gián tiếp gây ra
thiệt hại đó.
- Nguyên đơn dân sự là người sống phụ thuộc người bị hại (chết)
yêu cầu bị can, bị cáo bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất hoặc bị
giảm sút vì không còn trợ cấp, nuôi dưỡng của người bị hại.
- Nguyên đơn dân sự là người thân thích của người bị hại (chết)
yêu cầu bị can, bị cáo bồi thường thiệt hại về tinh thần.
Nguyên đơn dân sự có quyền yêu cầu bị đơn dân sự bồi thường
thiệt hại trong các trường hợp:
- Nguyên đơn dân sự là cá nhân, tổ chức yêu cầu bị đơn dân sự (là
cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành
niên) bồi thường thiệt hại.
- Nguyên đơn dân sự là cá nhân, tổ chức yêu cầu bị đơn dân sự
(trong giai đoạn điều tra là bị can nhưng được miễn trách nhiệm hình
sự) có trách nhiệm liên đới với bị cáo (đồng phạm) bồi thường thiệt
hại do bị can, bị cáo gây ra.
- Nguyên đơn dân sự là người sống phụ thuộc người bị hại (chết)
yêu cầu bị đơn dân sự là cha, mẹ (hoặc người giám hộ) của bị can, bị
cáo chưa thành niên bồi thường thiệt hại tài sản do mất hoặc bị giảm
sút thu nhập khi không còn sự trợ cấp, nuôi dưỡng của người bị hại.
- Nguyên đơn dân sự là người thân thích của người bị hại (chết)

Khoản 3 Điều 52 quy định rõ nghĩa vụ trình bày lời khai trung
thực của nguyên đơn dân sự, trong khi nghĩa vụ khai báo của người
bị hại được suy ra từ khả năng (có thể) bị truy cứu trách nhiệm hình
16 sự nếu người bị hại từ chối khai báo. Nghĩa vụ khai báo của người bị
hại và nguyên đơn dân sự là khai báo trung thực mà không phải bất
kỳ lời khai báo nào cũng được chấp nhận.
Khi quy định nghĩa vụ khai báo trung thực của người bị hại và
nguyên đơn dân sự, nhà làm luật cũng quy định biện pháp xử lý
người bị hại từ chối thực hiện nghĩa vụ khai báo. Hiện nay, lý do nào
được coi là chính đáng để người bị hại không bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo Điều 308 nếu họ từ chối khai báo không được giải thích
rõ ràng.
Việc quy định nghĩa vụ khai báo cũng sẽ phát sinh những quyền
khác của người bị hại và nguyên đơn dân sự chưa được quy định cụ
thể, như quyền yêu cầu bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự
nhân phẩm, tài sản của người bị hại và nguyên đơn dân sự; quyền
được bảo vệ thông tin cá nhân, quyền được thanh toán chi phí tham
gia tố tụng của người bị hại theo yêu cầu của cơ quan THTT…
2.3. Các quyền, nghĩa vụ khác của người bị hại và nguyên
đơn dân sự
Bên cạnh các quyền và nghĩa vụ tố tụng cơ bản của người bị hại
và nguyên đơn dân sự, BLTTHS còn quy định những quyền và nghĩa
vụ tố tụng khác. Nội dung, mục đích của các quyền và nghĩa vụ tố
tụng này mặc dù không trực tiếp hướng đến việc buộc tội, yêu cầu
bồi thường thiệt hại hoặc cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của cơ
quan THTT để giải quyết vụ án nhưng nó đảm bảo cho người bị hại
và nguyên đơn dân sự thực hiện hiệu quả các quyền và nghĩa vụ cơ

tham gia phiên tòa; Người bị hại không được giải thích kịp thời về
18 quyền và nghĩa vụ. Trong giai đoạn điều tra, có nhiều trường hợp Cơ
quan điều tra không chủ động thông báo cho người bị hại và nguyên
đơn dân sự về kết quả điều tra Trong nhiều phiên tòa, người bị hại
chỉ được hỏi về mức yêu cầu bồi thường thiệt hại để tòa án quyết
định.
Thứ ba, những sai sót trong hoạt động lấy lời khai cũng làm ảnh
hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ khai báo của người bị hại
Thực tiễn tố tụng còn cho thấy nhiều trường hợp cơ quan THTT
làm thiệt hại thêm cho người bị hại bằng thái độ thiếu tôn trọng, đưa
ra câu hỏi thiếu tế nhị, áp đặt làm cho người bị hại bị tổn thương.
Thứ tư, công tác bảo vệ sự an toàn tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, tài sản cho người bị hại và nguyên đơn dân sự chưa tốt.
Thứ năm, do hạn chế về ý thức pháp luật của người bị hại và
nguyên đơn dân sự nên việc thực hiện quyền, nghĩa vụ chưa đầy đủ
trong khi cơ quan THTT không có những biện pháp để đảm bảo.
3.2. Quan điểm định hướng việc sửa đổi, bổ sung các quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về người bị thiệt hại
do tội phạm gây ra
3.2.1. Cải cách tư pháp ở Việt Nam với việc sửa đổi, bổ sung các
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về người bị thiệt hại
do tội phạm gây ra
Tranh tụng theo chủ trương cải cách tư pháp sẽ được hoàn thiện
hơn nếu có sự tham gia đầy đủ của hình thức buộc tội cá nhân bên
cạnh buộc tội nhân danh nhà nước.
3.2.2. Vấn đề bảo vệ quyền con người của người bị hại và xu
hướng lập pháp của các nước trên thế giới trước yêu cầu sửa đổi, bổ

1. Nguyên đơn dân sự là cá nhân, tổ chức đã bị tội phạm gián
tiếp gây ra thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và có đơn yêu cầu
bồi thường thiệt hại.
2. …
3.3.2. Kiến nghị bổ sung, sửa đổi Điều 51 và Điều 52 BLTTHS về
một số quyền, nghĩa vụ cơ bản của người bị hại và nguyên đơn dân
sự
Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung một số quyền của người bị hại có
nội dung buộc tội.
- Bổ sung vào khoản 2 Điều 51 BLTTHS quyền của người bị hại
“buộc tội đối với bị can, bị cáo”. Đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm đ
khoản 2 Điều 51: người bị hại có quyền “tham gia phiên tòa; trình
bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa về việc truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với bị cáo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.
- Sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 2 Điều 51 về phạm vi kháng cáo
phần trách nhiệm hình sự trong bản án. Nội dung đề nghị sửa đổi, bổ
sung điểm e khoản 2 Điều 51 như sau:…“kháng cáo bản án, quyết
định của Tòa án về phần bồi thường cũng như tội phạm bị xét xử và
hình phạt được tuyên đối với bị cáo”.
- Đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại cần sửa đổi,
bổ sung khoản 2 Điều 105 BLTTHS theo hướng mở rộng thời điểm
thực hiện quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án cho đến trước khi Hội
đồng xét xử sơ thẩm nghị án. Nội dung đề nghị cụ thể như sau:
Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án
phải được đình chỉ. Tại phiên tòa sơ thẩm, nếu người yêu cầu rút yêu
cầu trước khi nghị án thì phải chịu án phí hình sự theo quy định.
21 Thứ hai, sửa đổi, bổ sung quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của

- Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 51 và điểm b khoản 2
Điều 52 BLTTHS như sau: Quyền được nhận kết luận điều tra và kết
quả các hoạt động điều tra khác; bản sao các quyết định: khởi tố vụ
án, khởi tố bị can, đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra, nhập hoặc
tách vụ án để điều tra; bản sao cáo trạng và quyết định đình chỉ
hoặc tạm đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát.
Để quyền của người bị hại và nguyên đơn dân sự được đảm bảo
thực hiện, cần bổ sung nghĩa vụ của cơ quan THTT giao bản sao các
quyết định và các loại văn bản trên cho người bị hại, nguyên đơn dân
sự tại các Điều 117, Điều 160 (đối với nguyên đơn dân sự), Điều
162, Điều 166.
- Bổ sung quyền được thông báo về những người tiến hành tố
tụng, người giám định, người phiên dịch tại điểm c khoản 2 Điều 51
và điểm c khoản 2 Điều 52.
- Bổ sung quyền nhờ người bảo vệ quyền lợi của người bị hại và
nguyên đơn dân sự tại khoản 2 Điều 51 và khoản 2 Điều 52. Để đồng
bộ, khoản 1 Điều 59 nên sửa lại: Người bảo vệ quyền lợi của đương
sự là luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được người
bị hại, nguyên đơn dân sự… nhờ bảo vệ quyền lợi cho mình và được
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chấp nhận.
- Bổ sung vào khoản 2 Điều 51 như sau: người bị hại là người
chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất,
nếu có yêu cầu nhưng không tự mời được người bảo vệ quyền lợi thì
theo đề nghị của họ hoặc người đại diện hợp pháp, cơ quan THTT có
23 trách nhiệm mời người bảo vệ quyền lợi từ nguồn ngân sách nhà
nước
1

hại, cần bổ sung thủ tục trình bày lời buộc tội tại phiên tòa của người
bị hại (khoản 3 Điều 51). Cụ thể: “Trong trường hợp vụ án được khởi
tố theo yêu cầu người bị hại quy định tại Điều 105 của Bộ luật này
thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời
buộc tội tại phiên tòa sau khi kết thúc việc xét hỏi”.
Thứ ba, sửa đổi trình tự xét hỏi (Điều 207 BLTTHS). Khoản 2
Điều 207 BLTTHS cần được sửa đổi như sau: “Khi xét hỏi từng
người, Kiểm sát viên hỏi trước rồi đến người bảo vệ quyền lợi của
người bị hại. Những người tham gia tố tụng có lợi ích bị tội phạm
gây ra thiệt hại có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về
những tình tiết của vụ án. Tiếp theo là người bào chữa hỏi; bị cáo,
người đại diện hợp pháp hoặc có nghĩa vụ bồi thường có quyền đề
nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết của vụ án. Người
giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám
định. Thẩm phán và các hội thẩm tham gia xét hỏi nếu thấy cần
thiết”.
Thứ tư, sửa đổi bổ sung trình tự phát biểu khi tranh luận (Điều
217 BLTTHS. Điều 217 cần được sửa như sau:
1. Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, kiểm sát viên trình
bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử
tuyên bố bị cáo không có tội (giữ nguyên đoạn 1 khoản 1 Điều 217,
bỏ đoạn 2 khoản 1 điều 217).
Nếu vụ án khởi tố theo yêu cầu người bị hại thì người bị hại trình
bày lời buộc tội trước, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội sau.
25 2. Người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời
buộc tội bổ sung và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nếu có người bảo
vệ quyền lợi thì người này phát biểu trước. Nguyên đơn dân sự trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status