BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ NGƯỜI BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI - SO SÁNH GIỮA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM, ĐỨC VÀ MỸ - Pdf 31

Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUND, THỤY ĐIỂN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học:
KHOA LUẬT
ĐẠI HỌC LUND

ĐẠI HỌC LUẬT
TP. HỒ CHÍ MINH

GS.TS. PER-OLE TRÄSKMAN
PGS.TS. NGUYỄN THÁI PHÚC

LƯƠNG THỊ MỸ QUỲNH

Phản biện 1: PGS. TS. Christoffer Wong
BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ NGƯỜI BÀO CHỮA CỦA

Phản biện 2: GS. TS. Hồ Trọng Ngũ

NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI - SO SÁNH GIỮA LUẬT TỐ

Phản biện 3: GS. TS. Terttu Utriainen

TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM, ĐỨC VÀ MỸ
Chuyên ngành: Luật quốc tế và Luật so sánh
Mã số: 62.38.60.01

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Nhà nước, tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Vào hồi 13 giờ 30 ngày 25 tháng 11 năm 2011

thiện pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm
quyền có người bào chữa”, Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp (số 23/2011)


1

2

MỞ ĐẦU

động tranh tụng tại phiên tòa xét xử hình sự, trong đó, nhấn mạnh

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bảo đảm quyền con người và hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực
tố tụng hình sự (TTHS) là vấn đề đang được các quốc gia quan tâm.
Tuy nhiên, một trong những khó khăn mà các nước gặp phải trong
quá trình hoàn thiện pháp luật là bảo đảm sự cân bằng giữa các mục
tiêu của TTHS, đó là việc cân bằng giữa nhiệm vụ xử lý tội phạm và
duy trì tính nghiêm minh của pháp luật với việc bảo đảm và không vi
phạm các quyền tố tụng của người bị buộc tội. Thực tiễn cho thấy, ở
không ít các quốc gia, quyền tố tụng của người bị buộc tội, trong đó
có quyền có người bào chữa (NBC) vẫn chưa được bảo đảm trọn vẹn,
thậm chí bị vi phạm.
Tại Việt Nam, thực tế giải quyết vụ án hình sự cho thấy vẫn còn
tồn tại tình trạng oan sai, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, cụ thể là quyền có NBC trong vụ án hình sự. Thực tế
này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do những quy
định của pháp luật chưa thực sự thống nhất, còn chồng chéo, mâu



quyền có NBC của ba quốc gia là cần thiết và có cơ sở.

TTHS nói riêng. Tương tự nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đã và
đang tiến hành cuộc cải cách tư pháp toàn diện về tư pháp hình sự.

nhận quyền có NBC là quyền tố tụng cơ bản của người bị buộc tội và

Nghị Quyết số 08/NQ/TW ngày 2/1/2002 và Nghị Quyết số
49/NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính Trị đã chủ trương một trong

có một số điểm bất cập trong các quy định đó cần phải được phân

những nhiệm vụ trọng tâm của công tác cải cách đó là mở rộng hoạt

phạm pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm các quyền tố tụng của
tâm hàng đầu. Do đó, việc tìm hiểu, so sánh cơ chế pháp lý bảo đảm
Thứ hai, luật tố tụng hình sự của Việt Nam, Đức và Mỹ đều ghi
cần thiết phải bảo đảm. Bên cạnh những thành công về mặt lập pháp,
tích, làm sáng tỏ và cần được hoàn thiện. Đối với Việt Nam, những


3

4

khó khăn, vướng mắc trong nhận thức cũng như trong thực tiễn áp

tội được bảo đảm như thế nào trong TTHS của Việt Nam, Đức và



Mục đích thứ hai của luận án là đề xuất những giải pháp phù
hợp và khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành
về bảo đảm quyền có NBC, góp phần nâng cao hiệu quả của quá
trình giải quyết vụ án hình sự, đáp ứng tốt nhiệm vụ xử lý tội phạm
và bảo đảm quyền con người trong TTHS.
Với hai mục đích nêu trên, đề tài nghiên cứu sẽ giải quyết những
nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu so sánh các quan điểm khoa học, quan
điểm lịch sử về đảm bảo quyền có NBC và làm rõ cơ sở lý luận
chung về bảo đảm quyền này trong TTHS.
Thứ hai, làm sáng tỏ nội dung những quy định hiện hành của
pháp luật quốc tế, của luật TTHS Việt Nam, Đức và Mỹ về bảo đảm
quyền có NBC trong sự so sánh để thấy được những điểm tương
đồng và khác biệt, đồng thời lý giải sự tương đồng và khác biệt. Bên
cạnh đó, phân tích và chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế
của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về bảo đảm quyền có NBC.
Thứ ba, tìm hiểu và đánh giá thực trạng bảo đảm quyền có NBC
ở Việt Nam, Đức và Mỹ trong sự so sánh để thấy được những hiệu
quả và khó khăn trong việc áp dụng pháp luật ở mỗi quốc gia.
Cuối cùng, trên cơ sở nghiên cứu nền tảng lý luận và pháp luật
hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật của Đức và Mỹ về
bảo đảm quyền có NBC, đề tài nghiên cứu đề xuất những giải pháp
nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam, nâng cao hiệu
quả bảo đảm quyền có NBC của người bị buộc tội.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiếp cận và thực hiện dưới góc độ luật
TTHS và so sánh luật. Những nghiên cứu trong luận án tập trung làm



trở nên lạc hậu, không còn tính thời sự. Ở quy mô lớn hơn, đã có

quốc gia so với những chuẩn mực quốc tế.
4. Tình hình nghiên cứu

những nhóm chuyên gia tiến hành nghiên cứu về thực trạng hoạt
động của luật sư trong TTHS, tuy nhiên việc nghiên cứu cũng chỉ

Quyền có NBC của người bị buộc tội được ghi nhận từ rất sớm
trong lịch sử TTHS thế giới cũng như trong TTHS Việt Nam. Theo

dừng ở mức độ khảo sát số liệu.
Mặc dù vậy, kết quả từ những nghiên cứu trên đã giúp làm sáng

quy định của pháp luật Việt Nam, quyền có NBC được ghi nhận
trong Hiến pháp và Bộ luật TTHS như là một nguyên tắc cơ bản định

tỏ quy định của luật TTHS về bảo đảm quyền bào chữa nói chung,
cũng như chỉ ra tương đối những bất cập còn tồn tại. Tuy nhiên, các

hướng các hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng
(THTT). Mặc dù vậy, việc bảo đảm quyền này trong thực tế còn tồn

nghiên cứu trên vẫn chưa tiếp cận trực tiếp và toàn diện về bảo đảm
quyền có NBC, nhất là hầu như chưa đề cập tới góc nhìn quốc tế về

tại nhiều hạn chế, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều quốc gia khác
trên thế giới. Trên thực tế, việc nghiên cứu nhằm tìm kiến những giải

bảo đảm quyền này.

gia trên thế giới, đặc biệt là Đức và Mỹ. Vì vậy, việc nghiên cứu toàn


7

8

diện về quyền có NBC của người bị buộc tội cũng như các cơ chế

việc tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt mà còn giúp cho

pháp lý bảo đảm quyền trong sự so sánh và đối chiếu với pháp luật
nước ngoài là thực sự cần thiết và có ý nghĩa.

việc hiểu biết và đánh giá toàn diện một hệ thống pháp luật. Kết quả

5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và để thực

từng hệ thống pháp luật. Kết quả nghiên cứu so sánh cho thấy không

hiện tốt những nhiệm vụ đã đặt ra của đề tài, những phương pháp
chung được áp dụng để nghiên cứu là: phương pháp phân tích và

bảo đảm quyền có NBC, và việc học hỏi những kinh nghiệm lẫn nhau

phương pháp tổng hợp.
Nhiệm vụ của khoa học nói chung và khoa học pháp lý nói riêng

quả từ việc so sánh, đối chiếu với pháp luật TTHS Đức và Mỹ, tác

6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận án
Đây là một trong những công trình khoa học ở cấp độ tiến sĩ tiếp

pháp luật của 3 quốc gia lựa chọn (Việt Nam, Đức và Mỹ) về bảo
đảm quyền có NBC. Áp dụng phương pháp này trong việc nghiên

cận một cách toàn diện về bảo đảm quyền có NBC của người bị buộc tội

cứu, chúng tôi mong muốn đưa ra một cách nhìn toàn diện về quy
định của những hệ thống pháp luật điển hình về bảo đảm quyền có

mới như sau:

NBC, đồng thời đề xuất những giải pháp phù hợp cho việc hoàn thiện
pháp luật Việt Nam.
Phương pháp so sánh luật học là phương pháp mang tính đặc thù
của luận án. Việc so sánh giữa các hệ thống pháp luật không chỉ là

dưới góc độ so sánh luật TTHS. Đề tài nghiên cứu có những đóng góp
1. Khái quát các quan điểm lịch sử về sự hình thành quyền có
NBC. Làm rõ mối liên hệ mang tính quy luật khách quan giữa bảo
đảm quyền có NBC với khái niệm về tố tụng công bằng (Due process
of law) và nguyên tắc nền tảng về quyền được xét xử công bằng


9
(Right to fair trial) trong TTHS. Chỉ ra được mối liên hệ giữa bảo
đảm quyền có NBC và bảo đảm tính công bằng, khách quan trong

10

thủ tục xét xử đối với người bị buộc tội;

pháp luật.
4. Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam

- Sự tham gia của NBC gắn liền với lịch sử hình thành của phiên

về bảo đảm quyền có NBC dựa trên việc tiếp thu có chọn lọc những

tòa tranh tụng (một điểm đặc trưng của mô hình tranh tụng -

kinh nghiệm của Đức và Mỹ. Đồng thời kiến nghị một số biện pháp

adversarial model). NBC có vai trò hỗ trợ người bị buộc tội tại phiên

nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng luật bảo đảm quyền có NBC ở

tòa để chống lại sự cáo buộc của nhà vua. Mô hình này xuất hiện từ

Việt Nam.

những năm đầu của thế kỷ 12 ở Anh và phát triển mạnh mẽ vào thế

7. Cơ cấu của luận án

kỷ 16, 17. Những yếu tố lịch sử này cho thấy, quyền có NBC là bước

Cơ cấu của luận án được xây dựng phù hợp với mục đích, đối

phát triển của quyền tự bào chữa.

khái niệm nền tảng về thủ tục công bằng (Due process of Law),

trong TTHS, câu hỏi tìm hiểu mục đích của quyền này cần được lý

nguyên tắc về quyền được xét xử công bằng (Right to fair trial) và

giải. Quan điểm của nhiều nhà khoa học đều cho thấy, quyền có NBC

vấn đề bảo đảm quyền có NBC. Thủ tục công bằng là một khái niệm

cần được bảo đảm nhằm:

mang tính lịch sử, gắn liền với nhiều cuộc đấu tranh của người dân đi

- Trao những cơ hội bình đẳng cho người bị buộc tội, vì bản thân

tìm sự công bằng trước những quy định và thủ tục hà khắc của nhà

tư cách tố tụng của họ là biểu thị sự không bình đẳng trước sự cáo

vua. Trong hoạt động xử lý người phạm tội, yêu cầu về một thủ tục

buộc của cơ quan có thẩm quyền;

công bằng là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền lợi của người bị buộc tội
trước những cáo buộc của nhà nước.
Khái niệm về thủ tục công bằng đã tạo nền tảng cho sự hình

- Cung cấp NBC nhằm bảo vệ những quyền con người của
người bị buộc tội khi họ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế

và không thiên vị; được trao những cơ hội ngang bằng với bên buộc

quyền con người; Hiến chương Châu Phi về quyền công dân và các

tội trong vụ án về việc thu thập và trình bày các chứng cứ bào chữa;

dân tộc. Bên cạnh đó, những văn bản, kết luận của các Tổ chức và

được tranh luận ngang bằng tại phiên tòa v.v…

các Tòa án thực thi các Công ước cũng được xem xét nhằm làm sáng

Với luận điểm trên, tác giả đã làm rõ mối liên hệ giữa bảo đảm

tỏ những nộ dung bảo đảm quyền có NBC trong phạm vi pháp luật

quyền có NBC với nguyên tắc về thủ tục công bằng và nguyên tắc

quốc tế.

xét xử công bằng. Đây là mối liên hệ giữa vấn đề nền tảng và kết quả

1.2.2. Nội dung bảo đảm quyền có NBC trong các văn bản pháp lý

cụ thể. Quyền có NBC của người bị buộc tội khó có thể được bảo

quốc tế

đảm trọn vẹn nếu như có sự vi phạm hai nguyên tắc trên. Ngược lại,
yếu tố công bằng trong TTHS chỉ được tuân thủ khi quyền có NBC

trong các văn bản pháp lý quốc tế. Trên thực tế, những khía cạnh bảo
đảm quyền được giải thích cụ thể hơn trong các bản án của các Tòa
án xét xử việc thực thi các quy định của Công ước. Mặc dù vậy,
những nội dung trên sẽ là tiêu chí để đối chiếu, so sánh và đánh giá
các hệ thống pháp luật lựa chọn.
Chương 2
BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1. Pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền có
NBC của người bị buộc tội
2.1.1. Khái quát về TTHS Việt Nam
Một trong những yếu tố tạo nên sự khác biệt về cơ chế bảo đảm
quyền có NBC giữa các hệ thống pháp luật là những đặc thù về mô
hình TTHS. Trong nội dung này, tác giả đã mô tả và khắc họa những
điểm đặc trưng về trình tự giải quyết vụ án hình sự theo quy định của
pháp luật TTHS Việt Nam. Pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng của
hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa với truyền thống pháp luật thành

mang những đặc thù sau:
- Hoạt động tố tụng được thực hiện bằng cách thức thẩm tra. Kết
quả của việc chứng minh tội phạm được thể hiện bằng các quyết
định, đó là bản kết luận điều tra của cơ quan Điều tra và cáo trạng
của Viện Kiểm sát.
- Phiên tòa được ví như cuộc điều tra công khai. Chứng cứ thu
thập phải được điều tra lại tại phiên tòa, gánh nặng xét hỏi do tòa án
đảm nhận. Thẩm phán giữ vai trò chủ động trong việc xét xử. Phán
quyết của Hội đồng xét xử được đưa ra trên cơ sở niềm tin nội tâm
của tòa án về sự thật khách quan của vụ án, mà không chỉ đơn thuần
là kết quả tranh tụng công bằng của các bên (bên buộc tội và bên bào
chữa) như mô hình tố tụng tranh tụng.

2.1.2.1. Giai đoạn từ 1955 đến 1988 (trước khi BLTTHS có hiệu
lực)

sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người đại diện hợp pháp của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đối tượng

Trong giai đoạn này, về cơ bản, quyền có NBC vẫn chỉ được áp
dụng trong giai đoạn tại phiên tòa. Lần đầu tiên pháp luật ghi nhận

tham gia bào chữa cho người bị buộc tội phổ biến trong vụ án hình sự
chủ yếu là đội ngũ luật sư. Trong khi đó, các quy định của Bộ luật

trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) trong việc bảo
đảm quyền có NBC lần đầu tiên được ghi nhận (Điều 101, Hiến pháp

TTHS chưa thực sự hỗ trợ cho luật sư cũng như những NBC khác
phát huy được chức năng bào chữa trong vụ án. Thực tế cho thấy chất

1959). Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã đề cập đến nghĩa vụ chỉ định
NBC đối với những bị cáo là người chưa thành niên (Thông tư số 16-

lượng NBC cũng là một trong những vấn đề ảnh hưởng đến hiệu quả
bào chữa.

TATC ngày 27/08/1974 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ
thể về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm). Đồng thời trong giai đoạn

2.2.3. Trách nhiệm của cơ quan THTT trong việc bảo đảm quyền
bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo


10 Bộ luật TTHS 2003). Theo đó, người bị buộc tội được bảo đảm có
NBC ngay từ khi có quyết định tạm giữ. Quyền này được bảo đảm trong

cấp giấy chứng nhận bào chữa và tạo điều kiện để NBC gặp gỡ thân
chủ của mình đang bị tạm giữ, tạm giam v.v... hay những quy định về

các quá trình điều tra, truy tố, xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm).
2.2. Pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về bảo đảm quyền có

trách nhiệm đảm bảo quyền được tranh luận công bằng tại phiên tòa
xét xử v.v... Mặc dù vậy, Bộ luật vẫn chưa ghi nhận quyền được im

người bào chữa của người bị buộc tội
2.2.1. Quyền có người bào chữa là quyền cơ bản của người bị buộc

lặng của người bị buộc tội, cũng như trách nhiệm của cơ quan THTT
trong việc giải thích quyền được im lặng và quyền không phải khai


17

18

báo những chứng cứ chống lại mình. Đây là một thiết xót cần được

Bên cạnh những kết quả đạt được, vấn đề bảo đảm quyền có

xem xét để bổ sung.
2.3. Thực tiễn đảm bảo quyền có người bào chữa của người bị


cũng còn nhiều bất cập. Các quy định chưa hợp lý của Bộ luật TTHS
chưa thực sự tạo điều kiện cho NBC tham gia bào chữa hiệu quả, ví

(2006) và Luật trợ giúp pháp lý (2006) cũng tạo nên những nền tảng
pháp lý vững chắc cho hoạt động bào chữa.

dụ những quy định về cấp giấy chứng nhận bào chữa; quyền được
thông báo về thời điểm và nơi trốn hỏi cung bị can; quy định về

2.3.1.2. Những kết quả đạt được từ hoạt động áp dụng pháp luật
- Tinh thần cải cách tư pháp đã có ý nghĩa tác động tích cực đến

quyền được thu thập tài liệu liên quan đến việc bào chữa; quyền được
gặp gỡ thân chủ đang bị giam giữ; vấn đề về thù lao cho NBC định

thái độ và tư duy của đội ngũ những người THTT. NBC được tạo
điều kiện thuận lợi hơn khi tham gia tố tụng trong các giai đoạn điều

còn chưa phù hợp v.v...
2.3.2.2. Những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật:

tra, truy tố, xét xử.
- Chất lượng luật sư bào chữa cũng được chú trọng, tạo hiệu quả

Nội dung này phản ánh thái độ trình độ và tư duy mang tính tiêu
cực của đội ngũ những người THTT đối với việc nhìn nhận vai trò

trong công tác bào chữa, nâng cao chất lượng xét xử vụ án. Báo cáo
của TANDTC và các Đoàn luật sư cho thấy, sự tham gia bào chữa


được chỉ định người NBC.

dung cơ bản sau:
- Quyền có người bào chữa là một quyền Hiến pháp. Quyền này

Có thể nói, quyền có người bào chữa theo quy định của pháp
luật Việt Nam được bảo đảm khá đầy đủ và phù hợp với các nội dung

được Bộ luật TTHS ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản định hướng
đối với các hoạt động tố tụng của cơ quan THTT.

trong các Công ước quốc tế về quyền con người. Tuy nhiên, trong
những điều luật cụ thể, vẫn còn tồn tại những điểm chưa rõ ràng,

- Thời điểm phát sinh quyền có người bào chữa còn quy định
khá hạn chế. Quyền này chỉ được áp dụng khi một người nhận được

thống nhất, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn còn gặp
nhiều khó khăn, ví dụ như các quy định về quyền của NBC khi tham

quyết định khởi tố bị can. Trong trường hợp vụ án có người bị bắt và
bị tạm giữ, NBC có quyền tham gia khi có quyết định tạm giữ. Đối

gia tố tụng. Những vướng mắc này cần sớm được bổ sung, sửa đổi
nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người bị buộc tội. Nội dung của

với tội xâm phạm an ninh quốc gia, người bào chữa chỉ có thể tham
gia từ khi kết thúc điều tra. Quyền có NBC được bảo đảm trong các

Chương 2 đã chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong quy định của

không là bắt buộc nếu bị can, bị cáo đã tự nhờ người bào chữa. Trong

phạm vi toàn liên bang và các bang.

trường hợp này, người bị buộc tội vẫn có quyền tự yêu cầu thay đổi
hoặc từ chối người bào chữa do cơ quan THTT chỉ định.

chỉnh trong lĩnh vực hình sự và TTHS được quy định thống nhất trên
Pháp luật Đức có nguồn gốc của pháp luật Châu Âu lục địa,
nguồn luật áp dụng là Hiến pháp và các đạo luật, trong đó Bộ luật
TTHS (StPO) đóng vai trò là nguồn luật chính điều chỉnh các hoạt
động TTHS. Bên cạnh đó, Công ước Châu Âu về quyền con người,


21

22

các bản án của Tòa án nhân quyền Châu Âu cũng như những văn bản

3.2. Những khía cạnh bảo đảm quyền có NBC trong TTHS Đức

của Liên minh Châu Âu (Hiến Chương về quyền con người 2007)

3.2.1. Thời điểm đảm bảo quyền

hiện tại cũng có giá trị áp dụng như nguồn luật chính ở Đức về các

Thực tế cho cho thấy, việc không cho phép NBC có mặt trong


lặng và không phải khai báo những chứng cứ bất lợi cho họ. Đây là

hình tố tụng, và ghi nhận nhiều yếu tố của mô hình tố tụng tranh

một trong những điểm khác biệt giữa TTHS Đức và TTHS Việt Nam.
3.2.2. Bào chữa bắt buộc và chỉ định NBC
Điểm đặc trưng của TTHS Đức là đề cao tuyệt đối sự tham gia
của NBC trong một số trường hợp như: người bị buộc tội bị truy tố
mức hình phạt nghiêm trọng; người chưa thành niên; người có nhược
điểm về thể chất hoặc tinh thần và một số trường hợp ngoại lệ khác.
Chính vì vậy, chế định về NBC bắt buộc được tuân thủ rất cứng nhắc,
thậm chí tước bỏ quyền từ chối NBC của người bị buộc tội. Tương
ứng với tính chất bắt buộc, cơ quan THTT có nghĩa vụ chỉ định NBC
ngay cả khi người bị buộc tội không yêu cầu. Nghĩa vụ này cũng
được áp dụng với những trường hợp người bị buộc tội không có khả
năng tự thuê NBC.

tụng. Mặc dù vậy, cách thức giải quyết vụ án vẫn mang những
đặc trưng của hệ tố tụng thẩm vấn. Cảnh sát và công tố viên
đóng vai trò chính trong hoạt động điều tra tiền xét xử. Tòa án
mở phiên tòa dựa trên đề nghị truy tố của công tố viên. Thẩm
phán đóng vai trò chủ động và điểu khiển phiên tòa thẩm tra với
sự tham gia của hội thẩm. Nhìn chung, những quy định về thủ
tục TTHS Đức có nhiều điểm tương đồng với pháp luật Việt
Nam. Quyền có NBC được bảo đảm không chỉ bởi các quy định
của pháp luật TTHS Đức mà còn được bảo đảm theo các chuẩn
mực quốc tế. Chính vì vậy, người bị buộc tội và NBC của họ
được trang bị khá đầy đủ để tham gia hoạt động bào chữa. Tuy
vậy, vai trò của NBC ở Đức mới chỉ thực sự được nhìn nhận
đúng đắn trong hoạt động xét xử tại phiên tòa. Một số quyền của


Tuy nhiên quyền này bị giới hạn nếu NBC do chỉ định trong các
trường hợp bắt buộc sự tham gia của NBC.

luật của liên bang, pháp luật của bang cũng được đề cập để đối chiếu
và làm rõ những quy định liên quan.

3.2.5. Những bảo đảm việc bào chữa hiệu quả
Những khía cạnh bảo đảm hiệu quả quyền có NBC bao gồm:

Pháp luật Mỹ có nguồn gốc của hệ thống thông luật. Do đó, bên
cạnh Hiến pháp, bản án (án lệ) của Tòa án tối cao Mỹ là nguồn luật

3.2.5.1. Quyền được tiếp cận với hồ sơ vụ án
3.2.5.2. Quyền được cung cấp khoảng thời gian hợp lý và điều

chủ đạo.
4.1.2. Hệ thống tư pháp đối tụng

kiện thuận lợi để chuẩn bị việc bào chữa
3.2.5.3. Quyền trao đổi giữa NBC và thân chủ (người đang bị

Yếu tố đối tụng công bằng là một đặc trưng của TTHS Mỹ. Nội
dung này đề cao việc bảo đảm quyền lợi của cá nhân khi tham gia

giam giữ)
3.3 Những vướng mắc trong pháp luật TTHS Đức về bảo đảm

TTHS. Cụ thể là biểu đạt sự bảo đảm tranh tụng công bằng giữa cá
nhân người bị buộc tội trước sự cáo buộc của nhà nước.

Chương 4
BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỸ
4.1. Khái quát về TTHS Mỹ

thứ 6 và được cụ thể hóa trong các bản án của Tòa án Tối cao Mỹ và
trong một số Đạo luật liên quan. Nội dung của phần này là sự hệ
thống hóa các án lệ điển hình của Tòa án Tối cao Mỹ về quyền có
NBC. Bằng phương pháp lịch sử, tác giả đã mô tả khái quát, đồng


25

26

thời phân tích những bước tiến trong việc ghi nhận quyền có NBC

Một trong những ưu điểm tiến bộ của TTHS Mỹ là chính sách hỗ trợ

trong TTHS Hoa Kỳ. Nội dung này đã được tác giả sử dụng làm cơ
sở nghiên cứu các khía cạnh bảo đảm quyền ở phần tiếp theo.

cho các bị cáo là người nghèo. Theo đó, người nghèo được cung cấp NBC
miễn phí bởi các quỹ bào chữa công. Tuy nhiên, việc xem xét và xác định

4.2.2. Những khía cạnh bảo đảm quyền có NBC
4.2.1.1. Thời điểm áp dụng quyền

yếu tố ‘nghèo’ hay ‘không nghèo’ cũng như việc tìm kiếm nguồn quỹ cho
chính sách nhân đạo này đã và đang là một trong những khó khăn thách


nghèo; tình trạng quá tải về các vụ việc bào chữa miễn phí đã dẫn đến
chữa; các điều kiện hỗ trợ luật sư tham gia bào chữa vẫn còn nhiều
xuất nhiều giải pháp để khắc phục những tình trạng trên. Đây là
những kinh nghiệm đáng học hỏi.
Chương 5

chối NBC. Việc từ chối chỉ được chấp nhận với điều kiện người bị buộc
tội từ chối NBC phải tự nguyện và minh mẫn. Thậm chí, nếu họ tiếp tục

ĐÁNH GIÁ SO SÁNH VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

có nhu cầu được chỉ định NBC, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành chỉ
định NBC cho họ. Mặc dù vậy, việc lựa chọn NBC trong các trường hợp

NGƯỜI BÀO CHỮA

chỉ định cũng bị hạn chế.
4.2.1.3. Người bảo chữa hiệu quả
TTHS Mỹ rất đề cao tính hiệu quả của NBC. Theo quan điểm của
nhà làm luật, quyền có NBC phải bảo hàm quyền có NBC hiệu quả. Tính
hiệu quả được đánh giá ở trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp của
NBC. Việc cung cấp NBC không thỏa mãn những điều kiện trên bị xem là
sự vi phạm quyền Hiến pháp về quyền có NBC.
4.2.1.4. Chi phí bào chữa

PHÁP LUẬT TTHS VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ
Nội dung của Chương 5 gồm hai phần chính. Thứ nhất là những
đánh giá so sánh về đảm bảo quyền có NBC trong 3 hệ thống pháp
luật Việt Nam, Đức và Mỹ. Hai là những kiến nghị nhằm hoàn thiện

- Quy định bổ sung Điều luật về quyền từ chối NBC theo hướng:
quy định người bị buộc tội có quyền từ chối quyền có NBC (trừ

5, những kết luận so sánh sẽ được phân tích đan xen trong từng tiêu
chí cụ thể.

trường hợp người bị buộc tội là người chưa thành niên, người có
nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất); quy định các cơ quan THTT

5.2 Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về
bảo đảm quyền có NBC

có nghĩa vụ giải thích những hậu quả của việc từ chối quyền có NBC;
việc từ chối NBC phải đảm bảo trong điều kiện người từ chối minh

Dựa trên kết quả đánh giá ở mục 5.1., kết hợp với việc xem xét
các điều kiện và hoàn cảnh của pháp luật Việt Nam, tác giả đã xây

mẫn và tự nguyện; việc từ chối phải lập thành văn bản có chữ ký của
người từ chối và xác nhận của cơ quan THTT).

dựng và đưa ra những kiến giải phù hợp ở hai mức độ, đó là những
giải pháp mang tính định hướng và những giải pháp cụ thể.

- Mở rộng đối tượng được chỉ định NBC đối với người bị truy tố
ở khung hình phạt 20 năm tù và tù chung thân.

5.2.1 Những kiến nghị mang tính định hướng
Những kiến nghị tập trung vào 3 vấn đề:


thuận lợi cho NBC khi tham gia vụ án. Cụ thể là:
Một là, cần phải quy định lại Điều 58, khoản 2(b) Bộ luật TTHS

nhưng không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội”.

theo hướng cơ quan THTT có nghĩa vụ phải thông báo trước về thời


29

30

gian và địa điểm hỏi cung bị can. NBC có quyền được thông báo mà

được trình bày trong Chương 5 cũng đã kết thúc việc nghiên cứu của

không chỉ là quyền đề nghị được thông báo như quy định hiện hành.
Hai là, quy định nghĩa vụ của cơ quan THTT trong việc tiếp

tác giả tại thời điểm này. Hy vọng những đề xuất trên sẽ có ý nghĩa
trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền có NBC.

nhận chứng cứ do NBC cung cấp, và trách nhiệm của cơ quan THTT
phải hỗ trợ NBC trong việc liên hệ với các cơ quan, tổ chức hoặc cá

Tp. Hồ Chí Minh, 10/2011

nhân tạo điều kiện thuận lợi để thu thập chứng cứ. Đồng thời quy
định NBC có quyền được nhận thông báo về việc trưng cầu giám


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status