Biện pháp ngăn chặn bắt người phạm tội quả tang trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 25

Biện pháp ngăn chặn bắt người phạm tội quả
tang trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam

Nguyễn Thị Huân

Khoa Luật
Luận văn ThS. Luật hình sự; Mã số: 60 38 40
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trịnh Quốc Toản
Năm bảo vệ: 2013

Abstract. Nghiên cứu những quy định lý luận về pháp lý để làm rõ khái niệm, đặc điểm,
yêu cầu, nguyên tắc và cơ sở pháp lý của công tác bắt người phạm tội quả tang. Phân tích
thực trạng các quy định và thực trạng áp dụng các Biện pháp ngăn chặn bắt người phạm
tội quả tang trong Trách nhiệm hình sự qua đó đưa ra những điểm khác biệt giữa bắt
người phạm tội quả tang với bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người đang bị truy
nã cũng như các trường hợp bắt người khác trong Trách nhiệm hình sự và đưa ra đánh giá
có cần thiết phải tách riêng quy định rõ ràng và các nhận xét về ưu điểm, những hạn chế
của công tác bắt người phạm tội quả tang ở nước ta trong thời gian qua. Trên cơ sở đó
tổng hợp kết quả nghiên cứu, dự báo tình hình và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả công tác bắt người phạm tội quả tang trong thời gian tới.
Keywords. Luật hình sự; Pháp luật Việt Nam; Người phạm tội
Content.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự (TTHS), các biện pháp
ngăn chặn (BPNC) chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, vì nó giúp cơ quan tiến hành tố tụng
có điều kiện thuận lợi để giải quyết vụ án hình sự. Việc áp dụng đúng đắn, chính xác các
BPNC đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của hoạt động TTHS để
phát hiện nhanh chóng, ngăn chặn và xử lý kịp thời nghiêm minh đối với người phạm tội,
không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Trong những BPNC thì biện pháp
bắt người chiếm vị trí quan trọng nhất và được áp dụng thường xuyên để đấu tranh và
phòng chống tội phạm. Việc bắt người luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị -

- Nghiên cứu những quy định lý luận về pháp lý để làm rõ khái niệm, đặc điểm, yêu cầu,
nguyên tắc và cơ sở pháp lý của công tác bắt người phạm tội quả tang;
- Phân tích thực trạng các quy định và thực trạng áp dụng các BPNC bắt người phạm
tội quả tang trong TTHS qua đó đưa ra những điểm khác biệt giữa bắt người phạm tội
quả tang với bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người đang bị truy nã cũng như
các trường hợp bắt người khác trong TTHS và đưa ra đánh giá có cần thiết phải tách
riêng quy định rõ ràng và các nhận xét về ưu điểm, những hạn chế của công tác bắt người
phạm tội quả tang ở nước ta trong thời gian qua;
- Trên cơ sở đó tổng hợp kết quả nghiên cứu, dự báo tình hình và đề xuất một số
kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bắt người phạm tội quả tang trong
thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm những nội dung sau: Những vấn đề lý
luận về BPNC bắt người, bắt người phạm tội quả tang theo pháp luật TTHS Việt Nam; cơ
sở pháp lý quy định áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người phạm tội quả tang trong luật
TTHS; thực trạng áp dụng những quy định về biện pháp bắt người phạm tội quả tang
trong thời gian qua và một số kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả công tác áp dụng
BPNC bắt người phạm tội quả tang trong thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu: dựa trên nguồn văn bản pháp luật về TTHS và các văn bản pháp
luật khác từ những năm 1957 đến nay; dựa trên các báo cáo tổng kết về công tác bắt, tạm
giam, tạm giữ của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) Tối cao từ năm 2008 đến 2012; báo
cáo hoạt động trong công tác bắt giữ người phạm tội của Bộ công an, Bộ Quốc Phòng
trong năm 2010 và 2011; một số vụ bắt phạm tội quả tang và xét xử trong những năm gần
đây.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và các quy định của pháp luật của Nhà nước về đấu
tranh phòng, chống tội phạm. Ngoài ra, luận văn cũng dựa trên các phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành Luật hình sự, TTHS và các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: sử dụng
phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp thống kê và

Viện Kiểm sát nhân dân, Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân trong công tác bảo vệ Đảng
và xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên.
4. Bộ Công an (1992), Công văn số 318/CV-BNV (V11) ngày 29/3/1992 của Bộ Công
an trong về việc báo cáo xin ý kiến trước khi bắt, giam giữ một số đối tượng đặc
biệt.
5. Bộ Công an (1998), Chỉ thị số 11/1998-CT về tăng cường chỉ đạo công tác bắt, tạm
giữ, tạm giam và thi hành án phạt tù trong tình hình mới.
6. Bộ Công an (2002), Kế hoạch 866/BCA (ĐA-3) ngày 15/6/2002 của Ban Chủ nhiệm
Đề án 3 Bộ Công an đấu tranh phòng chống các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm
hình sự nguy hiểm và tội phạm có tính quốc tế ở khu vực biên giới, vùng biển - đảo.
7. Bộ Công an (2007), Quyết định số 1044/QĐ - BCA (C11) ngày 05/9/2007 về phân
công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong hoạt động điều tra của cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an các cấp.
8. Bộ Công an -Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1963), Thông tư liên Bộ Công an -
Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 427/TT-LB ngày 28/6/1963 quy định tạm thời một
số nguyên tắc về quan hệ công tác giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ công
an.
9. Bộ Tư pháp (1957), Tập luật lệ về tư pháp, tr.66, Hà Nội.
10. Nguyễn Mai Bộ (1997), Những biện pháp trong tố tụng hình sự, Nhà xuất bản chính
trị quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
11. Nguyễn Mai Bộ (2004), Biện pháp ngăn chặn, khám xét và kê biên tài sản trong bộ
luật TTHS, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội.
12. Nguyễn Mai Bộ (2006), “Áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối
với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí tòa án nhân dân tháng 3 năm 2006,
Hà Nội.
13. Lê Cảm (2010), Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của Phần chung), Nhà xuất bản Đại
học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
14. Hoàng Xuân Chiến (2010), “Bộ đội Biên phòng phối hợp với Công an đấu tranh
phòng, chống tội phạm ở khu vực biên giới”, Báo quân đội nhân dân ngày

29. Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tiến Nam (2002), “Quy định của pháp luật Việt Nam về
áp dụng biện pháp bắt người nước ngoài phạm tội”, Tạp chí nghề luật số 3/2002,
tr.24-25.
30. Nguyễn Trọng Phúc (2008), Chế định các biện pháp ngăn chặn trong TTHS, Luận
án Tiến sĩ Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
31. Quốc hội (1957), Sắc lệnh số 103/SL-L-005 ngày 20-5-1957 về Đảm bảo quyền tự
do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân.
32. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
33. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự năm 1999 bổ sung và sửa đổi năm 2009.
34. Quốc hội (2000), Luật số 20/2000/QH10 ngày 28/6/2000 về sửa đổi và bổ sung Bộ
luật TTHS của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988.
35. Quốc hội (2003), Bộ luật TTHS của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2003.
36. Quốc hội (2003), Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành
ngày 23/11/2003.
37. TAND Tối cao (1974), Thông tư số 10-TATC ngày 08/07/1974 của Tòa án nhân
dân tối cao quy định về thủ tục rút ngắn trong việc điều tra, truy tố, xét xử một số vụ
án hình sự ít quan trọng, phạm pháp quả tang, đơn giản, rõ ràng.
38. TAND tối cao (2002), Công văn số 81 ngày 10/6/2002 của TAND tối cao.
39. Trịnh Văn Thanh (2001), Hệ thống biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt
Nam và những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng của lực lượng cảnh sát nhân
dân, Nhà xuất bản công an nhân dân Hà Nội.
40. Viện khoa học kiểm sát - VKSND Tối cao (2007), “Bộ luật TTHS Đức” (Bản dịch -
phụ trương thông tin khoa học pháp lý), Thông tin khoa học kiểm sát (5 & 6).
41. Thủ tướng Chính phủ (1957), Nghị định số 301/TTG quy định chi tiết thi hành Luật số
103/SL-L005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất
khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân.
42. Thủ tướng Chính phủ (1974), Thông tư số 139 ngày 28/5/1974 của Thủ tướng
Chính phủ hướng dẫn về thủ tục điều tra, truy tố, xét xử các vụ án phạm pháp quả
tang.

dịch - phụ trương thông tin khoa học pháp lý).
58. Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân tối cao (2007), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù năm 2007,
Hà Nội.
59. Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân tối cao (2008), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù năm 2005,
Hà Nội.
60. Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân tối cao (2009), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù năm 2009,
Hà Nội.
61. Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân tối cao (2010), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù năm 2010,
Hà Nội.
62. Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân tối cao (2011), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù năm 2011,
Hà Nội.
63. Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân tối cao (2012), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự năm 2012, Hà Nội.
64. Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (1975), Thông tư số 01-TT ngày 28/2/1975 hướng
dẫn về nội dung hoạt động của Kiểm sát viên trong công tác kiểm sát việc áp dụng
thủ tục rút ngắn đối với các vụ án ít nghiêm trọng, phạm pháp quả tang, đơn giản,
rõ ràng.
65. Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (2012), Thông báo rút kinh nghiệm số 283/TB-
VKSTC-VPT1 ngày 02/11/2012 của VKSND tối cao.
66. Viện kiểm sát quân sự Quân khu 3 (2012), Báo cáo rút kinh nghiệm số 03/BC-VKS
ngày 05/10/2012 quý 3/2012 của Viện Kiểm sát quân sự Quân khu 3, Hải Phòng.
67. Phạm Khắc Vực (2004), “Những quy định về biện pháp bắt người trong tố tụng
hình sự năm 2003”, Tạp chí khoa học pháp lý, (2), tr.15-16.
68. Nguyễn Như Ý (2010), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP
Hồ Chí Minh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status