BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ QUANG ĐỨC
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƢƠI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ THỦY
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu trong luận văn là
trung thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI .......... 5
1.1. Khái niệm quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về
đất đai .................................................................................................................. 5
1.2. Điều chỉnh của pháp luật đối với quyết định hành chính trong lĩnh vực
quản lý nhà nước về đất đai .............................................................................. 10
1.1.1. Thẩm quyền ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực quản
lý nhà nước về đất đai .................................................................................... 10
1.1.2. Căn cứ ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về đất đai ............................................................................................... 13
1.1.3. Nội dung của quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về đất đai ............................................................................................... 15
1.1.4. Thủ tục ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý
nhà nước về đất đai ........................................................................................ 20
1.1.5. Hình thức của quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về đất đai ............................................................................................... 23
1.1.6. Kiểm tra, giám sát và xử lý quyết định hành chính trong lĩnh vực
quản lý nhà nước về đất đai khiếm khuyết .................................................... 24
1.3. Vai trò của quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về
đất đai ................................................................................................................ 25
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI ....................................... 28
2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về quyết định hành chính trong lĩnh
vực quản lý nhà nước về đất đai ....................................................................... 28
2.2. Thực tiễn ban hành và thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực
quản lý nhà nước về đất đai .............................................................................. 35
2.2.1. Thực tiễn ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý
nhà nước về đất đai ........................................................................................ 35
HĐND
: Hội đồng nhân dân
UBND
: Ủy ban nhân dân
QĐHC
: Quyết định hành chính
QLNN
: Quản lý nhà nước
QPPL
: Quy phạm pháp luật
VBQPPL
: Văn bản quy phạm pháp luật
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất
đề lý luận và thực tiễn về quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về đất đai” để làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình. Hy vọng việc nghiên
cứu đề tài sẽ góp phần nâng cao chất lượng QĐHC về đất đai và hoàn thiện hơn
hệ thống pháp luật trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về QĐHC nói chung và QĐHC trong
lĩnh vực QLNN về đất đai nói riêng là một trong những vấn đề được nhiều tác
giả quan tâm. Bởi vậy, liên quan đến nội dung của đề tài này đã có một số công
trình nghiên cứu, bài viết như: Bùi Thị Đào,“Tính hợp pháp và tính hợp lý của
QĐHC”, Luận án tiến sỹ Luật học, Hà nội, 2008,… Một số bài viết trên các tạp
chí chuyên ngành như: TS.LS. Nguyễn Thanh Bình, “Nhận diện tính bất hợp
pháp của QĐHC trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai”, tạp chí Nghề luật,
số 2 tháng 4/2013; Ths. Cao Minh Vũ, “Bảo đảm quyền con người trong các
QĐHC về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”, tạp chí Luật
học, số 1/2013; PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải, “Từ vụ việc cưỡng chế thu hồi đất ở
Tiên Lãng bàn về hiệu quả của QĐHC nhà nước và vấn đề đặt ra trong đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức”, tạp chí quản lý nhà nước, số 196 (5/2012); TS.
Nguyễn Văn Liêm, “Tăng cường giám sát, kiểm tra việc ban hành, thực hiện
QĐHC góp phần hạn chế khiếu kiện”, tạp chí Thanh tra, số 5/2011; Ths. Trần
Văn Duy, “Bàn về tính hợp pháp, hợp lý trong quyết định quản lý nhà nước”,
tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2009; TS. Nguyễn Văn Quang, “Căn cứ
đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính”, tạp chí Luật học, số
11/2013,… Tuy nhiên, hầu hết các công trình nói trên chủ yếu tập trung đi sâu
nghiên cứu về QĐHC nói chung. Số lượng công trình nghiên cứu cũng như bài
viết về QĐHC về đất đai chưa nhiều và mới chỉ dừng lại ở việc khái quát hoặc đi
sâu nghiên cứu về một số loại quyết định cụ thể ở lĩnh vực này. Bởi vậy, với
3
công trình nghiên cứu của mình, tác giả sẽ nghiên cứu những vấn đề lý luận và
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
về Nhà nước và pháp luật để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về QĐHC
trong lĩnh vực QLNN về đất đai.
Đồng thời, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã
hội và khoa học pháp lý để làm rõ các vấn đề tập trung trong luận văn, đó là:
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương
pháp mô tả, phương pháp thống kê,...
6. Bố cục của Luận văn
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quyết định hành chính trong lĩnh vực
quản lý nhà nước về đất đai.
Chương 2. Thực trạng quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về đất đai.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai.
5
Chƣơng 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI
1.1. Khái niệm quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nƣớc về
đất đai
Theo học thuyết Mác – Lê Nin, nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc
biệt được sinh ra trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định với mục đích
duy trì trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển. Để thực hiện sứ mệnh đó, nhà nước
tiến hành nhiều hoạt động khác nhau mà đặc trưng là những hoạt động mang tính
quyền lực nhà nước. Một trong những biểu hiện của việc thực hiện quyền lực
nhà nước là hoạt động ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định pháp luật.
“ Quyết định” là định một cách chắc chắn, với ý nhất định phải thực hiện
bằng văn bản so với quyết định không thể hiện bằng văn bản. Nếu như quyết
định bằng lời nói, dấu hiệu, ký hiệu tạo nên sự sống động, linh hoạt của quản lý
thì quyết định bằng văn bản lại phản ánh tính khuôn mẫu, tính có căn cứ chắc
chắn, tạo nên sự ổn định của hoạt động QLNN. Tuy nhiên, các QĐHC biểu hiện
dưới dạng lời nói, dấu hiệu, ký hiệu (hay nói cách khác là được thể hiện bằng
hành vi) trong hoạt động tổ chức trực tiếp QLNN cần được nghiên cứu dưới
khoa học quản lý nhiều hơn góc độ khoa học pháp lý. Bởi vậy, các QĐHC ở đây
chỉ là quyết định được thể hiện dưới dạng văn bản.
Dưới góc độ tính chất, QĐHC cũng được tiếp cận dưới hai góc độ: QĐHC
chỉ là quyết định cá biệt và QĐHC bao gồm quyết định cá biệt, quyết định quy
phạm (hoặc thêm cả quyết định chủ đạo).
Có quan điểm cho rằng QĐHC là văn bản do cơ quan hành chính nhà
nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ
chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động QLNN được
áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Với quan điểm này
thì QĐHC chỉ là QĐHC cá biệt do cơ quan hành chính nhà nước ban hành. Tuy
nhiên, một số ít cơ quan hành chính nhà nước vẫn còn có thẩm quyền ban hành
7
QĐHC quy phạm. Do vậy, việc hiểu QĐHC chỉ là quyết định cá biệt sẽ không
đầy đủ và không bao quát được hết các loại QĐHC.
Có quan điểm lại cho rằng QĐHC không chỉ là quyết định cá biệt mà còn
bao gồm cả quyết định quy phạm, quyết định chủ đạo. Để thực hiện quyền hành
pháp, bên cạnh việc áp dụng pháp luật để giải quyết công việc cụ thể phát sinh
trong hoạt động QLNN thì cơ quan nhà nước còn đặt ra các QPPL điều chỉnh các
quan hệ xã hội phổ biến, điển hình trong xã hội. Nói cách khác, chủ thể có thẩm
quyền cũng có thể ban hành các quyết định quy phạm áp dụng cho nhiều cơ
quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Quan điểm này cũng được ghi nhận trong Từ điển Luật học, ở đó QĐHC
thẩm quyền ban hành QĐHC về đất đai đối với từng đối tượng bị áp dụng khác
nhau. Chẳng hạn, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành quyết định giao đất,
cho thuê đất đối với tổ chức, trong khi UBND cấp huyện có thẩm quyền ban
hành quyết định giao đất, cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Hoặc UBND
cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở
tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,… thì UBND cấp huyện có thẩm
quyền ban hành quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng
dân cư; Tuy nhiên, nếu khu vực thu hồi đất bao gồm cả đối tượng thuộc thẩm
quyền của UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện thì UBND cấp tỉnh ban hành
quyết định thu hồi đất hoặc có thể ủy quyền cho UBND cấp huyện. Như vậy, có
thể thấy tùy vào trường hợp áp dụng và đối tượng áp dụng mà UBND các cấp
ban hành QĐHC về đất đai phù hợp. Đặc biệt, thẩm quyền này chỉ thuộc về cơ
quan QLNN về đất đai mà không thuộc về cơ quan QLNN trong các lĩnh vực khác.
Hai là, QĐHC về đất đai giải quyết những vấn đề cụ thể trong QLNN về
đất đai.
Khác với QĐHC nói chung – được ban hành nhằm đề ra những chủ
trương, chính sách lớn hoặc đặt ra các quy tắc xử sự để điều chỉnh mối quan hệ
phát sinh trong thực tiễn QLNN,… thì QĐHC về đất đai được ban hành nhằm
giải quyết những công việc, vấn đề cụ thể trong QLNN về đất đai như thu hồi
9
đất, giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ… QĐHC về đất đai ra đời đã kịp
thời giải quyết các vụ việc, vấn đề phát sinh trên thực tế, giúp người sử dụng đất
đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Bên cạnh đó, QĐHC về đất đai được ban hành còn có hiệu lực thi hành
ngay và người sử dụng đất được quyền khiếu nại, khởi kiện nếu cho rằng QĐHC
đó bất hợp pháp, xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Ba là, QĐHC về đất đai ảnh hưởng đến lợi ích vật chất của phần lớn đối
tượng sử dụng đất.
mục đích của pháp luật vào quá trình ban hành, thi hành QĐHC về đất đai để
QĐHC trong lĩnh vực này đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tính hợp pháp, tính
hợp lý.
Pháp luật cần hướng tới điều chỉnh QĐHC về đất đai ở những nội dung cơ
bản sau:
1.1.1. Thẩm quyền ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý
nhà nước về đất đai
Thẩm quyền với ý nghĩa là “quyền xem xét để kết luận và định đoạt một
vấn đề theo pháp luật”. Thẩm quyền ban hành QĐHC về đất đai là tiêu chí đầu
tiên và có ý nghĩa quan trọng để đánh giá tính hợp pháp và minh bạch của
QĐHC trong lĩnh vực này. Bởi một QĐHC phải chính danh để từ đó người dân
có thể nắm rõ và phản hồi trực tiếp với chủ thể ban hành QĐHC. Đồng thời, việc
xác định rõ thẩm quyền sẽ là căn cứ cho việc quy trách nhiệm rõ ràng, tránh sự
nhập nhằng, đổ lỗi lẫn nhau và không có chủ thể đứng ra nhận trách nhiệm giữa
các cơ quan hành chính khi có vấn đề phát sinh do QĐHC về đất đai gây ra.
Thẩm quyền ban hành QĐHC về đất đai gồm có thẩm quyền về hình thức
và thẩm quyền về nội dung.
Thứ nhất, thẩm quyền về hình thức
Thẩm quyền về hình thức là việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền được
ban hành những loại QĐHC nào do pháp luật quy định. Trong lĩnh vực đất đai,
cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định giao đất, quyết
11
định cho thuê đất, quyết định chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định thu hồi
đất, quyết định trưng dụng đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, quyết
định cấp GCNQSDĐ, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định giải
quyết tranh chấp đất đai. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ thể
có thẩm quyền phải ban hành các loại QĐHC về đất đai nêu trên mà không được
tự mình sáng tạo ra một loại QĐHC về đất đai riêng.
UBND các cấp cũng tạo điều kiện thuận lợi trong việc truy cứu trách nhiệm của
chủ thể ban hành quyết định thu hồi đất, quyết định giao đất,… khiếm khuyết,
hạn chế được tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và đổi lỗi lẫn nhau. Tuy nhiên, giao
thẩm quyền cho cá nhân chủ tịch UBND các cấp thì quyền lực tập trung vào
người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước là khá lớn. Điều này có thể dẫn tới
việc cảm tính trong quá trình ban hành QĐHC về đất đai và quá tải trong hoạt
động QLNN.
Mặc dù vậy, đất đai là lĩnh vực thường xuyên xảy ra tình trạng khiếu nại,
khởi kiện về QĐHC xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Để
khắc phục được tình trạng này cần nâng cao trách nhiệm của chủ thể ban hành
QĐHC về đất đai, cũng như phải xác định rõ được chủ thể chịu trách nhiệm khi
ban hành QĐHC về đất đai khiếm khuyết. Do đó, thẩm quyền ban hành QĐHC
về đất đai nên giao cho Chủ tịch UBND các cấp.
Mặt khác, pháp luật cũng nên xem xét tới việc ủy quyền hay không ủy
quyền trong quá trình ban hành QĐHC về đất đai. “Ủy quyền” phần nào có thể
sẽ hạn chế sự phân cấp, phân quyền trong hoạt động QLNN. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp đặc biệt thì việc ủy quyền cho cơ quan cấp dưới – Chủ tịch
UBND cấp huyện hoặc các cơ quan cùng cấp như sở Tài nguyên và Môi trường
thực hiện thẩm quyền của mình là cần thiết. Chẳng hạn, để thực hiện các dự án
của Nhà nước thì trước khi thu hồi đất, Quốc hội, Chính phủ, HĐND và UBND
cấp tỉnh đã phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phù hợp với thẩm quyền được giao.
Nói cách khác, việc thu hồi đất đã có quy hoạch của Nhà nước và chủ thể ban
hành QĐHC về đất đai chỉ có thẩm quyền thu hồi đất đối với từng hộ gia đình,
cá nhân, tổ chức để triển khai dự án đó. Do đó, chủ thể có thẩm quyền ban hành
QĐHC về đất đai cấp tỉnh có thể ủy quyền cho chủ thể có thẩm quyền ban hành
QĐHC về đất đai cấp huyện thu hồi đất nhằm giảm tải công việc trong quá trình
13
QLNN và kịp thời giải quyết những trường hợp thu hồi đất cấp bách khi chủ thể
Nhóm văn bản pháp luật quy định về thẩm quyền được xác định dựa trên
Luật ban hành VBQPPL, Luật đất đai và các VBQPPL điều chỉnh tổ chức, hoạt
động của cơ quan QLNN về đất đai như Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức
HĐND và UBND. Nhóm căn cứ này là cơ sở pháp lý giúp cơ quan nhà nước xác
định được chủ thể nào có thẩm quyền ban hành QĐHC về đất đai như quyết định
thu hồi đất, quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất… một cách chính xác
nhất. Cụ thể, khi ban hành quyết định cho thuê đất thì các VBQPPL nêu trên
giúp cơ quan nhà nước xác định được UBND các cấp hay chủ tịch UBND các
cấp có thẩm quyền ban hành quyết định cho thuê đất và thẩm quyền đó ở mức độ,
phạm vi nào.
Nhóm văn bản pháp luật quy định về nội dung được xác định dựa trên
Luật Đất đai, các nghị định và văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Đối với quyết
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, quyết định giải quyết
tranh chấp đất đai thì cơ quan nhà nước cần căn cứ nội dung thêm tại Luật tố
tụng hành chính và Luật xử phạt vi phạm hành chính. Những VBQPPL này là cơ
sở pháp lý để cơ quan nhà nước xác định được tình huống/ vụ việc nào thuộc
phạm vi điều chỉnh của lĩnh vực đất đai và nội dung đó được pháp luật điều
chỉnh như thế nào, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hoặc chế tài ra sao. Cụ thể,
khi ban hành quyết định thu hồi đất thì chủ thể có thẩm quyền sẽ dựa vào các
quy định tại Chương VI Luật Đất đai và văn bản hướng dẫn thi hành để xác định
được các trường hợp thu hồi đất, căn cứ thu hồi đất; hoặc chủ thể có thẩm quyền
cũng có thể dựa vào Chương V Luật Đất đai để xác định các đối tượng được
giao đất, cho thuê đất, thời hạn giao đất, cho thuê đất phù hợp với mục đích sử
dụng đất,… khi ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất.
Cũng tương tự nhóm văn bản pháp luật quy định về nội dung, nhóm văn
bản pháp luật quy định về thủ tục được xác định dựa trên cơ sở Luật đất đai và
các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật. Đối với quyết định xử phạt vi
phạm hành chính, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có thể được xác định
dựa vào Luật xử phạt vi phạm hành chính, Luật tố tụng hành chính. Nhóm căn
cứ này là cơ sở pháp lý vững chắc trong việc xác định trình tự, thủ tục ban hành
Nội dung của QĐHC về đất đai phải xác định được đối tượng áp dụng của
QĐHC nhằm tạo điều kiện cho chủ thể có thẩm quyền trong quá trình ban hành
16
QĐHC về đất đai. Hiện nay, sử dụng đất là nhu cầu của rất nhiều cá nhân, tổ
chức trong xã hội, do đó người sử dụng đất có phạm vi rất lớn bao gồm tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có
chức năng ngoại giao, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài. Những chủ thể này đều có thể trở thành đối tượng áp
dụng của QĐHC về đất đai. Tuy nhiên, đối với mỗi loại QĐHC về đất đai thì đối
tượng áp dụng mang những nét đặc thù riêng.
Nhóm quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Đất đai là sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, do đó, tất cả
người sử dụng đất nêu trên đều có thể trở thành đối tượng áp dụng của QĐHC
nếu có nhu cầu sử dụng đất vì những mục đích chính đáng.
Nhóm quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ tái định
cư khi thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất. Thu hồi đất, trưng dụng đất là việc nhà
nước thu lại quyền sử dụng đất hoặc trưng dụng quyền sử dụng đất của người
được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu hồi đất của người sử dụng đất vi
phạm pháp luật về đất đai. Do đó, đối tượng áp dụng của quyết định thu hồi đất,
trưng dụng đất là những người đang có quyền sử dụng đất nhưng vì những lý do
khác nhau mà Nhà nước thu lại hoặc trưng dụng quyền sử dụng đất đã trao.
Đồng thời với việc thu hồi đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với tất cả các chủ thể sử dụng đất nhưng bị
nhà nước thu hồi đất không phải vì vi phạm pháp luật về đất đai nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho họ nhanh chóng ổn định cuộc sống. Mặt khác, cơ quan nhà
nước cũng ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất đối với một số chủ thể sử
dụng đất không tự nguyện thi hành quyết định thu hồi đất.
Quyết định cấp GCNQSDĐ được cấp cho chủ thể đang sử dụng đất trên thực
Quyết định chuyển mục đích sử dụng đất. Trong quá trình sử dụng đất, đối
tượng bị áp dụng QĐHC về đất đai có những định hướng, nhu cầu mới trong
việc khai thác, sử dụng đất và cần thiết phải chuyển đổi sang loại đất khác để
thực hiện được mục đích của mình. Do đó, quyết định chuyển mục đích sử dụng
đất được áp dụng trong trường hợp người sử đất có mong muốn chuyển mục
18
đích sử dụng đất và được sự cho phép của nhà nước như chuyển đất nông nghiệp
sang đất phi nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải đất ở sang đất ở,…
Nhóm quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất. Thu hồi đất là một vấn đề nhạy
cảm bởi lẽ không một đối tượng sử dụng đất nào mong muốn mảnh đất đang
sinh sống bị mất quyền sử dụng đất. Hơn nữa, việc thu hồi cũng ảnh hưởng lớn
tới lợi ích vật chất của người sử dụng đất. Do đó, nhà nước chỉ tiến hành thu hồi
đất khi thực sự cần thiết như vì mục đích an ninh, quốc phòng, để phát triển kinh
tế - xã hội vì lợi ích của quốc gia, công cộng, việc sử dụng đất có nguy cơ đe dọa
đến tính mạng con người hoặc do vi phạm pháp luật về đất đai; Nhà nước cũng
thu hồi đất khi hết thời hạn sử dụng đất hoặc người dân tự nguyện trả lại đất.
Kéo theo quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
thu hồi đất sẽ được ban hành tương ứng với các trường hợp khi nhà nước thu hồi
đất để hỗ trợ người dân nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Mặt khác, nhằm đảm bảo quyết định thu hồi đất được thực thi trên thực tế,
quyết định cưỡng chế thu hồi đất ban hành trong trường hợp người sử dụng đất
không thi hành, gây khó khăn hoặc chống đối lại quyết định thu hồi đất của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
Quyết định cấp GCNQSDĐ là chứng thư hợp pháp để nhà nước xác nhận
quyền sử dụng đất hợp pháp. Do đó, tất cả những trường hợp người sử dụng đất có
giấy tờ đầy đủ, hợp pháp, được thừa kế, được tặng cho, được nhận chuyển đổi, người
mua nhà, tài sản khác gắn liền với đất, người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa, vợ
của nhà nước trong quá trình sử dụng đất. Tuy nhiên, quyết định xử phạt vi phạm
hành chính về đất đai và quyết định giải quyết tranh chấp đất đai là hai loại
QĐHC giải quyết các vụ việc, vấn đề đất đai đã phát sinh trên thực tế mà người
sử dụng đất có những hành vi vi phạm pháp luật hoặc có mâu thuẫn không thỏa
thuận được. Do đó, ngoài việc xác định đối tượng bị áp dụng, trường hợp áp
dụng, phương thức áp dụng thì quyết định xử phạt vi phạm hành chính còn xác
định biện pháp xử lý đối với chủ thể sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật
như phạt tiền, buộc khắc phục lại tình trạng đất như trước khi vi phạm,…; quyết