Tội quảng cáo gian dối trong bộ luật hình sự việt nam và trong luật hình sự hoa kỳ dưới góc độ so sánh luật - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ THỊ GẤM

TỘI QUẢNG CÁO GIAN DỐI TRONG BỘ LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM VÀ TRONG LUẬT HÌNH SỰ HOA KỲ
DƢỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH LUẬT
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ ĐĂNG DOANH

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:
- Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
trực tiếp của Thầy giáo, TS. Lê Đăng Doanh.
- Mọi nội dung tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng
tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố.
- Nếu có sự sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá,
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.


Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI QUẢNG CÁO GIAN DỐI .....6
1.1. Khái niệm quảng cáo .......................................................................................6
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội quảng cáo gian dối trong pháp luật
Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ...............................................................................9
Chƣơng 2. TỘI QUẢNG CÁO GIAN DỐI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VÀ TRONG LUẬT HÌNH SỰ HOA KỲ.........................................17
2.1. Các dấu hiệu pháp lý của tội quảng cáo gian dối trong Bộ luật Hình sự Việt
Nam so sánh với luật hình sự Hoa Kỳ ..................................................................17
2.2. Hình phạt đối với tội quảng cáo gian dối trong Bộ luật Hình sự Việt Nam so
sánh với luật hình sự Hoa Kỳ ...............................................................................52
2.3. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định về tội quảng cáo gian dối
trong Bộ luật Hình sự Việt Nam ...........................................................................56
KẾT LUẬN ..............................................................................................................68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt

Đƣợc hiểu là

BLHS

Bộ luật Hình sự

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

FTC

góc độ luật hình sự, Điều 168 BLHS Việt Nam đã quy định về tội quảng cáo gian
dối, tạo cơ sở pháp lý về mặt hình sự nhằm xử lý đối với hành vi quảng cáo gian dối
Tuy nhiên, quy định về tội quảng cáo gian dối cũng như các quy định có liên quan
vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc nhận thức và áp dụng. Về
mặt khoa học, ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu chi tiết nào về tội
quảng cáo gian dối trong BLHS Việt Nam cũng như nghiên cứu về tội quảng cáo
gian dối trong BLHS Việt Nam dưới góc độ so sánh luật.
Để góp phần hoàn thiện quy định của BLHS về tội quảng cáo gian dối ở Việt
Nam nói riêng, pháp luật về quảng cáo nói chung cần có sự nghiên cứu tham khảo
từ pháp luật của các nước khác. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Hoa Kỳ) là nước có nền
kinh tế nói phát triển, nền công nghiệp quảng cáo chuyên nghiệp, có sức ảnh hưởng
toàn cầu. Các hành vi quảng cáo gian dối ở Hoa Kỳ cũng diễn ra hết sức phức tạp.


2
Hành vi quảng cáo gian dối đã được luật hình sự liên bang và nhiều bang quy định
là tội phạm. Với bề dày kinh nghiệp lập pháp và quản lý hoạt động quảng cáo của
Hoa Kỳ, việc nghiên cứu so sánh quy định của BLHS Việt Nam về tội quảng cáo
gian dối với quy định tương ứng của luật hình sự Hoa Kỳ có thể giúp chúng ta tìm
ra những nội dung hợp lý nhất định, góp phần hoàn thiện quy định về tội quảng cáo
gian dối trong BLHS Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn “Tội quảng cáo gian dối trong
Bộ luật Hình sự Việt Nam và trong luật hình sự Hoa Kỳ dưới góc độ so sánh luật”
làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. T nh h nh nghi n cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu đề tài ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề về quảng cáo gian dối đã được đề cập trong một số công
trình nghiên cứu khoa học cũng như một số sách báo. Dưới góc độ pháp luật kinh tế
có thể kể đến một số công trình khoa học như “Pháp luật thương mại về hoạt động
quảng cáo và khuyến mại: Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ luật học,

Richards, Publisher Routledge, 2013; “False advertising and the law: coping with
today's challenges”, Jeffrey S. Edelstein, Practising Law Institute, 1996; “False
advertising and commercial speech: protecting your clients from public and private
threats”, Helene D. Jaffe, Elaine S. Reiss, Practising Law Institute, 1992;
“Consumer protection from deceptive advertising”, Fredric Stuart, Hofstra
University, 1974; “Honesty and competition; false-advertising law and policy
under FTC administration”, George J. Alexander, Syracuse, Syracuse University
Press, 1967,…Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào nghiên cứu dưới góc độ
kinh tế hoặc luận giải pháp luật dân sự, hành chính của liên bang, của các bang về
hành vi quảng cáo gian dối.
Dưới góc độ hình sự, tội quảng cáo gian dối được phân tích trong một số
sách như “Trusted Criminals: White Collar Crime In Contemporary Society”,
David O. Friedrichs, Wadsworth Cengage Learning, 2010; “Crime: Computer
Viruses to Twin Towers”, H. Thomas Milhorn, Universal Publishers, 2004; “An
Introduction to Criminal Law”, Philip Carlan, Lisa Nored, Ragan Downey, Jones &
Bartlett Learning, 2011; “Criminal Law”, Joycelyn M. Pollock, Newnes, 2012;


4
“Enccyclopedia of white collar & corporate crime”, Lawrencem Salinger, A Sage
Publication, 2004,…Tuy nhiên, hầu như không có công trình nào nghiên cứu so
sánh tội quảng cáo gian dối theo luật hình sự Hoa Kỳ với luật hình sự nước khác.
3. Phạm vi nghi n cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự và so sánh luật. Trong đó,
tác giả tập trung phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về tội quảng cáo gian
dối thông qua quy định tại Điều 168 BLHS Việt Nam, so sánh với các quy định của
pháp luật hiện hành của liên bang cũng như của một số bang của Hoa Kỳ về tội
quảng cáo gian dối.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –

Bên cạnh những phân tích cơ bản về tội quảng cáo gian dối trong BLHS Việt
Nam, luận văn đã phân tích, so sánh BLHS Việt Nam và luật hình sự Hoa Kỳ về tội
quảng cáo gian dối. Từ đó, luận văn đã rút ra những nội dung cần thiết có thể tiếp
thu từ quy định của luật hình sự Hoa Kỳ về tội phạm này. Cùng với đó, luận văn
cũng đã đưa ra những kiến nghị hoàn thiện luật hình sự Việt Nam về tội quảng cáo
gian dối.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 2 chương sau:
Chương 1. Một số vấn đề chung về tội quảng cáo gian dối
Chương 2. Tội quảng cáo gian dối trong Bộ luật Hình sự Việt Nam và trong
luật hình sự Hoa Kỳ


6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI QUẢNG CÁO GIAN DỐI
1.1. Khái niệm quảng cáo
1.1.1. Khái niệm quảng cáo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, quảng cáo đã từng xuất hiện trước năm 1945 trên các ấn phẩm
định kỳ song chỉ ở mức độ đơn lẻ, không đáng kể. Sau năm 1954, các quảng cáo
trong nước được đăng tải trên các báo miền Nam, vùng Mỹ và chính quyền Sài Gòn
kiểm soát. Ở miền Bắc hầu như hoàn toàn vắng bóng quảng cáo [30, tr.158].
Sau khi nước nhà thống nhất, vào giữa những năm 90 của thế kỷ XX, cùng
với đường lối của Đảng phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, quảng cáo thương mại đã bắt đầu có mặt trên các
trang báo, tạp chí, trong các chương trình phát thanh, truyền hình. Nguồn kinh phí
từ quảng cáo dần tăng lên, đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với các cơ quan
truyền thông đại chúng ở nước ta [30, tr.158].
Dưới góc độ ngôn ngữ, quảng cáo đơn giản chỉ là một hoạt động thông tin,

chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không
có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân.
2. Dịch vụ có mục đích sinh lợi là dịch vụ nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức,
cá nhân cung ứng dịch vụ; dịch vụ không có mục đích sinh lợi là dịch vụ vì lợi ích
của xã hội không nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ”
(Điều 3, Luật Quảng cáo năm 2012).
Theo đó, khái niệm “quảng cáo" đã được nêu một cách cụ thể hơn, phân biệt
rõ ràng hơn với các hoạt động thông tin đơn thuần. Tuy nhiên, “quảng cáo” vẫn
được quy định có nội hàm rất rộng giống như khái niệm “quảng cáo” trong Pháp
lệnh Quảng cáo năm 2001 (vẫn bao gồm việc giới thiệu đến dịch vụ không có mục
đích sinh lợi).
Bên cạnh khái niệm “quảng cáo”, trong pháp luật Việt Nam còn tồn tại khái
niệm “quảng cáo thương mại”. Khái niệm này được quy định trong Luật Thương
mại năm 2005 như sau:“Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại


8
của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ của mình” (Điều 102 Luật Thương mại năm 2005). Theo đó, “quảng cáo
thương mại” chỉ là một bộ phận của “quảng cáo”.
1.1.2. Khái niệm quảng cáo ở Hoa Kỳ
Ở Hoa Kỳ, quảng cáo đã xuất hiện trên các tập thông tin (tiền thân của nhật
báo sau này) từ những năm 1800. Lúc này, quảng cáo mới là phương tiện rao vặt và
chưa mang ý nghĩa nhiều. Sang thế kỷ XIX, quảng cáo đã hướng tới mục đích mở
rộng thị trường với hãng quảng cáo đầu tiên trên thế giới ra đời ở Philadenphia (Hoa
Kỳ) có tên Velney Palmer [5]. Hoa Kỳ được coi là nước đi đầu trong hoạt động
quảng cáo trên các sóng điện từ. Người ta ví các chương trình quảng cáo của Hoa
Kỳ là “một giấc mơ về nền văn minh Mỹ, một giấc mơ có sức cuốn hút kỳ lạ đối với
hàng triệu người trên khắp thế giới”[64].

quyền, lợi ích đối với dịch vụ, hàng hóa nào đó” (Khoản 1, Tiết 44-1521 Tổng luật
Arizona). Trong đó, dịch vụ, hàng hóa được hiểu theo ý nghĩa thương mại, không
bao gồm dịch vụ không có mục đích sinh lợi. “Quảng cáo” do đó không có ý nghĩa
bao gồm cả “quảng cáo phi thương mại”.
Như vậy, về mặt ngôn ngữ, “quảng cáo” ở Hoa Kỳ và ở Việt Nam đều được
hiểu thống nhất là hoạt động thông tin đến công chúng nhằm thu hút công chúng
đến với những gì được quảng cáo. Tuy nhiên, quy định của pháp luật Việt Nam về
khái niệm “quảng cáo” có sự khác biệt so với pháp luật của Hoa Kỳ. Theo quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành, “quảng cáo” không chỉ bao gồm “quảng cáo
thương mại” mà bao gồm cả “quảng cáo phi thương mại” (quảng cáo về sản phẩm,
dịch vụ không có mục đích sinh lợi). Trong khi đó, theo quy định của pháp luật Hoa
Kỳ, “quảng cáo” được hiểu đồng nhất với “quảng cáo thương mại” và không phát
sinh khái niệm “quảng cáo phi thương mại”.
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội quảng cáo gian dối trong pháp
luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ
1.2.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội quảng cáo gian dối trong pháp
luật Việt Nam
Pháp luật Việt Nam có lịch sử rất lâu dài. Tuy nhiên, do điều kiện lưu trữ tài
liệu còn nhiều hạn chế nên trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả chỉ nghiên cứu


10
lịch sử lập pháp hình sự về tội quảng cáo gian dối trong pháp luật Việt Nam kể từ
khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945 cho đến nay. Theo đó,
có thể xem xét lịch sử lập pháp hình sự về tội quảng cáo gian dối trong dòng lịch sử
lập pháp hình sự Việt Nam theo các giai đoạn dưới đây:
Thứ nhất, giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi BLHS năm 1985 có hiệu lực
Trong giai đoạn này, vấn đề quảng cáo mới chỉ báo hiệu sự manh nha phát
triển. Thời kỳ này chưa có các quy định điều chỉnh hoạt động quảng cáo. Trong các
văn bản có ý nghĩa là nguồn của luật hình sự cũng chưa quy định về tội quảng cáo

Cùng với quy định cấm quảng cáo sai sự thật, pháp luật Việt Nam giai đoạn
này cũng đã có quy định về xử phạt hành chính tương ứng. Theo Điều 27, Nghị
định 88/NĐ-CP ngày 14/12/1995 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các
hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa và phòng chống một số tệ nạn xã hội, hành vi
quảng cáo sai sự thật có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng,
ngoài ra còn bị buộc tháo dỡ bảng, biển quảng cáo.
Như vậy, cho đến trước khi BLHS năm 1999 có hiệu lực, ở Việt nam vẫn
chưa có quy định hành vi quảng cáo gian dối là tội phạm.
Thứ ba, giai đoạn từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực đến nay
BLHS năm 1999 ra đời đã lần đầu tiên ghi nhận một tội phạm trong lĩnh vực
quảng cáo là tội quảng cáo gian dối.
“Điều 168. Tội quảng cáo gian dối:
1. Người nào quảng cáo gian dối về hàng hoá, dịch vụ gây hậu quả nghiêm
trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này,
chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một
trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến
ba năm.
2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi
triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.
Sự ra đời của Điều 168 BLHS 1999 về tội quảng cáo gian dối cùng các quy
định có liên quan là một trong những nhân tố thể hiện tính toàn diện, đồng bộ về lập
pháp hình sự của Việt Nam, đáp ứng kịp thời yêu cầu của tình hình mới trong điều
kiện kinh tế thị trường.


12
Pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện.
Trong lĩnh vực quảng cáo, Pháp lệnh Quảng cáo ban hành năm 2001 đã quy định
tương đối toàn diện về hoạt động quảng cáo. Tuy nhiên, Pháp lệnh mới chỉ liệt kê
một trong các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động quảng cáo là “quảng cáo gian

đủ, sai lệch, không chính xác về một trong các nội dung sau đây:
a) Hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
cung cấp;
b) Uy tín, khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
c) Nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ” (Khoản 1, Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng năm 2010).
Ngoài các văn bản pháp luật nêu trên còn có rất nhiều các văn bản thuộc các
lĩnh vực khác cấm hành vi quảng cáo sai sự thật. Chẳng hạn hành vi quảng cáo sai
sự thật trong ngành y tế bị cấm theo Pháp lệnh về hành nghề y dược tư nhân năm
2003 (Khoản 3 Điều 20, Khoản 4 Điều 25) hoặc Luật Khám chữa bệnh năm 2009
(Khoản 7 Điều 6) hay quy định cấm quảng cáo sai sự thật trong lĩnh vực cạnh tranh
(Khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004), trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
(Khoản 8, Khoản 9 Điều 7; Khoản 2, Điều 8 Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày
24/08/2005 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp).v.v…
Cùng với việc quy định về cấm quảng cáo sai sự thật, pháp luật nước ta cũng
quy định việc xử lý với những người có hành vi quảng cáo sai sự thật, quảng cáo
gian dối. Theo đó, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định
của pháp luật (Điều 11, Luật Quảng cáo năm 2012).
Có thể thấy ở Việt Nam, cùng với sự non trẻ của hoạt động quảng cáo, pháp
luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo nói chung, tội quảng cáo gian dối nói riêng ra
đời khá muộn. Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh các hoạt động này đang ngày càng
hoàn thiện thể hiện ở việc quy định cụ thể hơn, đầy đủ hơn về hoạt động quảng cáo
cũng như quảng cáo gian dối. Đặc biệt, Điều 168 BLHS ra đời đã tạo cơ sở pháp lý
truy cứu TNHS đối với những hành vi quảng cáo gian dối với tính chất, mức độ
nguy hiểm nhất định.



Năm 1914, Luật của Ủy ban thương mại liên bang (Federal Trade Commission


15
Act) được ban hành. Trong đó, quảng cáo gian dối được coi là một hình thức
thương mại gian dối, không công bằng. Theo quy định của đạo luật này, Ủy ban
thương mại liên bang FTC được thành lập. FTC là cơ quan liên bang chính chống
các hành vi quảng cáo bất hợp pháp [53, tr.10].
Luật FTC có cả quy định về xử lý hành chính và quy định hình phạt hình sự
cho hành vi quảng cáo gian dối (Tiết 52, Tiết 54, Tiết 55). Trong đó, quảng cáo gian
dối chỉ được coi là tội phạm trong một số trường hợp đặc biệt khi quảng cáo gian
dối gắn với ý định lừa đảo hoặc việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo có
khả năng dẫn đến thiệt hại về sức khỏe.
Năm 1938, Luật Wheeler–Lea được ban hành đã sửa đổi một số quy định của
Luật FTC nhưng quy định về quảng cáo gian dối vẫn được giữ nguyên.
Tuy nhiên, sau nhiều năm kể từ khi hành vi quảng cáo gian dối được quy
định trong Luật FTC, các vấn đề về quảng cáo gian dối vẫn chưa được làm rõ. Các
vụ việc được xét xử theo nhận thức của người có thẩm quyền trên cơ sở các tình tiết
cụ thể của từng vụ việc.
Năm 1946, Luật Lanham được ban hành, trong đó cũng cấm hành vi quảng
cáo gian dối. Tuy nhiên, Luật Lanham không nhìn nhận quảng cáo gian dối như một
tội phạm mà chỉ quy định về quảng cáo gian dối dưới góc độ dân sự để người tiêu
dùng và các đơn vị cạnh tranh thực hiện quyền kiện dân sự của mình. Nhưng những
quy định của luật này cũng đã phần nào gợi ý cho việc nhận thức về hành vi quảng
cáo gian dối.
Ngày 14/10/1983, các thành viên của Ủy ban thương mại Hoa Kỳ và Tòa án
Hoa Kỳ đã rà soát lại các án lệ và căn cứ vào nội dung của Luật FTC để đưa ra nhưng
quy tắc thống nhất về khái niệm “gian dối”, tạo cơ sở nhận thức thống nhất về các
hành vi thương mại gian dối nói chung, hành vi quảng cáo gian dối nói riêng [45].
Năm 1985, Bộ luật hình sự mẫu ra đời tuy không có ý nghĩa là một văn bản

gồm 8 Điều luật (từ Tiết 420 đến Tiết 427 Chương 1, Phần 10 Tổng luật Georgia)
quy định về tội quảng cáo gian dối.
Như vậy, có thể thấy so với pháp luật Việt Nam, các quy định về quảng cáo
gian dối nói chung, tội quảng cáo gian dối nói riêng ở Hoa Kỳ ra đời từ rất sớm với
nhiều quy định khác nhau theo pháp luật liên bang và pháp luật các bang.
Với quan niệm về nguồn của luật hình sự khác với Việt Nam, quy định về tội
quảng cáo gian dối không chỉ thuộc BLHS giống như ở Việt Nam mà còn có thể
thuộc các văn bản pháp luật chuyên ngành.


17
Chƣơng 2
TỘI QUẢNG CÁO GIAN DỐI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VÀ TRONG LUẬT HÌNH SỰ HOA KỲ
2.1. Các dấu hiệu pháp lý của tội quảng cáo gian dối trong Bộ luật Hình sự
Việt Nam so sánh với luật hình sự Hoa Kỳ
Tội quảng cáo gian dối theo khoa học luật hình sự Việt Nam cũng như tội
phạm nói chung xét về mặt cấu trúc được hợp thành bởi những yếu tố không thể
tách rời nhau bao gồm: khách thể của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt khách
quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm. Trong đó:
 Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại.
 Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể có năng lực trách nhiệm hình sự
và đạt độ tuổi luật định đã thực hiện hành vi phạm tội.
 Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm
bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng như những điều kiện bên ngoài khác
(công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội,…).
 Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội
phạm bao gồm: Lỗi, mục đích và động cơ phạm tội. [33, tr.131- 134]
Về mặt lý luận, các yếu tố cấu thành tội phạm theo luật hình sự Hoa Kỳ bao

Có ý kiến cho rằng thông qua việc xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về
hoạt động quảng cáo mà tội quảng cáo gian dối xâm phạm đến lợi ích của người
tiêu dùng.
Có ý kiến khác lại cho rằng hành vi quảng cáo gian dối không chỉ gây thiệt
hại cho người tiêu dùng mà còn có thể gây thiệt hại cho chính người sản xuất ra sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ khi người đó không trực tiếp thực hiện việc quảng cáo mà
quảng cáo thông qua người phát hành quảng cáo, người kinh doanh quảng cáo [16].
Theo tác giả, tội quảng cáo gian dối thông qua việc xâm phạm đến trật tự
quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo mà xâm phạm đến lợi ích của người tiêu
dùng, lợi ích của các đối thủ cạnh tranh và có thể là lợi ích của chính chủ thể
quảng cáo.
Đối với người tiêu dùng  đối tượng trực tiếp của quảng cáo, thì quảng cáo
gian dối nhằm thu hút người tiêu dùng đến với hàng hóa, dịch vụ có chất lượng, giá
cả, giá trị không đúng như những gì đã quảng cáo khiến cho bản thân người tiêu


19
dùng không những mất đi một số tiền nhất định mà còn có thể gánh chịu những
thiệt hại do sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó gây nên. Không những thế, họ có thể bỏ
lỡ những cơ hội được sử dụng những hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt.
Đối với những người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thì quảng cáo
gian dối thực sự là một biện pháp cạnh tranh không lành mạnh. Bằng việc đưa ra
những thông tin không đúng sự thật trong nội dung quảng cáo mà chủ thể quảng cáo
thu hút khách hàng về phía mình một cách không trung thực, gây ảnh hưởng tiêu
cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người khác, làm sai lệch mục đích cơ
bản của cạnh tranh là thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế. Gian dối với
công chúng còn vi phạm các nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp, tạo ra sự nghi ngại,
ức chế trong suy nghĩ, ứng xử giữa doanh nhân với nhau. Điều đó gây khó khăn cho
việc bảo đảm tính minh bạch, sòng phẳng trong quan hệ đồng nghiệp  điều kiện
cần thiết cho việc xây dựng, phát triển môi trường kinh doanh lành mạnh.

BLHS, phần liên quan đến các hoạt động thương mại hoặc các Luật, Bộ luật chuyên
ngành liên quan đến hoạt động thương mại.
Cụ thể, dưới góc độ liên bang, hành vi quảng cáo gian dối được coi là tội
phạm trong Luật FTC, luật điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và
các hành vi thương mại gian dối (Tiết 52 cấm hành vi quảng cáo gian dối; Tiết 54
quy định về tội quảng cáo gian dối và hình phạt đối với tội quảng cáo gian dối; Tiết
55 nêu định nghĩa về quảng cáo gian dối và các thuật ngữ có liên quan).
Ở một số bang, tội quảng cáo gian dối được quy định trong BLHS, chương,
phần về các tội trong kinh doanh và thương mại (Alabama, Arizona, Hawaii,
Arkansas, Tennessee,…). Một số bang quy định tội quảng cáo gian dối trong các luật,
bộ luật chuyên ngành như Bộ luật về Kinh doanh và nghề nghiệp (California),
Chương, Mục về Thương mại thuộc Tổng luật (Georgia, Nebraska, North Dakota,…).
Một số bang còn chỉ rõ các đối tượng mà hành vi quảng cáo hướng tới. Chẳng
hạn, Tiết 13A-9-42 Tổng luật Alabama, Tiết 708-871 Tổng luật Hawaii, Tiết 190-20
Tổng luật New York, Tiết 57-160 Tổng luật Missouri,…đều xác định đối tượng được
quảng cáo gian dối hướng đến là “công chúng hoặc một số đông người nhất định”.
Tương tự, có bang xác định đối tượng ảnh hưởng bởi quảng cáo gian dối là “toàn bộ
hoặc một phần công chúng của bang” (Tiết 817-41 Tổng luật Florida).
Quy định về đối tượng tác động của hành vi quảng cáo gian dối theo luật
hình sự một số bang ở Hoa Kỳ đã làm khắc sâu thêm bản chất của quảng cáo, không
gây nên sự nhầm lẫn giữa quảng cảo với sự đưa thông tin đơn thuần tới cá nhân.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status