MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, nghiên cứu văn hoá tâm linh đang đi vào chiều sâu và ngày càng được quan tâm như
một trong những nhiệm vụ chủ yếu của khoa nghiên cứu văn học. Sự kết dính giữa tôn giáo với văn
học, đặc biệt là văn học dân gian đang nổi lên như một trong những vấn đề trung tâm trong nỗ lực
nghiên cứu văn hoá để con người hiểu biết về chính mình nhằm hướng đến một tương lai phát triển bền
vững trong thời đại đầy biến động và thử thách.
So với nhiều vùng trên thế giới, Đông Nam Á là mảnh đất lý tưởng để nuôi dưỡng và phát triển
Phật giáo. Bén rễ từ trước công nguyên, Phật giáo đã góp phần tạo thành nền tảng văn hoá Đông Nam
Á cổ đại. Việt Nam nằm trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á cổ đại từ sớm, trước khi bị ảnh hưởng văn
hoá Hán. Phật giáo đã cấy lên cơ tầng văn hoá bản địa Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng
những dấu ấn vật chất và tinh thần đậm tính nhân văn, góp phần tạo nên những thời kỳ phát triển thịnh
vượng và huy hoàng trong lịch sử các dân tộc.
Đạo Phật trong hành trình phát tích truyền thừa của mình đã tạo nên một vùng quang phổ văn
hoá rộng lớn. Là một tôn giáo mang tính quốc tế, đặc biệt và độc đáo hơn bất kỳ một tôn giáo nào, tư
tưởng Phật giáo có một khả năng hoà phối ở mức cao nhất với quan điểm sống, tình cảm và nguyện
vọng của quảng đại quần chúng lao động các dân tộc. Nghiên cứu nguồn truyện cổ dân gian mang màu
sắc Phật giáo, ở một phạm vi nhất định, nhằm phác thảo lại con đường, cơ chế mà Phật giáo thâm nhập
vào đời sống các cư dân bản địa Đông Nam Á để phát huy vai trò của nó trong đời sống văn hoá các
dân tộc, qua đó, đưa lại những khám phá về cách thức mà nhân dân các dân tộc tiếp biến tôn giáo này
trở thành một thành tố văn hoá ưu việt thúc đẩy sự phát triển cộng đồng. Đó là một sự quay lại, chiêm
nghiệm, tổng kết quá khứ đồng thời mở ra những cánh cửa mới để bước vào tương lai, phục vụ yêu cầu
đổi mới nghiên cứu, đổi mới sáng tác văn học, đổi mới tư duy văn hoá tôn giáo cũng như đổi mới chiến
lược phát triển kinh tế xã hội.
Việc nghiên cứu văn học dân gian của ta hiện nay đang xích dần hơn với khoa nghiên cứu văn
học dân gian quốc tế và đạt được những thành tựu khá to lớn, đã đặt ra được những vấn đề quan trọng
có tính chất lí luận về nguồn gốc, bản chất, đặc trưng thể loại, quá trình lịch sử của tác phẩm văn học
dân gian, phương pháp nghiên cứu tác phẩm phônclo. Tuy nhiên, cấp độ nghiên cứu trung gian giữa
nghiên cứu khái quát văn học dân gian với nghiên cứu sáng tác dân gian cụ thể còn khá nhiều khoảng
trống. Bên cạnh việc áp dụng những thành tựu của cấu trúc luận vào lĩnh vực nghiên cứu thể loại, việc
khoanh vùng nghiên cứu những nhóm đối tượng mang những nét đặc thù loại hình, đặc biệt là trên cơ
khác nhau giữa truyện của Việt Nam và các nước trong khu vực để từ đó có thể hiểu được những quy
luật vận động của một nhóm loại truyện cổ dân gian trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở khu vực
Đông Nam Á mà trước đây ít nhiều đã được tiến hành trên một vài kiểu truyện.
Thứ hai, trên cơ sở những đặc điểm mang tính loại hình của nhóm đối tượng khảo sát, bước đầu
đi vào những đối sánh cụ thể ở các cấp độ cốt truyện, nhân vật và mô típ để chỉ ra những khác biệt giữa
truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt Nam so với truyện cổ dân gian mang màu sắc
Phật giáo của các nước bạn cùng khu vực.
Thứ ba, nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cũng hướng đến mục đích bổ sung những mảng nghiên
cứu còn khá trống trải trong lĩnh vực nghiên cứu văn học dân gian Đông Nam Á đồng thời đem lại
những kết quả thiết thực phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu văn học dân gian.
Thứ tư, xác lập một hệ thống các đơn vị tác phẩm không chỉ làm tư liệu khảo sát phục vụ đề tài
mà còn làm nguồn tư tiệu tham khảo về lâu dài, nếu có điều kiện thuận lợi, có thể tiến hành nhuận sắc,
bổ sung để cho ra đời một tuyển tập truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo trong khu vực tương
tự như công trình mà tác giả Lệ Như Thích Trung Hậu đã thực hiện đối với truyện cổ mang màu sắc
Phật giáo của Việt Nam.
3. Lịch sử vấn đề
3.1. Nhóm tư liệu nghiên cứu liên quan đến truyện cổ dân gian Việt Nam mang màu sắc Phật
giáo
Từ những thập kỷ 60-70 của thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu văn hoá-văn học dân gian như
Nguyễn Đổng Chi, Cao Huy Đỉnh, Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên… đã đề cập khá nhiều về vấn đề
ảnh hưởng của Phật giáo trong truyện cổ dân gian nước nhà thông qua các công trình: Kho tàng truyện
cổ tích Việt Nam (1957-1982), Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện “Tấm
Cám”(1963), Tìm hiểu thần thoại Ấn Độ (1964), Văn học dân gian Việt Nam (1972-1973), Tìm hiểu
tiến trình văn học dân gian Việt Nam (1974),…
Đinh Gia Khánh nhiều lần nhấn mạnh những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng tôn giáo nói
chung và tư tưởng Phật giáo ở nhiều truyện như Thần trùng, Thần hổ, Quỷ nhập tràng, Ma cà rồng,
Giếng Việt, Từ Đạo Hạnh, Mục Liên, Từ Thức, Duyên lạ nước Hoa, Con trâu Vạn Địch .v.v.. Tác giả
khẳng định vẻ đẹp tinh thần lành mạnh của dân tộc qua việc nhân dân cải biến hình ảnh đức Phật nhân vật tối cao của Phật giáo thành một hình tượng hiền từ, độ lượng, căm ghét kẻ ác, thương yêu
động cốt truyện của những truyện cổ tích mang màu sắc Phật giáo thành một đặc điểm hết sức độc đáo
của truyện cổ tích Việt Nam, đó là vấn đề chính - tà được xây dựng theo quan hệ kép, quan hệ song tồn
và chuyển hoá chứ không phải quan hệ một chiều, đối kháng tuyệt đối dẫn đến triệt tiêu một phía [8, tr.
1620, 1624]. Nhìn chung, Nguyễn Đổng Chi đã chỉ ra những đặc điểm khá quan trọng xoay quanh
nhóm truyện mà đề tài nghiên cứu.
Điểm chung ở các tác giả này thể hiện ở cái nhìn thống nhất xoay quanh hình tượng Bụt trong
truyện cổ tích Việt Nam. Các tác giả xếp Bụt vào lớp nhân vật đảm nhiệm chức năng lực lượng phù trợ
cho nhân vật chính đạt hạnh phúc như vật báu thần kỳ, con vật thần kỳ, các hình thức biến hoá thần kỳ
của con người và thiên nhiên, là lực lượng ủng hộ cái thiện, ủng hộ lẽ phải, tiếp sức cho những kẻ có
chính nghĩa mà không có thực lực. Bụt hiện thân cho vẻ đẹp hiền từ, nhân hậu gần gũi với mỗi người
dân Việt.
Như vậy, ở giai đoạn này, các chuyên gia đầu ngành văn học dân gian nói trên quan tâm nhiều
nhất vấn đề nhìn nhận trên đại thể bản chất tư tưởng Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam cũng như
quá trình nhân dân ta khẳng định bản sắc dân tộc qua sự tiếp biến, bản địa hoá tôn giáo ngoại lai. Đây
đó cũng đã có một số phác thảo những đặc điểm của những truyện có liên quan đến Phật giáo. Tuy
nhiên những công trình này cũng chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát sơ bộ hoặc chỉ đi vào phân tích một
khối lượng đối tượng hạn hẹp, chưa nghiên cứu hệ thống truyện cổ mang màu sắc Phật giáo của Việt
Nam và các nước Đông Nam Á.
Bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, trên cơ sở kế thừa những thành quả quý báu của những
nhà nghiên cứu đi trước kết hợp với những lý thuyết khoa học tiên tiến, lực lượng nghiên cứu ngữ văn,
văn hoá và tôn giáo khá hùng hậu như: Nguyễn Hữu Sơn, Lại Phi Hùng, Phạm Hải Triều, Nguyễn Duy
Hinh, Hoàng Văn Trụ, Lê Phong, Nguyễn Thị Nhàn, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Xuân Đức, Đào
Văn Tiến, Lê Mạnh Thát, Giác Dũng, Hồ Liên,… đã đi tiếp những bước sâu hơn, mới mẻ hơn trong
việc tiếp cận đối tượng.
Giai đoạn này có nhiều ý kiến bổ sung cho vấn đề nhìn nhận bản chất tinh thần Phật giáo trong
truyện cổ dân gian. Lê Phong đã phân tích những chứng cứ văn học để đi đến khẳng định mối giao hoà
tốt đẹp trên hành trình Phật giáo đi vào đời sống của quảng đại quần chúng: “[…] Trong cuộc đời
phong phú, phức tạp có sự gặp gỡ giữa tư tưởng nhân dân và tôn giáo khi cả hai chủ trương cho điều
giáo là “tính cách có thay đổi chứ không bất biến như đa số các trường hợp. Nhưng sự thay đổi này
không diễn ra như một quá trình như tự sự hiện đại mà mang tính đột biến, do ý đồ chủ quan của người
kể nhằm phục vụ “mưu toan” định sẵn ngay từ đầu.” [29]. Đây là gợi ý quan trọng cho việc khảo sát
đặc điểm nhân vật của nhóm truyện cổ mang màu sắc Phật giáo.
Không ít công trình nghiên cứu truyện cổ dân gian Việt Nam dưới góc độ nhân vật. Trong đó,
đáng lưu ý là nhân vật Bụt. Về nhân vật này, nhìn chung lớp những người nghiên cứu về sau vẫn
không có ý kiến biện chính lại những quan niệm trước đây mà vẫn cho Bụt là nhân vật đóng vai trò
phân biệt đúng - sai, phải - trái, tốt - xấu, hay giúp đỡ người lành, là sự hoá thân, sự hiện thực hoá cái
thiêng liêng của sự sống, cái đẹp và cái thiện 1 . Như vậy, các tác giả chỉ dừng lại ở việc xếp nhân vật
Bụt vào nhóm nhân vật trợ thủ, chưa chỉ ra sự khác biệt xoay quanh nhân vật này trong truyện cổ Việt
Nam với các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Gần với hướng khai thác đề tài luận văn là công trình “Cảm quan Phật giáo trong truyện cổ tích
Việt Nam” của Nguyễn Hữu Sơn - Lại Phi Hùng [116] và luận văn cao học “Truyện dân gian Việt
Nam về Phật giáo nhìn từ góc độ loại hình” của Đỗ Văn Đăng [38].
Trong công trình của mình, Nguyễn Hữu Sơn và Lại Phi Hùng lấy Kho tàng truyện cổ tích Việt
Nam gồm 200 truyện làm cơ sở khảo sát và đã thống kê được 29/200 truyện có liên quan xa gần đến
cảm quan Phật giáo. Trong đó, 18 truyện thể hiện ở cấp độ yếu tố, thành phần; 11 truyện hoàn chỉnh
hơn về nội dung, cốt truyện và nhân vật. Hai tác giả đã chỉ ra được 6 biểu hiện của cảm quan Phật giáo
trong các truyện cổ tích khảo sát có thể hiện trên các cấp độ yếu tố, chi tiết, nhân vật,… Đặc biệt, công
trình đưa lại một nhận định thú vị về kiểu dạng cốt truyện của nhóm đối tượng khảo sát: “Các truyện
mang cảm quan Phật giáo hoàn toàn chỉ xuất hiện đậm đặc ở truyện về nguồn gốc sự vật…”. Các tác
giả khẳng định “màu sắc cảm quan Phật giáo thường gắn bó chặt chẽ với nguồn gốc nguyên mẫu, giải
thích nguồn gốc sự vật và cuộc đời các danh nhân có uy vọng trong đời sống tâm linh quần chúng.”
[116, tr. 54-55]. Tiếc rằng các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ nhận định khái quát, không phân tích cụ
thể kiểu dạng đặc thù của hình thức kể chuyện sự tích để làm sáng tỏ tính chất vừa mâu thuẫn vừa
thống nhất của xu hướng thiêng hoá và thế tục hoá của truyện cổ mang màu sắc đạo Phật.
Luận văn thạc sĩ của học viên Đỗ Văn Đăng nghiên cứu khá tỉ mỉ về nhóm truyện cổ dân gian
mang màu sắc Phật giáo của nước ta. Sau khi phân chia đối tượng khảo sát thành ba loại: Phật thoại,
những truyện ảnh hưởng của Phật giáo và những truyện có mối giao thoa với kinh điển, điển tích Phật
giáo, tác giả đã phác hoạ kiểu dạng cấu tạo cốt kiểu truyện chính: kiểu Phật thoại dân gian thoát thai từ
(2008)),… Chỉ sơ bộ qua thống kê trên sẽ thấy hướng nghiên cứu so sánh thực sự phát triển mạnh vào
những thập niên 80, 90 của thế kỷ XX cho đến nay.
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu thống nhất cho rằng các quốc gia Đông Nam Á theo dòng
chữ Phạn chịu sự ảnh hưởng đặc biệt sâu đậm của Phật giáo và văn học Ấn Độ. Truyện cổ dân gian của
các nước này lấy đề tài chủ yếu và xuyên suốt từ các tác phẩm kinh điển của văn học xứ Phật Đà, đặc
biệt là Bổn sinh kinh (Jataka). Năm 1964, khi tìm hiểu thần thoại Ấn Độ, nhà nghiên cứu Cao Huy
Đỉnh từng chỉ ra mối liên hệ giữa những truyện xoay quanh nhân vật chú thỏ ở các nước Campuchia,
Lào, Thái Lan, Myanma,…với chuyện tiền thân đức Phật của người Ấn với tên gọi “sasa”, vừa chỉ con
thỏ, vừa chỉ mặt trăng [40, tr. 684]. Sang những năm cuối thập niên 80 đầu 90, nhiều kết quả nghiên
cứu Đông Nam Á tiếp tục khẳng định và đi sâu hơn vào khu vực văn học dân gian Đông Nam Á ảnh
hưởng từ văn học Phật giáo Ấn Độ. Lưu Đức Trung, từ những năm 1989 đến 1999 đã chỉ ra những ảnh
hưởng của Jataka vào văn học Lào, Thái Lan, Campuchia: “[…] Jataka vào Campuchia cuối thời kì
Ăngco, ngày càng trở thành nguồn đề tài quan trọng của văn học. Tư tưởng Phật giáo trong Jataka có
ảnh hưởng sâu đậm trong các tác phẩm văn học của Campuchia, xu hướng Jataka hoá ngày càng rõ nét
trong truyện cổ, ngụ ngôn. Các nhân vật phần nhiều là hiện thân của đức Phật. Lối kết thúc truyện cũng
giống như lối kết thúc trong Jataka, Jataka đến với Lào với cái tên Xattakhăm, phần nhiều truyện tiền
kiếp của đức Phật trở thành nguồn chất liệu trong sáng tác của văn học Lào…”[142, tr. 12-13]. Trong
Tuyển tập văn học Campuchia, ở phần giới thiệu bộ phận văn học truyền thống, Vũ Tuyết Loan phân
tích quá trình Phật hoá văn học Campuchia cũng như xu hướng Jataka hoá truyện cổ Campuchia sâu
đậm đến mức “[…] Văn học Campuchia thời kỳ này (thế kỷ XVI, XVII) nhiều lúc chỉ làm việc minh
hoạ đơn giản cho giáo lý nhà chùa, bởi lẽ quan niệm nghiệp căn (Karma) của Phật giáo chi phối hầu
hết các tình tiết cốt truyện.” [84, tr. 19].
Các tác giả Đức Ninh, Vũ Tuyết Loan, Nguyễn Tương Lai cũng khá thống nhất khi phân chia
văn học các nước Lào, Thái Lan, Campuchia thành ba loại: văn học dân gian, văn học nhà chùa, văn
học cung đình. Trong đó, tinh thần đạo Phật hầu như chiếm lĩnh xuyên suốt ba bộ phận nói trên 2 .
Một mặt nhấn mạnh những ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo cũng như văn học Ấn Độ, các nhà
nghiên cứu vẫn khẳng định sức mạnh nội sinh của văn hoá bản địa hình thành trước khi có sự xâm
nhập của đạo Phật: “[…] Từ thời xa xưa, ở các nước Asean đã từng có một nền văn hoá rực rỡ, nền văn
Việt Nam và Lào trên các cấp độ mô típ, kết cấu, cốt truyện, chủ đề,…[65]. Công trình này gợi ở nhiều
khía cạnh về mặt phương pháp để chúng tôi thực hiện đề tài.
Nhìn chung, các công trình trong nước đã đóng góp kết quả khoa học cụ thể thiết thực và quý
báu vào những khoảng trống của khu vực nghiên cứu truyện cổ Đông Nam Á trên tinh thần nghiên cứu
so sánh những nhóm dạng tác phẩm cụ thể, đặc thù. Tuy nhiên, về mảng truyện cổ dân gian mang màu
sắc Phật giáo, hầu hết các nghiên cứu chỉ dừng lại ở phạm vi một, hai quốc gia riêng lẻ. Từ thành quả
trên, luận văn chúng ta sẽ tiếp tục triển khai ở cấp độ khu vực.
Những nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài về lĩnh vực này cũng đưa lại những kết quả
đáng quan tâm. Siraporn Nathalang ở bài viết Sự xung đột và thoả hiệp giữa tín ngưỡng bản địa với
Phật giáo được phản ánh qua những thần thoại của người Thái về nguồn gốc cây lúa (Conflict and
compromise between the indigenous beliefs and Buddhism as reflected in Thai rice myths) đã dẫn ra ba
kiểu truyện được lưu truyền ở các dân tộc Thái Lan và phân tích những nghĩa lý mang tính lịch sử-dân
tộc của chúng phản ánh quá trình chuyển biến từ “cú sốc văn hoá” ở buổi đầu Phật giáo mới du nhập
vào lãnh thổ, va chạm với tín ngưỡng bản địa, đến những bước mối xung đột ấy dần dần được xoa dịu
và cuối cùng đi đến hoà bình. Qua phân tích, tác giả đã chỉ ra sự chuyển biến cục diện văn hoá và lịch
sử dẫn đến sự chuyển hoá về mặt cấu tạo cốt truyện dân gian truyền miệng như là một quy luật tất yếu
của văn học dân gian…[156, tr. 99-112]. William J. Klausner, đã cung cấp những câu chuyện thú vị
xoay quanh một nhân vật mà người Thái Lan gọi là “Hua paw” trong truyện kể truyền miệng vùng
Đông-Bắc nước này. Đó là những câu chuyện kể về những người đàn ông bứt mình ra khỏi vai trò trụ
cột của gia đình, rời bỏ nhà cửa, vợ con để vào chùa đi tu nhưng không thể thoát khỏi những ràng buộc
của đời sống thế tục và những ham muốn đời thường [156, tr. 69-72]. Pranee Wongthet trong bài
Chuyện tiền thân đức Phật và thế giới quan của người Lào Buông (The Jataka stories and Laopuan
worldview) đã đi sâu nghiên cứu tầm quan trọng của Jataka trong đời sống của người Lào Buông và
niềm tin của họ đối với cây bồ đề …[156, tr 47-60]…
Có thể chưa bao quát hết những ý kiến của các tác giả nước ngoài nhưng trong phạm vi hiểu
biết, chúng ta thấy hầu hết các nghiên cứu tập trung vào khía cạnh ảnh hưởng của Jataka trong truyện
cổ dân gian các nước theo Phật giáo Theravada hoặc chỉ giới thiệu đôi nét về một số típ truyện cổ dân
gian mang màu sắc Phật giáo mang nặng tính chất khảo cứu thực địa hơn là nghiên cứu từ góc độ loại
hình. Nhìn chung, đối tượng nghiên cứu của các tác giả này cũng chỉ gói gọn trong một phạm vi tác
Xuất phát từ góc độ loại hình, chúng tôi hy vọng có thể khái quát được một số nét đặc thù, có thể dựa
vào đấy làm điểm tựa để nhận diện những đơn vị tác phẩm thuộc nhóm đối tượng này và từ đấy có thể
tìm thấy những nét tương đồng và dị biệt của nó giữa các nước.
5. Phương pháp nghiên cứu
Triển khai đề tài này, chúng tôi cố gắng vận dụng một số phương pháp nghiên cứu phù hợp với
khoa nghiên cứu văn học dân gian, đặc biệt là nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử.
Phương pháp phân tích cấu trúc được sử dụng như là phương pháp nền tảng để khai thác những
thành tố cấu thành chỉnh thể nghệ thuật tác phẩm. Trong đó, thao tác phân lớp đối tượng, chia nhỏ các
thành tố bộ phận, sắp xếp chúng vào cùng một hệ thống và thống kê, phân loại các đơn vị đã phân
chia,…luôn hỗ trợ đắc lực trong quá trình khảo sát đối tượng.
Vận dụng phương pháp loại hình lịch sử, trên cơ sở những kết quả thu được từ thao tác giải
phẫu cấu trúc văn bản tác phẩm, những khía cạnh liên quan đến lịch sử - văn hoá luôn là điểm khơi
nguồn cho hầu hết những phác thảo khoa học đồng thời là điểm đến sau khi những kết quả nghiên cứu
đã được khái quát và hệ thống lại. Bởi lẽ, chúng tôi luôn quan niệm tất cả những khía cạnh đặc trưng
loại hình của một nền văn học, một tác giả hay một thể loại văn học,.. đều xuất phát từ những đặc điểm
nền tảng địa lý, kinh tế, xã hội, văn hoá,…mà nền văn học ấy, tác giả và thể loại văn học ấy sinh ra, tồn
tại, vận động và phát triển.
Phương pháp hệ thống cũng được quan tâm như là một trong những phương pháp chủ yếu của
quá trình nghiên cứu. Bởi lẽ đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đơn vị tác phẩm cụ thể nằm
trong hệ thống truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của các nước thuộc khu vực Đông-Nam
châu Á. Mọi biểu hiện trên từng tác phẩm riêng lẻ có ý nghĩa như là những dấu hiệu bộ phận có nét
tương đồng hoặc dị biệt với những đơn vị tác phẩm khác, từ đó có thể khái quát nên những đặc điểm
mang tính loại hình của đối tượng nghiên cứu cũng như những dấu hiệu ngoại lệ nằm chệch ra ngoài hệ
thống đó.
Phương pháp nghiên cứu so sánh tham gia tích cực trong việc đối chiếu những đặc điểm mang
tính loại hình giữa truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt Nam và các nước bạn cùng
khu vực. Phương pháp này đóng vai trò quan trọng giúp chúng tôi thu được những kết quả khảo sát mà
nhiệm vụ đề tài đặt ra.
Chương 2: Truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt Nam và các nước Đông Nam
Á dưới cấp độ cốt truyện (37 trang)
Chương 3: Truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt Nam và các nước Đông Nam
Á dưới cấp độ nhân vật (29 trang)
Chương 4: Một số mô típ tiêu biểu trong truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt
Nam và các nước Đông Nam Á (29 trang)