BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
__________________
Nguyễn Hữu Nghóa PHỤ LỤC
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ QUỐC HÙNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Á cổ đại. Việt Nam nằm trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á cổ đại từ sớm, trước khi bị ảnh hưởng văn
hoá Há
n. Phật giáo đã cấy lên cơ tầng văn hoá bản địa Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng
những dấu ấn vật chất và tinh thần đậm tính nhân văn, góp phần tạo nên những thời kỳ phát triển thịnh
vượng và huy hoàng trong lịch sử các dân tộc.
Đạo Phật trong hành trình phát tích truyền thừa của mình đã tạo nên một vùng quang phổ văn
hoá rộng lớn. Là một tôn giáo mang tính quốc tế, đặc biệt và độc đáo hơn bất kỳ một tôn giáo nào,
tư
tưởng Phật giáo có một khả năng hoà phối ở mức cao nhất với quan điểm sống, tình cảm và nguyện
vọng của quảng đại quần chúng lao động các dân tộc. Nghiên cứu nguồn truyện cổ dân gian mang màu
sắc Phật giáo, ở một phạm vi nhất định, nhằm phác thảo lại con đường, cơ chế mà Phật giáo thâm nhập
vào đời sống các cư dân bản địa Đông Na
m Á để phát huy vai trò của nó trong đời sống văn hoá các
dân tộc, qua đó, đưa lại những khám phá về cách thức mà nhân dân các dân tộc tiếp biến tôn giáo này
trở thành một thành tố văn hoá ưu việt thúc đẩy sự phát triển cộng đồng. Đó là một sự quay lại, chiêm
nghiệm, tổng kết quá khứ đồng thời mở ra những cánh cửa mới để bước vào tương lai, phục vụ yêu cầu
đổi mới nghiên cứu, đổi mới sáng tác văn học, đổi mới tư duy văn hoá tôn giá
o cũng như đổi mới chiến
lược phát triển kinh tế xã hội.
Việc nghiên cứu văn học dân gian của ta hiện nay đang xích dần hơn với khoa nghiên cứu văn
học dân gian quốc tế và đạt được những thành tựu khá to lớn, đã đặt ra được những vấn đề quan trọng
có tính chất lí luận về nguồn gốc, bản c
hất, đặc trưng thể loại, quá trình lịch sử của tác phẩm văn học
dân gian, phương pháp nghiên cứu tác phẩm phônclo. Tuy nhiên, cấp độ nghiên cứu trung gian giữa
nghiên cứu khái quát văn học dân gian với nghiên cứu sáng tác dân gian cụ thể còn khá nhiều khoảng
trống. Bên cạnh việc áp dụng những thành tựu của cấu trúc luận vào lĩnh vực nghiên cứu thể loại, việc
khoa
nh vùng nghiên cứu những nhóm đối tượng mang những nét đặc thù loại hình, đặc biệt là trên cơ
sở nghiên cứu so sánh, đang là hướng đi chuyên sâu, thiết thực không chỉ góp phần thu hẹp những
khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu phônclo mà còn mang ý nghĩa liên nghành, đóng góp vào
cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của các nước Đông Nam Á. Từ đấy, tiến hành so sánh sự giống,
khác nhau giữa truyện của Việt Nam và các nước trong khu vực để từ đó có thể hiểu được những quy
luật vận động của một nhóm loại truyện cổ dân gian trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở khu vực
Đông Nam Á mà trước đây ít nhiều đã đư
ợc tiến hành trên một vài kiểu truyện.
Thứ hai, trên cơ sở những đặc điểm mang tính loại hình của nhóm đối tượng khảo sát, bước đầu
đi vào những đối sánh cụ thể ở các cấp độ cốt truyện, nhân vật và mô típ để chỉ ra những khác biệt giữa
truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt Nam so với truyện cổ dân gia
n mang màu sắc
Phật giáo của các nước bạn cùng khu vực.
Thứ ba, nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cũng hướng đến mục đích bổ sung những mảng nghiên
cứu còn khá trống trải trong lĩnh vực nghiên cứu văn học dân gian Đông Nam Á đồng thời đem lại
những kết quả thiết thực phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu văn học dân gian.
Thứ tư, xác lập một hệ thống các đơn vị tác phẩm không chỉ làm tư liệu khảo sát phục vụ đề tài
m
à còn làm nguồn tư tiệu tham khảo về lâu dài, nếu có điều kiện thuận lợi, có thể tiến hành nhuận sắc,
bổ sung để cho ra đời một tuyển tập truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo trong khu vực tương
tự như công trình mà tác giả Lệ Như Thích Trung Hậu đã thực hiện đối với truyện cổ mang màu sắc
Phật giáo của Việt Nam.
3. Lịch sử vấn đề
3.1.
Nhóm tư liệu nghiên cứu liên quan đến truyện cổ dân gian Việt Nam mang màu sắc Phật
giáo
Từ những thập kỷ 60-70 của thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu văn hoá-văn học dân gian như
Nguyễn Đổng Chi, Cao Huy Đỉnh, Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên… đã đề cập khá nhiều về vấn đề
ảnh hưởng của Phật giáo trong truyện cổ dân gian nước nhà thông qua các công trình: Kho tàng truyện
cổ tích Việt Nam (1957-1982), Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện “Tấm
Cám”(1963), Tì
m hiểu thần thoại Ấn Độ (1964), Văn học dân gian Việt Nam (1972-1973), Tìm hiểu
tiến trình văn học dân gian Việt Nam (1974),…
của nhóm truyện này trên phạm vi khu vực.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi, dành hai mươi lăm năm cho công trình Kho tàng truyện cổ
tích Việt Nam, đã đúc kết nhiều thành quả chiêm nghiệm quý báu khi nghiên cứu mảng truyện cổ có
dính líu đến đạo Phật. Thứ nhất, tác giả nhận định rằng: “Phần lớn truyện m
ang màu sắc Phật giáo là
những truyện cổ tích thế sự. Rất hiếm có những truyện mà nhân vật trung tâm của nó còn giữ được tầm
vóc của quá khứ như ông Khổng Lồ trong truyện Khổng Lồ đúc chuông” [8, tr. 80]. Đặc điểm thứ hai
của nhóm truyện cổ dân gian có ảnh hưởng của Phật giáo là “hiện tượng khai thác đề tài tình duyên để
chuyển tải ít nhiều tư tưởng có liên quan đến đạo P
hật” [8, tr. 1650]. Đặc điểm thứ ba là “tuy loại
truyện mang chủ đề tôn giáo chiếm số lượng ít, người Việt lại có khá nhiều truyện dường như là để
cảnh giới người tu hành” [8, tr. 1673]. Đặc biệt, Nguyễn Đổng Chi đã khái quát từ những biểu hiện vận
động cốt truyện của những truyện cổ tích mang màu sắc Phật giáo thành một đặc điểm hết sức độc đáo
của truyện cổ tích Việt Nam, đó là vấn đề chí
nh - tà được xây dựng theo quan hệ kép, quan hệ song tồn
và chuyển hoá chứ không phải quan hệ một chiều, đối kháng tuyệt đối dẫn đến triệt tiêu một phía [8, tr.
1620, 1624]. Nhìn chung, Nguyễn Đổng Chi đã chỉ ra những đặc điểm khá quan trọng xoay quanh
nhóm truyện mà đề tài nghiên cứu.
Điểm chung ở các tác giả này thể hiện ở cái nhìn thống nhất xoa
y quanh hình tượng Bụt trong
truyện cổ tích Việt Nam. Các tác giả xếp Bụt vào lớp nhân vật đảm nhiệm chức năng lực lượng phù trợ
cho nhân vật chính đạt hạnh phúc như vật báu thần kỳ, con vật thần kỳ, các hình thức biến hoá thần kỳ
của con người và thiên nhiên, là lực lượng ủng hộ cái thiện, ủng hộ lẽ phải, tiếp sức cho những kẻ có
chính nghĩa mà không có thực lực. Bụt hiện thâ
n cho vẻ đẹp hiền từ, nhân hậu gần gũi với mỗi người
dân Việt.
Như vậy, ở giai đoạn này, các chuyên gia đầu ngành văn học dân gian nói trên quan tâm nhiều
nhất vấn đề nhìn nhận trên đại thể bản chất tư tưởng Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam cũng như
quá trình nhân dân ta khẳng định bản sắc dân tộc qua sự tiếp biến,
bản địa hoá tôn giáo ngoại lai. Đây
quát cũng như những định hướng sơ bộ về những khía cạnh của tư tưởng Phật giáo trong nhóm truyện
mà đề tài nghiên cứu.
Đặc biệt, hàng loạt những bài nghiên cứu của nhiều tác giả đã góp phần soi rọi, lật xới vấn đề
ảnh hưởng của đạo P
hật đối với truyện Tấm Cám mà Đinh Gia Khánh đã khơi nguồn từ ba bốn mươi
năm trước: Cảm quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Hữu Sơn, Lại Phi Hùng -
1994), Đôi điều suy nghĩ về truyện Tấm Cám (Phạm Xuân Nguyên - 1994), Mối giao lưu và tương tác
văn hoá giữa các nước Đông Nam Á qua truyện Tấm Cám (Nguyễn Tấn Đắc - 1996),
Thử phân tích
vài biểu hiện của đặc điểm nhân ái trong truyện cổ tích Việt Nam (Phạm Hải Triều - 1996),... Mặc dù
việc nhìn nhận ảnh hưởng của đạo Phật trong truyện Tấm Cám vẫn chưa ngã ngũ nhưng các tác giả đã
đưa lại những tham chiếu từ nhiều góc độ, trên nhiều bình diện: văn học, văn hoá, lịch sử, tôn
giáo.v.v..có tác dụng gợi mở nhiều cánh cửa để tham sát vấn đề. Đây
là những tài liệu tham khảo liên
quan trực tiếp đến đề tài luận văn khi khảo sát các típ truyện tiêu biểu trong truyện cổ dân gian mang
màu sắc Phật giáo của khu vực Đông Nam Á. Dù vậy, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở một
típ truyện mà chưa mở rộng phạm vi khảo sát trên diện rộng các típ truyện mang màu sắc đạo Phật của
Việt Nam và các nước
Đông Nam Á.
Cũng xuất phát từ những chiêm nghiệm cùng những phân tích khá lý thú và độc đáo của tác giả
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam khi bàn về quan hệ kép, quan hệ song tồn và chuyển hoá của hai trục
chính-tà trong truyện cổ tích có liên quan đến Phật giáo, Lê Tiến Dũng mở sang cánh cửa tiếp cận trên
bình diện nhân vật. Tác giả khái quát một đặc điểm của nhân vật trong truyện cổ mang màu sắc Phật
giáo là “tính cách có thay đổi chứ không bất biến như đa số các trường hợp. Nhưng sự thay đổi này
không diễn ra như một quá trình như tự sự hiện đại mà mang tính đột biến, do ý đồ chủ quan của người
kể nhằm phục vụ “mưu toan” định sẵn ngay từ đầu.” [29]. Đây là gợi ý quan trọng cho việc khảo sát
đặc điểm
nhân vật của nhóm truyện cổ mang màu sắc Phật giáo.
Không ít công trình nghiên cứu truyện cổ dân gian Việt Nam dưới góc độ nhân vật. Trong đó,
những truyện ảnh hưởng của Phật giáo và
những truyện có mối giao thoa với kinh điển, điển tích Phật
giáo, tác giả đã phác hoạ kiểu dạng cấu tạo cốt kiểu truyện chính: kiểu Phật thoại dân gian thoát thai từ
truyện tích nhà chùa và kiểu Phật thoại xây dựng từ típ truyện dân gian. Kế đến, tác giả khảo sát 17 mô
típ đặc trưng của nhóm truyện này. Tác giả cũng tiến hành nghiên cứu khá kỹ loại hình nhân vật Phật
giáo. Đặc biệt, người viết dành hẳn một chương để bước đầu so sánh khái quát kiểu truyện dâ
n gian
1
Xem Hồ Liên [81], Lê Phong [105], Nguyễn Hữu Sơn, Lại Phi Hùng [116],
Việt Nam mang màu sắc Phật giáo và kiểu truyện cùng loại của một số nước trong khu vực. Công trình
này mang lại những đóng góp đáng trân trọng và là nguồn tư liệu tham khảo thực sự bổ ích cho chúng
tôi khi nghiên cứu đề tài của luận văn. Tuy nhiên, cần thấy rằng bình diện cốt truyện chưa được tác giả
khai thác rốt ráo và khoa học, cụ thể là tác giả đồng nhất giữa việc phân loại với việc phác hoạ các
dạng cấu tạo cốt truyện dẫn đến sự thiếu rõ ràng và thuyết phục khi đưa ra những kiểu dạng cốt truyện
của nhóm
đối tượng khảo sát. Hệ thống mô típ mà tác giả phác thảo khá dàn trải do sự phân chia đối
tượng thành những thành phần quá chi tiết thay vì có thể gộp vào những kiểu dạng chung. Phần đối
sánh giữa truyện người Việt với truyện các nước Đông Nam Á chỉ m
ang tính khái quát và là những
phác thảo đơn sơ chứ chưa phải là đối tượng khảo sát chính.
Tóm lại, dù đã đề cập đến khá nhiều khía cạnh xoay quanh mối quan hệ giữa Phật giáo và
truyện cổ dân gian Việt Nam, các công trình trên cũng chỉ dừng lại ở phạm vi dân tộc chứ chưa tiến
hành nghiên cứu hệ thống nhóm truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của nước ta với các quốc
gia Đông Nam Á.
3.2. Nhóm tư liệu nghiên cứu liên quan đến truyện cổ dân gi
an mang màu sắc Phật giáo của
các nước Đông Nam Á
Xoay quanh vấn đề ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học dân gian Đông Nam Á có một số tác
giả từ thập niên 60 của thế kỷ trước đã đề cập ở trên như Cao Huy Đỉnh (Tìm hiểu thần thoại Ấn Độ
tích quá trình Phật hoá văn học Campuchia cũng như xu hướng Jataka hoá truyện cổ Campuchia sâu
đậm đến mức “[…] Văn học Campuchia thời kỳ này (thế kỷ XVI, XVII) nhiều lúc chỉ làm việc minh
hoạ đơn giản cho giáo lý nhà chùa, bởi lẽ quan niệm nghiệp căn (Karma) của Phật giáo chi phối hầu
hết các tình tiết cốt tru
yện.” [84, tr. 19].
Các tác giả Đức Ninh, Vũ Tuyết Loan, Nguyễn Tương Lai cũng khá thống nhất khi phân chia
văn học các nước Lào, Thái Lan, Campuchia thành ba loại: văn học dân gian, văn học nhà chùa, văn
học cung đình. Trong đó, tinh thần đạo Phật hầu như chiếm lĩnh xuyên suốt ba bộ phận nói trên
2
.
Một mặt nhấn mạnh những ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo cũng như văn học Ấn Độ, các nhà
nghiên cứu vẫn khẳng định sức mạnh nội sinh của văn hoá bản địa hình thành trước khi có sự xâm
nhập của đạo Phật: “[…] Từ thời xa xưa, ở các nước Asean đã từng có một nền văn hoá rực rỡ, nền văn
minh nông nghiệp lúa nước phát sinh rất sớm. Nh
iều nhà nghiên cứu gọi lớp văn hoá nguyên sơ này là
cơ tầng văn hoá Đông Nam Á” [46, tr. 2]. Các tác giả phân tích quá trình tiếp biến chủ động, có chọn
lọc của các dân tộc Đông Nam Á: “Những tác phẩm văn học cổ đại Ấn Độ khi vào Đông Nam Á gặp
ngay đời sống dân gian vô cùng sống động đã được dân gian hoá, được tái sinh trong dân gian, làm
giàu thêm cho kho tàng văn học dân gian vùng này.” [46, tr. 5].
Từ góc độ loại hình lịch sử và vận dụng lý thuyết nghiên cứu cấu trúc luận, N
guyễn Tấn Đắc đã
chỉ ra mối quan hệ nguồn cội của típ truyện U Thền của dân tộc Thái (Việt Nam) với những truyện
cùng típ ở các quốc gia Đông Nam Á từ trong văn học Phật giáo [35, tr. 139]. Theo đó, tác giả nêu cụ
thể “[…] Các truyện về U Thền (hay U Thền, Ú Thêm) và về Xi Thuần (hay Xi Thốn) của người Thái ở
Việt Nam đã tiếp nhận từ các type truyện Rot
hisen (hay Butthesen) và Sudhana (hay Xi Thôn) phổ biến
ở các nước Đông Nam Á theo Phật giáo Theravada là Lào, Campuchia, Thái Lan và Myanma. Và
nguồn gốc sâu xa của chúng là từ Đất nước Phật Đà - Ấn Độ [35, tr. 150-151]. Đặc biệt, tác giả chỉ ra
những điểm dị biệt trong thế đối sánh truyện Việt Nam với truyện các nước bạn cùng khu vực: “Cũng
tiếp nhận từ Ấn Độ, nhưng cách người Thái
tộc của chúng phản ánh quá trình chuyển biến từ “cú sốc văn hoá” ở buổi đầu Phật giáo mới du nhập
vào lãnh thổ, va chạm với tín ngưỡng bản địa, đến những bước mối xung đột ấy dần dần được xoa dịu
và cuối cùng đi đến hoà bình. Qua phân tích, tác giả đã chỉ ra sự chuyển biến cục diện văn hoá và lịch
sử dẫn đến sự chuyển hoá về mặt cấu tạo cốt truyện dân gian truyền miệng như là một quy luật tất yếu
của văn học dân gian…[156, tr. 99-112]. William J. Klausner, đã cung cấp những câu chuyện thú vị
xoay quanh một nhân vật mà người Thái Lan gọi là “Hua paw” trong truyện kể truyền miệng vùng
Đông-Bắc nước này. Đó là những câu chuyện kể về những người đàn ông bứt m
ình ra khỏi vai trò trụ
cột của gia đình, rời bỏ nhà cửa, vợ con để vào chùa đi tu nhưng không thể thoát khỏi những ràng buộc
của đời sống thế tục và những ham muốn đời thường [156, tr. 69-72]. Pranee Wongthet trong bài
Chuyện tiền thân đức Phật và thế giới quan của người Lào Buông (The Jataka stories and Laopuan
worldview) đã đi sâu nghiên cứu tầm quan trọng của Jataka trong đời sống của người Lào Buông và
niềm tin của họ đối với cây bồ đề …[156, tr 47-60]…
Có thể chưa bao quát hết những ý kiến của các tác giả nước ngoài nhưng trong phạm vi hiểu
biết, chúng ta thấy hầu hết các nghiên cứu tập trung vào khía cạnh ảnh hưởng của Jataka trong truyện
cổ dân gian các nước theo Phật giáo Theravada hoặc chỉ giới thiệu đôi nét về một số típ truyện cổ dân
gian mang màu sắc Phật giáo mang nặng tính chất khảo cứu thực địa hơn là nghiê
n cứu từ góc độ loại
hình. Nhìn chung, đối tượng nghiên cứu của các tác giả này cũng chỉ gói gọn trong một phạm vi tác
phẩm hạn hẹp, chưa khảo sát diện rộng nhóm truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của các nước
Đông Nam Á từ góc độ loại hình.
Những phác họa từ các công trình đi trước có thể còn thiếu nhưng cũng đủ cho thấy hướng
nghiên cứu mối quan hệ giữa truyện cổ dân gian với Phật giáo được đặc biệt quan tâm. Nhiều vấn đề
đã được khẳng định. Nhiều vấn đề chỉ dừng ở mức gợi mở. Đấy chính là vấn đề chúng tôi
quan tâm.
Trong phạm vi đề tài của luận văn, chúng tôi xác định hướng nghiên cứu nhằm bổ sung phần phác hoạ
diện mạo cốt truyện, nhân vật và hệ thống các mô típ của nhóm truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật
giáo của Việt Nam và các nước cùng khu vực Đông Nam Á ở mức độ bao quát hơn. Đề tài sẽ tập trung
5. Phương pháp nghi
ên cứu
Triển khai đề tài này, chúng tôi cố gắng vận dụng một số phương pháp nghiên cứu phù hợp với
khoa nghiên cứu văn học dân gian, đặc biệt là nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử.
Phương pháp phân tích cấu trúc được sử dụng như là phương pháp nền tảng để khai thác những
thành tố cấu thành chỉnh thể nghệ thuật tác phẩm. Trong đó, thao tác phân lớp đối tượng, chia nhỏ các
thành tố bộ phận, sắp xếp chúng vào cùng một hệ thống và thống kê, phân loại các đơn vị đã phân
chia,…luôn hỗ trợ đắc lực trong quá trình khảo sát đối tượng.
Vận dụng phương pháp loại hình lịch sử, trên cơ sở những kết quả thu được từ thao tác giải
phẫu cấu tr
úc văn bản tác phẩm, những khía cạnh liên quan đến lịch sử - văn hoá luôn là điểm khơi
nguồn cho hầu hết những phác thảo khoa học đồng thời là điểm đến sau khi những kết quả nghiên cứu
đã được khái quát và hệ thống lại. Bởi lẽ, chúng tôi luôn quan niệm tất cả những khía cạnh đặc trưng
loại hình của một nền văn học, một tác giả hay một thể loại văn học,.. đều xuất phát từ những đặc điểm
nền tảng địa lý, kinh tế, xã hội, văn hoá,…m
à nền văn học ấy, tác giả và thể loại văn học ấy sinh ra, tồn
tại, vận động và phát triển.
Phương pháp hệ thống cũng được quan tâm như là một trong những phương phá
p chủ yếu của
quá trình nghiên cứu. Bởi lẽ đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đơn vị tác phẩm cụ thể nằm
trong hệ thống truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của các nước thuộc khu vực Đông-Nam
châu Á. Mọi biểu hiện trên từng tác phẩm riêng lẻ có ý nghĩa như là những dấu hiệu bộ phận có nét
tương đồng hoặc dị biệt với những đơn vị tác phẩm
khác, từ đó có thể khái quát nên những đặc điểm
mang tính loại hình của đối tượng nghiên cứu cũng như những dấu hiệu ngoại lệ nằm chệch ra ngoài hệ
thống đó.
Phương pháp nghiên cứu so sánh tham gia tích cực trong việc đối chiếu những đặc điểm mang
tính loại hình giữa truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt Nam và các nước bạn c
ùng
khu vực. Phương pháp này đóng vai trò quan trọng giúp chúng tôi thu được những kết quả khảo sát mà
Ngoài phần Mở đầu (17 trang) và phần Kết luận (4 trang), nội dung luận văn được triển khai
theo bốn chương:
Chương 1: Phật giáo và truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo trong đời sống văn hoá
các dân tộc Đông Nam Á (26 trang)
Chương 2: Truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt Nam và các nước Đông Nam
Á dưới cấp độ cốt truyện (37 trang)
Chương 3: Truyện cổ dân gian m
ang màu sắc Phật giáo của Việt Nam và các nước Đông Nam
Á dưới cấp độ nhân vật (29 trang)
Chương 4: Một số mô típ tiêu biểu trong truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt
Nam và các nước Đông Nam Á (29 trang)
Chương 1: PHẬT GIÁO VÀ TRUYỆN CỔ DÂN GIAN MANG MÀU SẮC
PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CÁC DÂN TỘC
ĐÔNG NAM Á
1.1. Phật giáo trong đời sống văn hoá các dân tộc Đông Nam Á
1.1.1. Phật giáo theo lý trình của gió mùa qua các đường buôn bán trên vùng biển Nam (Nam
Dương) đến vùng đất Vàng (Kim Địa)
3
từ những thế kỷ II-III sau công nguyên. Cùng với sự phát triển
thương nghiệp hàng hải, lần lượt mọc lên các đô thị thiêng liêng (sacred cities), những lãnh địa bến
cảng (harbor states) thời cổ, nơi trung chuyển thương phẩm đồng thời là những trung tâm Phật giáo cổ
đại như Phù Nam (thế kỷ III), Dvaravati (thế kỷ VI), Sailendra, Matarm, Pagan, Srivijaya (thế kỷ VII-
VIII) [37]… Sự xuất hiện ban đầu của Phật giáo diễn ra ở các quốc gia cổ ở khu vực nà
y có thể sớm -
muộn, trực tiếp - gián tiếp khác nhau, xảy ra những va chạm với tín ngưỡng truyền thống của người
dân bản xứ cũng như những giai đoạn lịch sử phát triển với nhiều thăng trầm, biến động…nhưng trên
cục diện chung, Phật giáo đã nhanh chóng hoà nhập êm đẹp, đem những tinh hoa của nó góp phần tạo
nên những bước chuyển mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của các dân tộc.
Từ đó, người Giao Chỉ ảnh hưởng Phật giáo của Ấn Độ. [37,
tr. 188]
mẫu quốc vương Asoka
6
xứ Phật Đà. Vua Li Thay, triều đại Sukhothai (Thái Lan) (1347-1368), xây
dựng thành phố Khamphaeng Phet để thay cho thành phố Chakangrao nằm đối diện bên kia sông Ping
với hai công trình kiến trúc giá trị nhất, 2 ngôi chùa cổ làm theo kiểu Srilanka là Vat Pra Siriyabot, nơi
chứa tượng Phật lớn nhất ở Sukhothai và Vat Chang Rob (chùa Voi) có ngôi tháp lớn mà quanh nền có
những hình voi đắp nổi. Vua Phía Tạkxỉn, triều đại Aynthaya (1767-1782) có công trong việc phát
triển đạo Phật và cho xây dựng nhiều chùa chiền ở thôn Buri. Các đời vua Rama I, II, III, IV (thế kỷ
XVIII-XIX) đều tích cực xây dựng Phật giáo. Năm
1782, vua Rama I đã tổ chức một hội nghị Phật
giáo nhằm giải thích toàn bộ Tam Tạng kinh (Tripitaka). Thế kỷ XIX, vua Mongkut (Rama IV, vị vua
đi tu trong suốt 27 năm tại chùa Mahathat - chùa Xá Lỵ lớn) đã đặt nền móng cho Phật giáo Thái Lan
hiện đại bằng cách thực hiện một cuộc cải cách sanga (tăng đoàn), lập ra giáo phái nổi tiếng
Dhammayut. Vua Chulalongkorn (1868-1910) cho xuất bản cuốn Điển lễ bằng tiếng Pali, tiếp tục cải
cách Phật giáo và đặt Phật giáo dưới sự bảo trợ của nhà
vua… Các vị vua Phật tử thuần thành của Lào
như vua Chậu Phạ Ngừm (1316-1376), Chậu Phônthixảrarat (1520-1550), vua Xulinha Vônga (1637-
1694),… đã nối tiếp nhau đưa Phật giáo và văn hoá dân tộc phát triển đến độ toàn thịnh. Campuchia có
vua Jayavarman II (802-850), vua Suryavacman II (1113-1150), Jayavarman VII (1181-
1218),…Myanma có các ông vua Phật tử Bayinnaung (1551-1581), Batgiđo (1819-1837)
7
,…
Ở Việt Nam, thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo và dân tộc là thời kỳ của tám vị vua nhà Lý
8
và các vị vua nhà Trần
9
, đều là những Phật tử nhiệt thành, vừa lo việc triều chính vừa học đạo, hành
thần, vừa là Phật, đồng nhất với Indra, vừa là thần vua (Devaraje), vừa là Phật vua (Buddharaja). Vai
trò chính trị của Phật giáo ở các nước Đông Nam Á theo Phật giáo Theravada đặc biệt quan trọng. Nó
thể hiện cụ thể trên mối qua
n hệ hai chiều giữa nhà nước và tổ chức Phật giáo. Hiện tượng Phật giáo
gắn bó mật thiết với chính trị biểu hiện qua việc thần thánh hoá các quốc vương ở các nước này rõ hơn rất
nhiều so với ở Việt Nam.
Quá trình tiếp biến và gìn giữ những tinh hoa của Phật giáo ở người Việt ít có những điều kiện
thuận lợi hơn ở các nước an
h em cùng khu vực. Vị trí văn hoá Ấn Độ ở Lào, Thái Lan, Campuchia
đóng vai trò thiết chế nhà nước. Trong khi ở Việt Nam, vai trò đó thuộc về văn hoá Trung Hoa. Đạo
Phật các dân tộc theo đạo Phật Tiểu thừa tiếp nhận một cách tự nhiên và có ảnh hưởng lớn lao cả trong
đời sống của người dân cũng như thiết chế nhà nước và được xem là quốc giáo, không có tình trạng đối
lập giữa văn hoá dân gian và văn hoá kẻ thống trị ngoại b
ang. Phạm Đức Dương cho rằng sự tiếp thu
Phật giáo của các quốc gia Campuchia, Lào, Thái Lan,…nhìn chung có nhiều điều kiện thuận lợi hơn,
“thuận chiều” hơn so với Việt Nam. Và ông cũng cho rằng: “[…] Chúng ta thừa nhận ảnh hưởng của
hai nền văn hoá lớn Ấn Độ, Trung Hoa đối với tất cả các nước Đông Nam Á, nhưng mức độ đậm nhạt
có khác nhau. Văn hoá Lào, Thái Lan,
Campuchia chịu ảnh hưởng đậm của văn hoá Ấn Độ. Văn hoá
Việt Nam chịu ảnh hưởng đậm của văn hoá Trung Hoa.” [31, tr. 799-800].
1.1.3. Dấu tích Phật giáo cụ thể và đậm đặc nhất chính là hệ thống những công trình kiến trúc
trên những lãnh thổ mà nó đi qua. Dấu vết đó hình thành nên những phong cách nghệ thuật của những
đế chế Phật giáo huy hoàng ở Thái Lan như: Giai đoạn nghệ thuật Dvaravati (VI-XI), trường phái nghệ
thuật Ayuthya (XIV-XVIII), trường phái nghệ thuật Băng Cốc (XVIII-XX),… Vô số những công trình
chùa thá
p đồ sộ làm chứng nhân trong suốt trường kỳ lịch sử của đất nước này như: Lampang Luang,
ngôi chùa cổ nhất và trang nhã nhất của Bắc Thái Lan do công chúa Chama Devi xây dựng vào thế kỷ
VII; vat Prathat Haripunchai và vat Kunkut một trong những vat cổ xưa nhất ở Bắc Thái Lan (thế kỷ
IX); vat Chiang Mai (XIII), vat Chomkiri Nagaproth (XIV), vat Bovornivet ở Băng Cốc (Thái Lan-thế
kỷ XVIII);… Campuchia có Phimeanakas (cung điện trên không), một trong những đền núi của người
XVII), chùa Thầy (thế kỷ XI),…
Tuy nhiê
n, cũng cần thấy rằng, ở nước ta, cùng với sự mất đi vai trò lịch sử đỉnh cao của đạo Phật
sau thời Lý, Trần, hoạt động xây chùa chiền cũng như nhiều sinh hoạt Phật giáo khác đã không trở
thành nếp sinh hoạt thường nhật trong đời sống của dân tộc. Đặc điểm này hoàn toàn khác với các
nước bạn cùng khu vực.
1.1.4. Phật giáo thâm nhập hết sức mạnh mẽ vào các loại hình văn học nghệ thuật của các nước
thuộc khu vực Đông Nam Á.
Theo dòng thâm nhập của đạo Phật, nhiều truyện cổ Ấn Độ như
Panchatantra, Biển sữa, Tripitaka, Truyện con vẹt. v.v. có ảnh hưởng sâu rộng và ngày càng trở thành
nguồn đề tài quan trọng của văn học nghệ thuật các nước này [142]. Điều đó thể hiện qua các truyện
Buddhiaen (hay còn gọi là Rôthixên), Krum Subhamitr (Cơrông Xô Phẹ Mứt), Ông già trồng dưa chuột
ngọt, Xuvan Xirax Axut (Campuchia), Chămphaxithôn, Nàng Ka Cây, Cal
akệt (Lào), Thết Mahảchạt
(Thái Lan) [103],… Đặc biệt là một loạt tác phẩm cải biến từ Ramayana của Ấn Độ như Phra Lắc
Phra Lam (Lào), Riêm Kê (Campuchia), Rama Kiên (Thái Lan) hay những câu chuyện về chú thỏ
thông minh tuyệt trí bắt nguồn từ hình tượng một tiền thân của đức Phật sống cùng với giả can, khỉ và
gấu bên dòng sông Hằng truyền tụng rộng rãi trong nhân dân…
10
Phần này chúng tôi sử dụng tư liệu từ Ngô Văn Doanh [25]
Nhiều truyện cổ về loài vật của Việt Nam cũng ảnh hưởng từ văn học Phật giáo Ấn Độ như Thầy
bói xem voi, Mèo lại hoàn mèo, Cua và cò.v.v... Dấu vết của Ramayana cũng ít nhiều tìm thấy trong
truyện Dạ Thoa Vương. Hình tượng chằn phảng phất trong truyện Thạch Sanh. Mô típ Tác biển tìm vợ
có trong truyện tiền thân đức Phật cũng gần gũi với Sự tích con gi
ã tràng..v.v.
Từ xu hướng bản địa hoá các tác phẩm Phật giáo của văn học Ấn Độ trong văn học dân gian đến
xu hướng dân tộc hoá các sáng tác ấy trong văn học viết là một đặc điểm chung của văn học các nước
Đông Nam Á. Nguyễn Tấn Đắc nhiều lần nhấn mạnh sức mạnh nội sinh của văn hoá khu vực này:
(1052-1096), Viên Thông (1080-1151) và Huyền Quang (1254-1334)…đã góp phần lớn vào công việc
chính trị, ngoại giao. Họ đều là những người uyên bác, thông hiểu cả Phật giáo lẫn Hán học, am hiểu
thiên văn, địa lý, y học, văn học…
Tuy nhiên, về mặt này, giữa văn hoá Phật giáo của Việt Nam và văn hoá Phật giáo ở các nước bạn
cùng khu vực cũng có những khác biệt đáng kể. Trong khi nhân dân các quốc gia theo Phật giáo
Theravada coi sinh hoạt tu tập như là bộ phận quan trọng của đời sống thường nhật thì người Việt lại
“quy hoạch” sinh hoạt Phật giáo trong một giới hạn riêng, tương đối tách bạch với sinh hoạt thế tục.
Người Việt qua
n niệm một người đã phát nguyện đi tu, gửi thân nơi cửa Phật, nguyện đi theo Tam bảo
thì suốt đời không được hoàn tục. Trả áo nhà chùa là một hành động chứng tỏ sự thối thất đạo hạnh,
một sự thất bại. Một người bỏ dở việc tu hành, hoàn tục sẽ bị người đời nhìn với ánh mắt thiếu tôn
trọng. Bản thân người ấy cũng m
ang mặc cảm tội lỗi. Phật giáo Việt Nam không có nhiều điều kiện
phát triển mạnh mẽ và liên tục như ở các nước bạn. Hơn nữa, người Việt lại có nếp nghĩ, thói quen tâm
lý hồn nhiên, linh hoạt, mềm dẻo, thực tế trong việc tiếp nhận các triết thuyết ngoại lai.
1.1.6. Những phong tục tập quán, lễ hội Phật giáo là một bộ phận quan trọng trong đời sống nhâ
n
dân các quốc gia Đông Nam Á. Từ 7 giờ sáng, các sư trong chùa xếp thành hàng (sư đi đầu, tiểu đi sau)
ra các ngả đường, mà ở đó, các tín đồ đã chờ sẵn. Khi các sư tới, mọi người kính cẩn cúi đầu dâng thức
ăn vào bát của sư và tiểu. Trong các dịp bun hội, việc bố thí được tiến hành như là một nghi lễ mà
người Thái Lan và người Lào gọi là “bin bạt” hay “tắt bạt” (nghĩa là khất thực). “Bun” tiếng Là
o và
tiếng Thái Lan có nghĩa là “điều thiện”, “bạp” nghĩa là “điều ác”. “Bun” vừa có nghĩa bố thí, vừa có
nghĩa làm điều thiện, làm phúc theo quan niệm của Phật giáo. Lễ hội cũng gọi là bun. Trong lễ hội bao
giờ cũng có sự tham gia nòng cốt của sư sãi và bao giờ cũng có hoạt động bố thí. Hầu như người Lào
tổ chức lễ hội mọi tháng trong năm
11
và lễ hội nào cộng đồng Phật giáo cũng đóng vai trò chủ chốt như
người cầm trịch tổ chức nghi lễ cũng như cầu phúc, tổ chức các hoạt động gắn kết dân bản với nhau và
bồi đắp tình cảm của con người với cái thiêng của bản làng, đất trời, khơi dậy những tình cảm, trách
nhu cầu mạnh mẽ như ở các nước bạn cùng khu vực.
T
rên đây chúng tôi đã phân tích những ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo trên tất cả các mặt của
đời sống văn hoá nhân dân các quốc gia Đông Nam Á nói chung đồng thời cũng chỉ ra những chỗ khác
biệt cơ bản đáng lưu ý khi tìm hiểu văn hoá Phật giáo ở Việt Nam so với các nước bạn cùng khu vực.
Thiết nghĩ, điều này sẽ là những cứ liệu nền tảng cần thiết để thâm nhập và tìm
hiểu truyện cổ dân gian
mang màu sắc Phật giáo của các dân tộc. Đây là cơ sở để chỉ ra nguồn gốc của những tương đồng và
khác biệt trong truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt Nam và các nước cùng khu vực
Đông Nam Á.
1.2. Tổng quan về truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo ở Đông Nam Á
1.2.1. Mô tả tư liệu sử dụng
1.2.1.1. Truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo tuy không làm thành một tiểu loại hay
một dòng truyện riêng trong ý t
hức nhân dân, thậm chí của đa số người sưu tầm, biên soạn mà chỉ là
một bộ phận chiếm tỷ lệ khá lớn nhưng cũng mang những đặc điểm riêng đáng quan tâm trong kho
tàng truyện cổ của các dân tộc ở Đông-Nam châu Á. Riêng đối với nguồn truyện trong nước, chúng tôi
có một danh sách tư liệu tác phẩm khá dồi dào để tham khảo và tuyển lựa. Đó là những công trình sưu
tầm, n
hững tuyển tập truyện cổ của các học giả, các tập thể tác giả đã dày công thu thập, chỉnh lí, biên
soạn và xuất bản từ trước đến nay như Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh - Kiều Phú), Việt Điện U Linh
(Trần Thế Pháp), Truyện cổ nước Nam (Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
(Nguyễn Đổng Chi), Tổng tập văn học dân gian Việt Nam (Ủy ban Khoa học Xã hội)
…, đặc biệt là
công trình tuyển chọn Những truyện cổ Việt Nam mang màu sắc Phật giáo của Lệ Như Thích Trung
Hậu. Do đó, việc tham khảo và chọn lọc đối tượng khảo sát khá thuận lợi.
Tuy nhiên, tình hình có khác khi tiếp xúc với tư liệu truyện cổ của các quốc gia khác trong khu
vực. Nhìn trên đại thể, số lượng các đầu sách mang nhan đề về truyện cổ dâ
n gian các dân tộc ở châu Á
nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng tuy chưa thực phong phú nhưng không phải hiếm hoi.
hật giáo, tuy
nhiên, theo tác giả công trình Văn hoá Đông Nam Á (2005), từ thế kỷ XV trở đi, Islam giáo và văn hoá
Ảrập truyền vào dần dần thay thế văn hoá Ấn Độ [37, tr. 29]. Cũng tương tự, theo kết quả nghiên cứu
nêu trong cuốn Tri thức Đông Nam Á thì đạo Hồi xuất hiện ở Đông Nam Á từ khoảng thế kỷ X đến thế
kỷ XIV, lan truyền mạnh và trở th
ành tôn giáo chính ở thế giới Mã Lai (chỉ các quốc gia Đông Nam Á
Hải đảo như Inđônêxia, Malaixia,…). Từ thế kỷ XII đến XIII, với sự hưng thịnh của Malacca, đạo
Islam từ Ảrập và Ấn Độ được truyền sang vùng Đông Nam Á hải đảo, đã tạo nên một bước chuyển
biến tôn giáo lớn, Islam đã trở thành quốc giáo của Malaixia, Inđônêxia, Brunây và là tôn giáo chính ở
Nam Philippin. Thực tế đó làm cho toàn bộ nền văn học các quốc gia này đã có một sự chuyển m
ình
quan trọng từ văn tự đến thể loại văn học [104, tr. 377-378]. Nhìn chung, những dẫn chứng trên chỉ
khác biệt về thời gian. Vấn đề chủ yếu đáng quan tâm là “[...] dòng văn học mang màu sắc Hồi giáo trở
thành dòng văn học chủ đạo ở các vương quốc vùng hải đảo với các trung tâm phát triển văn học cổ
Malai-Inđô như Srivitgiai, Malacca, Atre, Đgiohô,
…”[46, tr. 15-16]. Cho đến nay, những dấu tích của
văn học Ấn Độ vẫn còn nhưng chủ yếu đã và đang còn văn học mang tính tôn giáo của Đạo Hồi…
12
.
Như vậy, cùng với sự mất đi vai trò chủ đạo cũng như sự thu hẹp lại phạm vi lan toả ảnh hưởng
của Phật giáo trong đời sống của quảng đại quần chúng các dân tộc hải đảo là sự mai một và biến thái
12
Xem thêm các tài liệu nghiên cứu Đông Nam Á của Phạm Đức Dương [31], Ngô Văn Doanh [25], Nguyễn Tấn Đắc [37], Lương
Ninh-Vũ dương Ninh [46]
các sáng tác văn học truyền miệng, trong đó có truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo. Tham
khảo các tuyển tập truyện cổ của những quốc gia này, chúng ta dễ dàng tìm thấy những truyện mang
yếu tố của đạo Hồi và đạo Thiên Chúa. Rất nhiều truyện cổ của Inđônêxia đề cao các nhân vật Hồi
giáo, tuyên truyền cho tôn giáo này như các truyện sử: Truyện về Iskanda Dvuroj, Truyện về Ami
.
Chính vì thế mà ngoài hơn 40 tuyển tập truyện cổ các nước Đông Nam Á trình bày bằng tiếng Việt, kết
hợp tham khảo thêm một số tập truyện của các tác giả nước ngoài, chủ yếu trình bày bằng Anh ngữ
14
chúng tôi vẫn chỉ tìm thấy một số lượng ít ỏi những truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của
các quốc gia Đông Nam Á hải đảo.
13
“Curiously little or no Buddhist literture survieves in Indonesia or Malaysia, but there is a wealth of Hindu literature.” (tạm dịch:
“Thật kỳ lạ, văn học Phật giáo ít và hầu như không còn tiếp tục tồn tại ở Inđônêxia và Malaixia trong khi đó văn học Hindu giáo thì
lại dồi dào.”) [155]
14
Xem danh mục sách tiếng Anh từ [154] đến [164]
Điểm qua diện mạo lịch sử xã hội và lịch sử tôn giáo có ảnh hưởng đến tình hình truyện cổ ở
các nước Đông Nam Á hải đảo như thế, chúng tôi muốn nhấn mạnh một thực tế về vấn đề văn bản
truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo Đông Nam Á nói chung tồn tại hiện nay không đồng đều,
nếu không muốn nói là có sự đối lập khá lớn giữa các quốc gia lục địa và các quốc gia hải đảo. Tr
ong
đó, sự phân bố dày và đậm đặc nghiêng hẳn về phía Đông Nam Á lục địa và hết sức thưa thớt, mờ nhạt
ở phía Đông Nam Á hải đảo. Với tình hình tư liệu như thế, luận văn chắc chắn sẽ khai thác, chủ yếu, tư
liệu ở Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á lục địa như Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanma.
1.2.1.3. Việc nhận diện và xác định truyện cổ dâ
n gian mang màu sắc Phật giáo không thể chỉ
căn cứ trên bình diện loại hình dựa trên những dấu hiệu hình thức và nội dung hiển lộ ngay trên văn
bản ngôn từ tác phẩm, mà còn cần phải nghiên cứu toàn diện trên cơ sở kết hợp phân tích các dữ liệu
văn hoá, lịch sử trong tương quan đồng đại, lịch đại. Bởi vì ở các quốc gia mà Phật giáo không có sự
phát triển liền mạch, chỉ trải qua một thời kỳ hoàng kim
nhất định sau đó mau chóng bị những làn sóng
tôn giáo khác áp đảo, lấn át hoặc chịu sự tác động của nhiều nhân tố lịch sử, yếu tố Phật giáo trong
của nó từ Sri Lan Ka đến các quốc gia Đông Nam Á thông qua Malaixia (thế kỷ XI-XII) [154, tr. 53].
Trong cuốn Mythol
ogy and folklore in South-East Asia, do đại học Oxford xuất bản năm 1993,
sau khi kể chuyện Hai đứa trẻ lười biếng
15
của Campuchia, Jan Knappert đã kèm thêm ghi chú: “Bài
học của câu chuyện này là tất cả những gì mà chúng ta làm đều tạo ra nghiệp. Với những gì ta đã tạo ra
ở kiếp trước sẽ mang lại may mắn hoặc bất hạnh cho chúng ta ở kiếp này.” [155, 187-190]. Ở truyện
Người vợ đức hạnh
16
[155, tr. 180-182], tác giả nêu một nhận định mang tính tổng kết: “Câu chuyện
này rút ra bài học là những đức hạnh của người vợ có thể bù trừ vào nghiệp chướng của người chồng
và bảo vệ được anh ta”
17
. Nếu không có những ghi chú từ kết quả của quá trình dày công thực địa, điền
dã và sưu tầm, người đọc, người nghe khó lòng nhận diện những dấu vết của Phật giáo thể tiềm ẩn
trong tác phẩm.
Ngoài ra, nhiều truyện nhắc đến nhà chùa, sư tăng, đức Phật nhưng hầu như không chứa đựng
nội dung triết lý Phật giáo, chẳng hạn như các truyện Mối tình chàng vẹt nàng sáo, Con chó biết nói
,
Tại sao con trăn không có nọc độc (Campuchia), Sự tích cái khèn, Chàng mồ côi thông minh (Lào),
Ông vua sầu muộn (Thái Lan), Viên hồng ngọc bị mất cắp, Giống như ta, Thằng ngốc (Myanma),..
1.2.1.4. Hiện tượng thẩm thấu, pha trộn giữa tư tưởng Phật Giáo với các loại hình tín ngưỡng và
tôn giáo khác thể hiện khá nổi bật trong nhóm đối tượng đang khảo sát. Ngoại trừ những truyện mà
phương diện nội dung cũng như hình thức thể hiện tương đối rõ nét những yếu tố Phật giáo, chúng ta
đứng trước
nhiều trường hợp mờ nhoè, khó xác định đâu là yếu tố Phật giáo, đâu là những yếu tố của
các tôn giáo khác pha trộn như Bà la môn giáo, Ấn giáo, đặc biệt là sự khó phân định bởi lằn ranh
mỏng manh giữa quan điểm dân gian, chất dân gian với những yếu tố thuộc về đạo Phật. Nhiều truyện
cổ các quốc gia theo Phật giáo Tiểu thừa có sự pha t