BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LIANG YU CHI
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỚI GÓC ĐỘ
SO SÁNH PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP HIỆN HÀNH CỦA
TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI NGỌC CƯỜNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường
Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa
Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến người
hướng dẫn khoa học TS. Bùi Ngọc Cường, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ
bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
: Ban kiểm soát
CHND
: Cộng hoà nhân dân
CHXHCN
: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
CTCP
: Công ty cổ phần
ĐHĐCĐ
: Đại hội đồng cổ đông
GĐ (TGĐ)
: Giám đốc (Tổng giám đốc)
HĐQT
: Hội đồng quản trị
LDN
: Luật Doanh nghiệp
2.1.1. Giống nhau .................................................................................. 25
2.1.2. Khác nhau.................................................................................... 29
2.2. Quyền và nghĩa vụ của cổ đông.......................................................... 34
2.2.1. Về quyền của cổ đông .................................................................. 34
2.2.2. Về nghĩa vụ của cổ đông .............................................................. 47
2.3. Tổ chức, quản lý công ty cổ phần ....................................................... 52
2.3.1. Về mô hình tổ chức, quản lý công ty cổ phần ............................... 52
2.3.2. Về quyền và nghĩa vụ của các cơ quan trong tổ chức quản lý công
ty cổ phần .............................................................................................. 54
2.4. Về thành lập, tổ chức lại, giải thể công ty cổ phần ............................. 67
2.4.1. Về thành lập công ty cổ phần ....................................................... 67
2.4.2. Các quy định về tổ chức lại công ty cổ phần ................................ 72
2.4.3. Các quy định về giải thể công ty cổ phần ..................................... 76
Kết luận chương 2 ..................................................................................... 79
CHƯƠNG 3. HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM.......................................... 80
3.1. Một số nhận xét, đánh giá rút ra từ việc so sánh địa vị pháp lý của công
ty cổ phần giữa pháp luật doanh nghiệp Trung Quốc và Việt Nam hiện hành
.................................................................................................................. 80
3.2. Định hướng và một số gợi mở về giải pháp hoàn thiện về địa vị pháp lý
của công ty cổ phần rút ra từ việc so sánh pháp luật doanh nghiệp hiện hành
của hai nước.............................................................................................. 83
3.2.1. Định hướng hoàn thiện về địa vị pháp lý của công ty cổ phần rút ra
từ việc so sánh pháp luật doanh nghiệp hiện hành của hai nước ........... 83
3.2.2. Một số gợi mở nhằm hoàn thiện về địa vị pháp lý của công ty cổ
phần trên cơ sở so sánh pháp luật hai nước........................................... 85
Kết luận Chương 3 .................................................................................... 90
KẾT LUẬN ................................................................................................. 91
mới. Các bộ luật này được đánh giá có tính pháp lý chặt chẽ, vừa có tính
1
Trần Văn Thọ (2015), “Việt Nam và Trung Quốc trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa”, tại địa chỉ: http://www.erct.com/2-ThoVan/TranVTho/Vietnam-va-Trungquoc.htm, ngày truy cập
30/7/2016.
2
thống nhất. Quy định của các văn bản luật cũng như các quy định dưới luật rất
rõ ràng, ngắn gọn. Rất nhiều các thủ tục hành chính của Trung Quốc đã được
rút ngắn lại nhằm đáp ứng quyền lợi tối đa của nhà đầu tư nước ngoài và các
doanh nghiệp trong nước và các hộ kinh doanh cá thể. Trong đó, pháp luật
Trung Quốc ban hành từng bộ luật riêng lẻ đối với mỗi loại hình doanh
nghiệp.Ví dụ như: Luật Công ty áp dụng cho công ty cổ phần và trách nhiệm
hữu hạn, Luật doanh nghiệp tư nhân lại áp dụng cho doanh nghiệp tư nhân,
Luật đầu tư nước ngoài lại được áp dụng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài.
Nhận định hiện nay, làn sóng đầu tư vào Việt Nam trong vài năm trở lại
đây rất mạnh mẽ. Theo số liệu khảo sát của tổng cục thống kế thì Trung Quốc
được xếp hàng đầu trong các quốc gia có nhiều dự án đầu tư vào Việt Nam.
Trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, các doanh nghiệp
Trung Quốc cần phải tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam, tìm hiểu
thị trường Việt Nam. Cũng giống như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam muốn
đầu tư kinh doanh tại thị trường Trung Quốc cũng cần phải tìm hiểu quy định,
trình tự cũng như các thủ tục của pháp luật Trung Quốc để tiến hành đầu tư
một cách hiệu quả và an toàn. Tuy nhiên, trên thực tế, đã có rất nhiều doanh
nghiệp Trung Quốc cũng như Việt Nam đã gặp phải rất nhiều khó khăn khi
đầu tư vào nước bạn do hạn chế kiến thức về mặt luật pháp. Vì vậy, việc so
sánh các quy định của Luật Doanh Nghiệp Việt Nam và Luật Trung Quốc về
luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Bên cạnh đó còn có những
bài báo, tạp chí như: Lưu Thị Tuyết (2015), “Điểm mới của công ty cổ phần
nhìn từ góc độ Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí Thanh tra, Số 8/2015,
tr. 61 – 62; Trần Ngọc Dũng (2015), “Hoàn thiện quy định về cơ chế giám sát
hoạt động quản lý, điều hành trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp
năm 2014”, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 5/2016, tr. 45 – 49… Những công
trình này mới chỉ nghiên cứu về một (số) khía cạnh của vấn đề địa vị pháp lý
của công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
Về vấn đề nghiên cứu địa vị pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn
dưới góc độ so sánh pháp luật giữa các nước, đến nay mới chỉ có một số công
trình như: Ngô Viễn Phú (2005), Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phần
4
theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật Cộng hoà
nhân dân Trung Hoa, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật- Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội; Đào Thúy Anh (2014), Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ
chức quản lý Công ty cổ phần - Góc nhìn từ kinh nghiệm của Nhật Bản, Luận
văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Các công trình này
cũng mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh về địa vị pháp lý của công ty cổ
phần trong tương quan so sánh pháp luật các nước, Đặc biệt, công trình
“Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật Cộng hoà nhân dân Trung Hoa” của tác giả
Ngô Viễn Phú mặc dù có sự so sánh giữa pháp luật Việt Nam và Trung Quốc,
nhưng chỉ dừng lại ở khía cạnh quản lý công ty cổ phần. Hơn nữa, những quy
định được so sánh trong công trình này đã được sửa đổi, bổ sung bởi cả hai
nước, do đó, những so sánh này đã không còn tính thời sự.
Chính vì vậy, có thể nói, Đề tài “Địa vị pháp lý của công ty cổ phần
dưới góc độ so sánh pháp luật doanh nghiệp hiện hành của Trung Quốc và
phần là gì?
(3). Những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật doanh nghiệp
hiện hành Trung Quốc và Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của cổ đông công
ty cổ phần là gì?
(4). Những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật doanh nghiệp
hiện hành Trung Quốc và Việt Nam về tổ chức, quản lý công ty cổ phần là gì?
(5). Những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật doanh nghiệp
hiện hành Trung Quốc và Việt Nam về thành lập, tổ chức lại, giải thể công ty
cổ phần là gì?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Đề tài được thực hiện dựa trên nền tảng phương pháp luận biện chứng
duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và
pháp luật; quán triệt đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế; với các
phương pháp nghiên cứu cụ thể thích hợp như: tiếp cận hệ thống, điều tra xã
hội học, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp... để đánh giá thực trạng quy
định pháp luật cũng như hiệu quả thực thi quy định pháp luật trên thực tế.
6
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Những điểm mới của đề tài nghiên cứu này là:
a) Đưa ra được một cái nhìn khái quát về quá trình hình thành, phát
triển của công ty cổ phần và những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, nội
dung và các yếu tố chi phối đến địa vị pháp lý công ty cổ phần
b) Phân tích và làm nổi bật những đặc điểm trong quy định pháp luật
của Việt Nam và Trung Quốc về địa vị pháp lý công ty cổ phần trên các khía
cạnh: vốn và chế độ tài chính, quyền và nghĩa vụ của cổ đông, cơ cấu tổ chức
quản lý công ty cổ phần; thành lập, tổ chức lại, giải thể công ty cổ phần trên
dù tồn tại ở quốc gia nào trên thế giới thì ngoài những đặc điểm chung, nó vẫn
luôn mang những nét riêng, đặc thù, phản ánh điều kiện cụ thể của quốc gia
đó. Ở những nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law),
CTCP có quy chế pháp lý riêng và được phân biệt rõ ràng với loại hình công
ty đối vốn khác là công ty trách nhiệm hữu hạn. Như pháp luật Pháp, CTCP
được gọi là công ty vô danh, phải có ít nhất bảy cổ đông, vốn điều lệ của công
ty được chia thành các cổ phần với mệnh giá thống nhất, cổ đông được quyền
tự do chuyển nhượng cổ phần2. Những nước theo hệ thống pháp luật Anh –
Mỹ (Common Law) lại không phân chia công ty đối vốn thành các loại khác
nhau một cách rõ ràng, và vì vậy thường không có quy chế pháp lý riêng cho
loại hình công ty cổ phần3. Tuy nhiên, ở các nước này vẫn tồn tại những công
ty có tính chất pháp lý tương tự như CTCP trong hệ thống pháp luật lục địa.
Ví dụ, công ty công hữu hạn ở Anh với vốn điều lệ được chia thành các cổ
phần, các cổ phần có thể được tự do chuyển nhượng nếu Điều lệ không có
quy định khác4. Trong pháp luật một số nước khác, khái niệm CTCP được
quy định rất rõ ràng, cụ thể. Ví dụ, BLDS 1994 Cộng hòa Liên Bang Nga tại
Điều 90 quy định: “CTCP là một công ty mà vốn điều lệ được chia thành một
số lượng xác định cổ phần, những người tham gia công ty không chịu trách
2
Đồng Ngọc Ba (2000), Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.7.
3
Đồng Ngọc Ba (2000), Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.8.
4
Nguyễn Tiến Ngọc (2011), Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần cần tiếp tục hoàn thiện, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.6.
5
Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư Pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.185.
9
các nước đều quy định số thành viên tối thiểu của CTCP. Ở Việt Nam, trong
suốt quá trình hoạt động, ít nhất phải có ba thành viên (có thể là cá nhân hoặc
tổ chức) tham gia CTCP. Trong khi đó, Điều 78 Luật Công ty Trung Quốc
năm 2014 quy định, thành viên của công ty cổ phần nhiều hơn hai và ít hơn
200 cổ đông, trong đó hơn một nửa phải cư trú trong phạm vi lãnh thổ của
nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi tắt là "Trung Quốc ").
Thứ hai, về vốn điều lệ của công ty
Vốn do các cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định
được ghi trong Điều lệ tạo thành vốn điều lệ của công ty. Cả pháp luật Việt
Nam và Trung Quốc đều quy định, vốn điều lệ của CTCP được chia làm
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Việc góp vốn được thực hiện bằng cách
mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. Luật không hạn chế số
lượng tối đa cổ phần được mua nhưng các cổ đông có thể tự thỏa thuận với
nhau và ghi trong Điều lệ giới hạn tối đa số cổ phần mà mỗi thành viên có thể
mua nhằm chống lại việc tập trung quá nhiều cổ phần vào tay một người hoặc
một vài người, tránh tình trạng tập trung quyền lực công ty trong tay một hoặc
một số cổ đông lớn.
Thứ ba, về huy động vốn và chuyển nhượng vốn
Theo LDN Việt Nam năm 2014 và Luật Công ty Trung Quốc năm
2014, CTCP được phép phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định
của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn. Nhờ quyền phát hành chứng
khoán, CTCP có khả năng chủ động mỗi khi cần nguồn vốn lớn để tham gia
vào các dự án nhờ khả năng huy động vốn linh hoạt. Tuy nhiên, khả năng huy
người đại diện của mình theo quy định của pháp luật, CTCP có thể trở thành
nguyên đơn hay bị đơn trong các vụ án dân sự.
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần
Công ty cổ phần (CTCP) là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời,
tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự hình
thành và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị
trường vốn và thị trường tiền tệ. “Công ty cồ phần là một loại hình kinh
doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho
đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho
nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển”7.
6
Đồng Ngọc Ba (2000), Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.24.
7
Nguyễn Ngọc Bích (2003), Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong CTCP, Nxb. Trẻ, tr.18.
11
Ở các nước khác nhau, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau. Ở
Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), Ở Anh là công ty với trách
nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh doanh
(Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần
(Kabushiki Kaisha)…8.
Quá trình công nghiệp hoá ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ
18, 19 cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư của các nhà tư bản đã làm xuất
hiện loại hình CTCP. Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi
sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc
quyền có mức độ ngày càng gay gắt. Các chủ tư bản đi đến thoả hiệp với nhau
doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở châu
Á, châu Phi và được đi lại từ tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn và địa
điểm ở châu Á, châu Phi và Mỹ hay bất kỳ địa điểm nào như thế nằm ngoài
Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) và Eo biển Magellan. Ngày
01/6/1874, Công ty bị giải thể khi giấy phép lần sau cùng không được gia hạn.
Công ty đầu tiên này hoạt động hết sức lỏng lẻo: “Người đầu tư góp vốn theo
chuyến đi biển và sau mỗi chuyến đi biển nhận lại vốn cổ phần và tiền lãi”11.
Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện các công ty cổ phần theo hình thức tương
tự công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lượt CTCP xuất hiện ở Thụy Điển, Đan
Mạch, Đức…
Ở Mỹ, CTCP phát triển rất mạnh. Lúc đầu là vì phải xây dựng đường
xe lửa, sau này là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán lẻ trên toàn lãnh thổ
rộng lớn của Mỹ. Chính do yêu cầu tài trợ cho các công ty làm đường xe lửa
mà thị trường chứng khoán ở NewYork phát triển. Năm 1811, bang NewYork
ban bố luật về tính TNHH dành cho các công ty sản xuất. Nhờ có luật này,
tiền ùn ùn đổ về NewYork và tính hữu hạn kia trở thành phổ biến vì bang nào
không dùng đến nó là không thu hút được vốn12.
Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, CTCP bắt đầu phát triển ở
nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế
tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm…? các nước tư phản phát triển và về sau phát
triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới. Đến những năm 20, 30 của thế kỷ
XIX, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, nền kinh tế thế
giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung
những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sơ hạ tầng kinh tế – xã hội. Công ty cổ
phần là một trong những công cụ giúp thực hiện nhanh chóng vấn đề tập trung
vốn. Vì vậy, có ý kiến bình luận rằng “Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích
11
12
Đoàn văn Trường (1996), Thành lập, tổ chức và điều hành hoạt động CTCP, Nxb. KHKT, Hà Nội, tr.10
hệ pháp luật, trước hết là quan hệ luật kinh tế và từ đó có thể phân biệt với các
chủ thể kinh doanh khác.
13
Các Mác, Tư bản, quyển 1, tập III, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.199.
Đặng Cẩm Thuý (1997). “Bàn về con đường hình thành CTCP ở các nước Tư bản và vận dụng vào Việt
Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Số 225, 2/1997, tr.35.
14
14
Một doanh nghiệp không chỉ tham gia các quan hệ pháp luật kinh tế,
các quan hệ kinh doanh mà có thể đồng thời tham gia nhiều quan hệ khác
như: quan hệ dân sự, hành chính, lao động… Khi xem xét địa vị pháp lý của
một doanh nghiệp với tính chất tổng thể là các quyền và nghĩa vụ pháp lý của
một doanh nghiệp, trong khoa học pháp lý đã có lúc có quan niệm xem xét
vấn đề theo phương diện khái niệm thẩm quyền, bao gồm những quyền và
nghĩa vụ trong nhiều lĩnh vực và phương diện tồn tại, hoạt động của doanh
nghiệp15 . Trong đó, thẩm quyền trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh được coi
là một nội dung chủ yếu trong hệ thống thẩm quyền của doanh nghiệp với lý
do doanh nghiệp là tổ chức kinh tế… được đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Thẩm quyền kinh tế của một doanh nghiệp bao gồm các quyền và nghĩa
vụ của nó trong quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh. Đối
với các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì hệ thống thẩm quyền này cũng
có những điểm khác nhau. Cũng chính vì vậy, đối với mỗi loại hình doanh
nghiệp, pháp luật đều dành cho chúng những quy chế pháp lý riêng. Ngoài ra,
khi nghiên cứu địa vị pháp lý của một doanh nghiệp độc lập, từ trước đến nay,
trong khoa học pháp lý vẫn thường đề cập đến khái niệm pháp nhân (hay tư
mỗi loại hình doanh nghiệp.
Thứ hai, tổng hợp các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh
nghiệp được pháp luật quy định phù hợp với vị trí, vai trò và chức năng của
oanh nghiệp và những quyền hạn và nghĩa vụ mà doanh nghiệp đảm nhận trên
cơ sở những quy định của pháp luật khi doanh nghiệp tham gia vào các quan
hệ pháp luật trong quá trình hoạt động.
Những quyền và nghĩa vụ này được quy định trong hệ thống các văn
bản bao gồm:
- Các văn bản quy định chung về quyền và nghĩa vụ cho mọi doanh
nghiệp trong hoạt động kinh tế - xã hội (luật thuế, luật lao động, luật hải quan,
các quy định về bảo hiểm, xuất nhập khẩu…)
- Các văn bản quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động đối với các loại
doanh nghiệp (mà cụ thê là LDN Việt Nam năm 2014 cũng như Luật Công ty
Trung Quốc năm 2014)
- Các quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, địa
bàn hoạt động kinh doanh, ngành nghề kinh doanh…
16
1.2.2. Nội dung địa vị pháp lý của công ty cổ phần
Khi xác định địa vị pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và công ty cổ
phần nói riêng, bên cạnh việc tìm hiểu về khái niệm và đặc điểm của công ty
cổ phần với tính chất là một chủ thể kinh doanh, thì về cơ bản cần làm rõ các
nội dung sau:
Thứ nhất, vốn và chế độ tài chính của công ty cổ phần. Vốn trong
CTCP có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó không những quyết định sự sống
còn của doanh nghiệp mà còn thể hiện khả năng gánh chịu nghĩa vụ pháp lý
của doanh nghiệp; quyết định quyền, nghĩa vụ của các chủ sở hữu, chủ đầu tư
của công ty; quyết định quy mô của công ty trong quá trình hoạt động kinh
phần mà còn có những quy định về việc chấm dứt sự tồn tại của công ty cổ
phần trên thương trường cũng như tổ chức lại công ty, chấm dứt tư cách chủ
thể của công ty hoặc thay đổi hình thức của công ty. Trước khi tư cách chủ
thể của công ty cổ phần bị chấm dứt, thay đổi thì tất cả các vấn đề liên quan
đến công ty phải được pháp luật giải quyết theo một trình tự thủ tục chặt chẽ.
Vì vậy, khi xác định địa vị pháp lý của công ty cổ phần không thể thiếu chế
định tổ chức lại, giải thể công ty, phá sản công ty cổ phần.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của công ty cổ phần
1.3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển thành phần
kinh tế tư nhân
Nhất quán, phát triển quan điểm phát triển kinh tế tư nhân lâu dài trong
suốt thời kỳ quá độ, để tiếp tục khuyến khích và tạo bước đột phá trong phát
triển kinh tế tư nhân, hiện nay, cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc đếu xác
định tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. Gần đây nhất, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định kinh tế tư
nhân là “một động lực quan trọng” trong sự phát triển của đất nước. Quan
điểm này của Đại hội XII không chỉ là một sự xác nhận vai trò mới của kinh
tế tư nhân, mà còn mở ra những cơ hội mới để thành phần kinh tế này phát
triển mạnh mẽ hơn trong những năm sắp tới.
Quan điểm của nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân chi phối đến địa
vị pháp lý của công ty cổ phần bởi, chỉ có xác định khuyến khích, tạo điều
18
kiện cho kinh tế tư nhân phát triển, thực sự là động lực quan trọng của nền
kinh tế, thì Đảng và Nhà nước mới có chủ trương, chính sách, biện pháp định
hướng, quản lý phù hợp; để vừa tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển,
vừa khắc phục tình trạng “tự phát”, chệch hướng xã hội chủ nghĩa của thành
phần kinh tế này. Trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Chủ tịch
dụng từ kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mượn qua ngân hàng hoặc chung
vốn sang huy động vốn trên thị trường tài chính trong đó chủ yếu là thị trường
chứng khoán. Các công ty cổ phần là nguồn cung cấp sản phẩm cho sự phồn
vinh của thị trường chứng khoán. Đổi lại, sự thịnh vượng của thị trường này
tạo điều kiện cho các công ty cổ phần sinh sôi nảy nở. Có thể nói công ty cổ
phần ra đời mang những đặc điểm mới cho phép nó thích ứng với những đòi
hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường hiện đại mà những hình thái khác
không thể đáp ứng được. Đó là:
Công ty cổ phần và tính tất yếu khách quan của việc hình thành công ty
cổ phần và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế thế giới.
Công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân và các
cổ đông chỉ có trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của mình. Điều
này cho phép công ty có tư cách pháp lý đầy đủ để huy động những lượng
vốn lớn nằm rải rác thuộc nhiều cá nhân trong xã hội.
Cơ cấu tổ chức trong công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách biệt
quyền sở hữu và quyền kinh doanh, tạo nên một hình thái xã hội hoá sở hữu
của một bên là đông đảo công chúng mua cổ phần còn bên kia là đội ngũ các
nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng tư bản xã hội cho những công
cuộc kinh doanh quy mô lớn.
Các cổ phiếu và trái phiếu của công ty cổ phần được chuyển nhượng dễ
dàng trên thị trường chứng khoán, vì thế bất kể cổ phiếu được chuyển chủ bao
nhiêu lần cuộc sống của các doanh nghiệp vẫn tiếp tục một cách bình thường
mà không bị ảnh hưởng. Đồng thời nhờ cơ chế này nó đã tạo nên sự di chuyển
linh hoạt các luồng vốn trong xã hội theo các nhu cầu và cơ hội đầu tư đa
dạng của các công ty và công chúng.
Công ty cổ phần được hình thành và phát triển do sự đòi hỏi của sự
phát triển nền kinh tế thị trường, trong đó chế độ tín dụng và ngân hàng là đòn
bẩy cho quá trình xã hội hóa sở hữu, tiền đề của công ty cổ phần. Công ty cổ
phần là hình thức kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng cho sự phát triển của
thị trường tư bản chủ nghĩa.