hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần cồn rượu hà nội trong điều kiện vận dụng hệ thống chuẩn mực kế toán việt nam - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp sản xuất muốn tồn tại và
phát triển cần phải có phương án sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao.
Trong nền kinh tế thị trường tất yếu phải cạnh tranh, không những cạnh tranh
trong nước mà còn cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, muốn
đứng vững trong quy luật cạnh tranh khắc nghiệt ấy thì mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh bắt buộc phải đem lại hiệu quả tức là đảm bảo khả năng sinh lời, như
vậy doanh nghiệp cần phải thưởng xuyên cải tiến mẫu mã sản phẩm cho phù hợp
với thị hiếu người tiêu dùng, nâng cao chất lượng sản phẩm, đặc biệt là tiết kiệm
chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Đối với các doanh nghiệp sản xuất,
việc tổ chức công tác kế toán hợp lý để có thể tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản
phẩm là con đường cơ bản để tăng lợi nhuận, nó cũng là tiền đề để hạ giá bán,
tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, góp phần cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần cho người lao động, đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối
với ngân sách nhà nước, có lợi nhuận để tích lũy và mở rộng sản xuất,…
Chi phí sản xuất và phân tích chi phí sản xuất là cơ sở để các nhà quản lý
doanh nghiệp phân tích đánh giá tình hình sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn có
hiệu quả hay không, tiết kiệm hay lãng phí,… từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu
nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và đề ra các quyết định
phù hợp sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Chính vì vậy
cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội
chứng tỏ mình là một doanh nghiệp năng động phát triển tốt và thích ứng với cơ
chế thị trường
“Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở
công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội trong điều kiện vận dụng hệ thống
chuẩn mực kế toán Việt Nam” cho chuyên đề của mình. Nội dung của chuyên
dề gồm có 3 phần chính, ngoài ra còn có phần mở đầu và kết luận.
Phần I: Tổng quan về công ty Cổ phần Cồn rượu Hà nội
Phần II: Thực tế tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành tại công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội.
Phần III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản

Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với tính chất
kinh tế, mục đích, công dụng yêu cầu quản lý khác nhau. Để hạch toán đúng đắn
CPSX và đáp ứng được các yêu cầu của quản trị doanh nghiệp cần phân loại
CPSX theo các tiêu thức khác nhau.
∗ Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí.
Theo cách phân loại này, những chi phí có tính chất, nội dung kinh tế
giống nhau xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh
vực hoạt động sản xuất nào, ở đâu. Theo cách phân loại này toàn bộ CPSX của
doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: gồm toàn bộ chi phí nguyên liệu, vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế dùng cho sản xuất.
- Chi phí nhân công: gồm toàn bộ số tiền công phải trả cho công nhân sản
xuất và các khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân sản
xuất.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ sổ trích khấu hao của những
tài sản cố định dùng cho sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền trả cho các dịch vụ mua ngoài phục
vụ co hoạt động sản xuất của doanh nghiệp như tiền điện, nước,…
- Chi phí khác bằng tiền: là toàn bộ các chi phí khác dùng cho hoạt động
sản xuất ngoài bốn yếu tố chi phí trên.
∗ Phân loại CPSX theo mục đích công dụng của chi phí.
- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu
chính, phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm
hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phụ cấp lương và các khoản
trích theo lương cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản
xuất.
- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân
xưởng sản xuất (trừ chi phí vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp).
∗ Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản

chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm
những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ
phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi
phí phát sinh trong kì kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào giá
thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu
dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù
đắp giản đơn hao phí lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản
ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các
quan hệ hàng - tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực
hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
1.1.2.2.Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng yêu cầu của quản lí, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng
như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc
độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá
thành được phân loại như sau:
- Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản
ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm
trong phạm vi phân xưởng sản xuất.
- Giá thành tiêu thụ (còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ) là
chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ
sản phẩm. Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:
Giá thành toàn
bộ của sản phẩm
=
Giá thành sản
xuất của sản
phẩm
+
Chi phí quản
lí doanh

cuối kì
Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kì và cuối kì
bằng nhau, hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá
thành sản phẩm bằng tổng chi phí phát sinh trong kì. Trong mối quan hệ chặt
chẽ đó, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có những điểm khác nhau
cơ bản sau:
Về thời gian: giá thành sản phẩm chỉ gắn với một thời kì nhất định còn chi
phí sản xuất thì liên quan đến nhiều kì như chi phí kì trước chuyển sang, chi phí
kì này phát sinh không bao gồm các chi phí chuyển sang kì sau.
Về sản phẩm: chi phí sản xuất không gắn trực tiếp với số lượng sản phẩm
hoàn thành trong kì, còn giá thành được tính trên số lượng bán thành phẩm hay
sản phẩm hoàn thành.
Về giá trị: Tổng giá thành sản phẩm không bao gồm những chi phí sản xuất
đã chi ra trong kì (chi phí chờ phân bổ ở kì sau) song giá thành sản phẩm lại tính
cả chi phí đã chi ở kì trước được phân bổ cho kì này. Tổng chi phí sản xuất phát
sinh trong kì khác với tổng giá thành sản phẩm của các sản phẩm hoàn thành
trong kì.
1.1.4. ý nghĩa và nhiệm vụ của kế toán chi phí và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế cơ bản phản
ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quản lí tốt chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm là yêu cầu quan trọng đối với các doanh
nghiệp trong môi trường kinh tế cạnh tranh hiện nay. Việc tính đúng, đủ giá
thành giúp cho phản ánh đúng tình hình thực hiện và kết quả thực hiện giá thành
của doanh nghiệp, xác định đúng đắn kết quả kinh doanh trong kì.
Trong một phạm vi nhất định giá thành vừa mang tính khách quan vừa
mang tính chủ quan. Cần phải xem xét giá thành trên nhiều góc độ khác nhau để
sử dụng chỉ tiêu giá thành một cách hiệu quả nhất.Tính khách quan của giá
thành chính là tính tất yếu của sự di chuyển và kết tinh giá trị tư liệu sản xuất và
sức lao động trong sản phẩm. Nhưng giá thành lại là một đại lượng được tính

Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính
theo giá trị thuần có thể thực hiện được
- Giá gốc hàng tồn kho: Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi
phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng
tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại.
- Phương pháp tính giá hàng tồn kho: Việc tính giá trị hàng tồn kho được
áp dụng theo một trong các phương pháp sau: Phương pháp tính theo giá đích
danh, Phương pháp bình quân gia quyền, Phương pháp nhập trước, xuất trước,
Phương pháp nhập sau, xuất trước.
∗ Chuẩn mực số 03 – Tài sản cố định hữu hình:
- Ba phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình, gồm: Phương pháp khấu
hao đường thẳng, Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần, Phương pháp
khấu hao theo số lượng sản phẩm.
- Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, số khấu hao hàng năm không
thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Theo phương pháp
khấu hao theo số dư giảm dần, số khấu hao hàng năm giảm dần trong suốt thời
gian sử dụng hữu ích của tài sản. Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm
dựa trên tổng số đơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra. Phương pháp
khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐ hữu hình phải
được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản
đó.
1.3. Kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
1.3.1. Kế toán chi phí sản xuất
1.3.1.1.Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Tổ chức hạch toán quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau.
Đó là giai đoạn hạch toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinh theo từng sản phẩm,
nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng… và giai đoạn
tính giá thành sản phẩm, chi tiết sản phẩm, sản phẩm theo đơn đặt hàng đã hoàn
thành…theo đơn vị tính giá thành quy định. Việc phân chia này xuất phát từ yêu
cầu quản lí, kiểm tra và phân tích chi phí, yêu cầu hạch toán kinh doanh nội bộ,

- Chứng từ phản ánh dịch vụ mua ngoài như hoá đơn mua hàng, chứng từ
chi tiền mặt.
- Chứng từ phản ánh thuế, phí và lệ phí doanh nghiệp phải nộp, đã nộp.
- Chứng từ phản ánh các khoản chi bằng tiền khác.
Việc tập hợp chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp lí,
khoa học thì mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời.
Thông thường trình tự hạch toán chi phí sản xuất như sau:
Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản liên quan đến đối tượng sử dụng.
Bước 2: Tính toán và phân bổ chi phí cho từng đối tượng sử dụng.
Bước 3: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kì.
Bước 4: Tính tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm hoàn thành.
1.3.1.3.Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu…được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm.
Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan đến từng đối tượng tập
hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất, hoặc sản phẩm, loại sản
phẩm, lao vụ…) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó. Trường hợp vật liệu
xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức
hạch toán riêng được thì phải áp dụng gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối
tượng có liên quan. Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ theo
định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lượng, số lượng sản phẩm…
Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phương pháp
kê khai thường xuyên, kế toán sử dụng TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp”. Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí (phân
xưởng, bộ phận sản xuất) với kết cấu như sau:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho chế tạo
sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Bên Có:
- Giá trị vật liệu xuất dùng không hết.
- Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp.

Trích trước tiền lương phép,
lương ngừng việc của công
nhân trực tiếp sản xuất
TK 1 51 , 1 52 , 33 1 ,
111, 112 . .
T K 62 1
Vật liệu xuất dùng trực
tiếp chế tạo sản phẩm, tiến
hành lao vụ, dịch vụ
Kết chuyển chi phí
nguyên, vật liệu trực tiếp
Vật liệu dùng không
hết nhập lại kho
TK 1 52
TK 1 54
Sơ đồ 2: Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
1.3.1.5.Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản
phẩm. Đây là những chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, bộ phận
sản xuất của doanh nghiệp.
Để theo dõi và phản ánh các khoản chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng
TK 627 “Chi phí sản xuất chung”. Tài khoản này được mở theo từng phân
xưởng, bộ phận sản xuất. TK 627 có kết cấu như sau:
Bên Nợ: Chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kì.
Bên Có: Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung.
TK 627 cuối kì không có số dư do đã kết chuyển hay phân bổ hết cho các
loại sản phẩm, dịch vụ, lao vụ và được chi tiết thành 6 tài khoản cấp 2:
TK 6271 - Chi phí nhân viên phân xưởng
TK 6272 - Chi phí vật liệu
TK 6273 - Chi phí dụng cụ sản xuất

phí sản xuất chung
TK 1 33
Thuế GTGT
đầu vào
TK 1 54
Các khoản ghi giảm chi
phí sản xuất
Kết chuyển chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp
TK 6 21
TK 6 22
TK 6 27
TK 1 52 , 111…
TK 1 52 , 1 5 5
TK 6 32
Kết chuyển chi phí
nhân công trực tiếp
Kết chuyển (hoặc phân bổ)
chi phí sản xuất chung
Tổng giá
thành
thực tế
sản phẩm
hoàn
thành
Nhập kho
Tiêu thụ thẳng
Chờ chấp nhận
TK 1 57
Sơ đồ 6: Tổng hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên.

tạp)
Với sản xuất giản đơn, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản
phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một thứ sản phẩm) hoặc có
thể là nhóm sản phẩm (nếu sản xuất nhiều loại sản phẩm). Đối tượng tính giá
thành ở đây là sản phẩm cuối cùng.
Với sản xuất phức tạp, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là bộ
phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm
chi tiết, bộ phận sản phẩm… Còn đối tượng tính giá thành lại là thành phẩm ở
bước chế tạo cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bước chế tạo.
- Loại hình sản xuất: (đơn chiếc, sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản xuất
hàng loạt với khối lượng lớn)
Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng hạch toán chi
phí là các đơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm của
từng đơn đặt hàng.
Đối với sản xuất hàng loạt có khối lượng lớn, phụ thuộc vào quy trình công
nghệ sản xuất (đơn giản hay phức tạp) mà đối tượng hạch toán chi phí sản xuất
có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công
nghệ… Còn đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng hay bán
thành phẩm.
- Yêu cầu và trình độ quản lí, tổ chức sản xuất kinh doanh:
Dựa trên cơ sở trình độ, yêu cầu và tổ chức quản lí để xác định đối tượng
hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành. Với trình độ cao, có thể
chi tiết đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành ở các góc độ khác
nhau. Ngược lại, nếu trình độ thấp thì đối tượng đó có thể bị hạn chế và bị thu
hẹp lại.
1.3.3.2.Đơn vị tính giá thành và kì tính giá thành
Đơn vị tính giá thành là căn cứ tính được thừa nhận phổ biến trong nền
kinh tế quốc dân và phải phù hợp với tính chất hoá lí của sản phẩm. Đơn vị tính
giá thành phải tương ứng với đơn vị tính đã ghi trong kế hoạch của doanh
nghiệp.

-
Chi phí của sản
phẩm dở dang cuối
kỳ
Giá thành đơn
vị sản phẩm
=
Tổng giá thành sản phẩm
Khối lượng sản phẩm hoàn
thành
- Phương pháp tính giá thành phân bước: Phương pháp này thích hợp với
các doanh nghiệp có qui trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên tục, sản
phẩm phải trải qua nhiều giai đoạn (phân xưởng) chế biến liên tục kế tiếp nhau,
nửa thành phẩm của giai đoạn trước là đối tượng tiếp tục sản xuất ở giai đoạn
sau. Trong trường hợp này đối tượng tính giá thành có thể là thành phẩm hay
nửa thành phẩm. Do có sự khác nhau về đối tượng tính giá thành nên phương
pháp này có 2 phương án như sau: phương án tính giá thành phân bước có tính
giá thành nửa thành phẩm và phương án tính giá thành phân bước không tính giá
thành nửa thành phẩm.
∗ Phương án tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm:
Kế toán phải lần lượt tính giá thành nửa thành phẩm (NTP) của giai đoạn
trước kết chuyển sang giai đoạn sau một cách tuần tự để tiếp tục tính giá thành
nửa thành phẩm của giai đoạn sau, cứ như vậy cho đến khi tính được giá thành
thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng.
Trình tự tính giá thành thể hiện qua sơ đồ sau:
+ + +
Trong đó:
Giá thành
NTP giai
đoạn i

giai đoạn 2
Chi phí sản xuất khác ở
giai đoạn n
Tổng giá thành và Z
đv

nửa TP ở giai đoạn 1
Tổng giá thành và Z
đv

nửa TP ở giai đoạn 2
Tổng giá thành và Z
đv

của thành phẩm
Chi phí sản xuất giai
đoạn 1
Chi phí sản xuất giai
đoạn 2
Chi phí sản xuất giai
đoạn n
CPSX của giai đoạn 1
trong thành phẩm
CPSX của giai đoạn 2
trong thành phẩm
CPSX của giai đoạn n
trong thành phẩm
Giá thành sản phẩm
PHẦN I I :
THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT

con dấu riêng, tài khoản riêng và thực hiện từ ngày 01/02/2005. Công ty có mã
số thuế: 0100102245-1, tài khoản số: 1500.311.000007 tại Ngân hàng Nông
Nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội, Công ty có giấy phép đăng ký kinh
doanh số: 0104000163 cấp ngày 07/01/2004.
∗ Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh ở công ty Cổ phần Cồn rượu
Hà Nội.
Đơn vị: 1000 VNĐ
Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội hiện có 481 cán bộ công nhân viên,
trong đó:Lao động trực tiếp: 391 người, lao động gián tiếp: 90 người.
Hiện nay sản phẩm của công ty gồm có: Cồn(bao gồm cồn tinh chế và cồn
xanh), Rượu ( rượu lúa mới, rượu nếp mới, rượu voska, rượu vang,…), các sản
phẩm khác như: nước giải khát, khí CO
2,…
Trong những năm gần đây, công ty
Cổ phần Cồn rượu Hà Nội có những bước tăng trưởng khá ổn định, doanh thu,
lợi nhuận, cũng như thu nhập của người lao động đều có sự cải thiện rõ dệt. Cụ
thể có thể thấy qua biểu 1.1
Công ty được xây dựng ở trung tâm thành phố Hà Nội với tổng diện tích là
33.000 m
2
, trong đó diện tích nhà xưởng là 18.000 m
2
,

ở một vị trí rất thuận lợi
có 3 mặt phố bao quanh, cổng chính là 94 Phố Lò Đúc, hai cổng phụ ở phố Hòa
Mã và phố Nguyễn Công Trứ. Với địa điểm như vậy, Công ty tương đối thuận
lợi trong việc cung cấp vật tư, nguyên vật liệu đầu vào, tiêu thụ sản phẩm cũng
như có điều kiện nắm bắt kịp thời, nhanh chóng các diễn biến về các thông tin
kinh tế thị trường.

− Phòng tài chính kế toán: Có nhiệm vụ theo dõi mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty. Phòng kế toán là tham mưu đắc lực cho lãnh đạo công
ty, thông qua quản lý mua sắm, xuất nhập vật tư, thiết bị, tập hợp chi phí và tính
giá thành sản phẩm, tình hình tiêu thụ và kết quả. Ngoài ra còn tham mưu cho
Giám đốc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
− Phòng kế hoạch tiêu thụ: Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tiêu thụ cả
ngắn hạn và dài hạn, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với kế
hoạch giá thành sản phẩm, xây dựng và quản lý các quy chế bán hàng, hệ thống
phân phối, đại lý và các phương thức hoạt động tiếp thị, bán hàng,… Ngoài ra
phòng còn có chức năng nghiên cứu và phát triển thị trường trong nước và ngoài
nước, triển khai và tổ chức thực hiện tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa cho khách
hàng trong và ngoài nước.
− Phòng kỹ thuật công nghệ: có nhiệm vụ phát minh, nghiên cứu mới
những công nghệ sản xuất đem lại hiệu quả cao, chỉ đạo kỹ thuật sản xuất rượu,
Giám đốc
Phó giám đốc
kinh doanh
Phó Giám đốc
sản xuất
Phòng
Hành
chính
Phòng
Kế
hoạch
tiêu
thụ
Phòng
Kế
toán

công
nghệ
cồn, bao bì,… quản lý, giám sát, hướng dẫn việc thực hiện các quy trình công
nghệ, định mức kinh tế, kỹ thuật, đào tạo công nhân kỹ thuật công nghệ,…
− Phòng vật tư: Có nhiệm vụ lập kế hoạch mua vật tư về số lượng và giá trị
cho sản xuất trên cơ sở kế hoạch tiêu thụ, cung ứng các vật tư, nguyên, nhiên,
vật liệu, phụ tùng, máy móc, thiết bị,… đồng thời quản lý các kho thành phẩm,
kho vật tư, quản lý xe vận tải của công ty.
− Phòng kỹ thuật cơ điện: Có nhiêm vụ quản lý toàn bộ tài sản, máy móc
thiết bị điện, nước, môi trường trong công ty, xây dựng, tổ chức và thực hiện kế
hoạch sửa chữa thiết bị, nhà xưởng hàng quý, hàng năm,…
− Phòng KCS: Có chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát về chất lượng vật
tư, hàng hóa, nguyên, nhiên vật liệu,… theo tiêu chuẩn cơ sở và tiêu chuẩn Việt
Nam. Đồng thời tham gia công tác nghiên cứu sản phẩm mới, đề tài ứng dụng
khoa học kỹ thuật, đào tạo công nhân kỹ thuật,…
2.1.1.3.Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và quy trình công nghệ của
công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội.
∗ Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh.
Việc tổ chức hoạt động sản xuất được thực hiện theo mô hình công ty gồm
các xí nghiệp thành viên: hai xí nghiệp sản xuất chính và một xí nghiệp sản xuất
phụ trợ. Mỗi xí nghiệp sản xuất chính đảm bảo một quy trình công nghệ nhất
định:
− Xí nghiệp cồn: Là xí nghiệp sản xuất chính, có nhiệm vụ sản xuất cồn
tinh chế từ nguyên liệu tinh bột. Bao gồm các bộ phận: Tổ vận hành lò hơi, tổ
vận chuyển, tổ nấu tinh bột, tổ đường hóa lên men, tổ chưng cất, tổ vận hành
máy nén, máy bơm, tổ phân tích quản lý,…
− Xí nghiệp sản xuất rượu mùi: Là xí nghiệp sản xuất chính, sản xuất rượu
pha chế từ nguyên liệu cồn và các hương liệu chiết xuất từ hoa quả. Bao gồm
các bộ phận: tổ vận chuyển, tổ chế biến và pha chế, tổ máy rửa chai và chiết
rượu, đóng nút chai, tổ dán nhãn, tổ đai két. Hoạt động của xí nghiệp mang tính

∗ Quy trình sản xuất rượu vang.
Nguyên liệu chính là hoa quả tươi được chọn lựa và rửa sạch cho vào ngâm
đường, Được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.4:
Sơ đồ công nghệ sản xuất rượu vang
Xay Đường
hóa
Nấu
Lên
men
Chưng
cất
Ngô, sắn NướcNước Nước
men
Men
men
Dầu Funse
Cồn kỹ nghệ
Axit H
2
SO
4
NH
4
NO
3
Enzim
NH
4
NO

Xử lý
Rượu thành
phẩm
Vỏ chai Đóng chai Nút chai
Bao gói
Vỏ hộp Carton
Giấy gói
2.1.2. Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội.
Tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý có vai trò hết sức quan trọng
trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tổ chức
công tác kế toán phải xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, từ yêu
cầu quản lý, từ trình độ của cán bộ kế toán, từ quy trình công nghệ sản xuất của
công ty.
2.1.2.1.Tổ chức bộ máy kế toán tại Công rượu Hà Nội.
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức kế toán tập trung
dựa trên mối quan hệ trực tuyến được thể hiện qua sơ đồ 1.5.
Sơ đồ 1.5:
Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội
Phương thức kế toán tập trung thể hiện: toàn bộ công tác ghi sổ và sử lý
thông tin đều được thực hiện ở phòng kế toán. Các đơn vị trực thuộc tập hợp
Kế toán trưởng
(kiêm kế toán tổng hợp)
Phó phòng kế toán (kiêm kế
toán tiêu thụ)
Kế toán
nguyên
vật liệu
Kế toán
TSCĐ
và tiền

chịu trách nhiệm với cấp trên về chấp hành pháp luật, thể lệ, chế độ kế toán tài
chính hiện hành. Kế toán trưởng là người cung cấp các thông tin về tình hình tài
chính một cách chính xác, kịp thời và toàn diện để ban Giám đốc đưa ra quyết
định kinh doanh hợp lý. Cuối niên độ kế toán Kế toán trưởng phải lập báo cáo
tài chính.
− Kế toán tổng hợp: Làm nhiệm vụ mở sổ theo dõi tổng hợp các khoản
chi phí dựa trên phiếu chi, giấy thanh toán tạm ứng, chi phí nguyên vật liệu kết
chuyển vào các tài khoản có liên quan nhằm tính giá thành sản phẩm, xác định
kết quả kinh doanh, phân bổ kết quả kinh doanh, phân bổ tiền lương cho cán bộ
công nhân viên.
− Phó phòng kế toán kiêm kế toán tiêu thụ thành phẩm: Là người có
thể thay mặt Kế toán trưởng khi được ủy nhiệm đưa ra các quyết định chỉ đạo,
quản lý hoạt động hạch toán kế toán. Bên cạnh đó, phó phòng kế toán chịu trách
nhiệm tổ chức kế toán phần hành tiêu thụ toàn công ty. Hàng ngày, căn cứ vào
hóa đơn bán hàng, kế toán tiêu thụ ghi vào bảng kê chi tiết theo từng hóa đơn,
khách hàng, từng loại hàng bán về số lượng và giá trị. Cuối tháng, căn cứ vào
bảng kê chi tiết, kế toán ghi vào bảng kê chi tiết 8, 9 và tập hợp vào nhật ký -
chứng từ số 8, đồng thời xác định tổng doanh thu, giá vốn hàng bán để tính kết
quả lãi (lỗ) trong kỳ kinh doanh của công ty (hàng tháng).
− Kế toán nguyên vật liệu: Chịu trách nhiệm theo dõi tình hình nhập,
xuất, tồn vật tư, phân loại vật liệu, său đó ghi sổ chi tiết xuất, nhập, vật tư.
− Kế toán tài sản cố định: Hàng tháng, kế toán căn cứ vào nguyên giá
TSCĐ hiện có và thời gian dự kiến sử dụng của TSCĐ và tỷ lệ khấu hao do nhà
nước quy định tiến hành tính toán số khấu hao cho các đối tượng.
− Kế toán tiền lương và bảo hiểm xã hội: có nhiệm vụ theo dõi và phân
bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
− Kế toán thanh toán: Hàng ngày, căn cứ vào phiếu thu, chi tiền mặt, căn
cứ vào các chứng từ mua, bán chịu hàng hóa vật tư, các khoản phải trả, phải nộp
khác, kế toán ghi sổ chi tiết các tài khoản theo các hóa đơn tương ứng với từng
đối tượng khách hàng hay nhà cung cấp. Cuối tháng căn cứ sổ chi tiết vào các

Tài khoản sử dụng: Trước đây doanh nghiệp sử dụng các tài khoản áp dụng
cho doanh nghiệp sản xuất do Nhà nước ban hành theo quyết định QĐ
1141/TC/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài Chính, sang niên độ kế toán 2004
công ty còn căn cứ vào thông tư 89/2002/TT - BTC ngày 09/10/2002 để sửa đổi
ký hiệu và nội dung một số tài khoản trong quá trình hạch toán. Từ tháng 5/2006
Công ty áp dụng theo quyết định số: 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20 tháng
03 năm 2006.
Sơ đố 1.6:
Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức “Nhật ký - chứng từ” tại công ty Cổ
phần Cồn rượu Hà Nội
Các loại sổ sách kế toán sử dụng:
∗ Sổ, thẻ chi tiết:
− Sổ chi tiết nhập - xuất - tồn vật tư
− Bảng tổng hợp nhập - xuất - tồn vật tư
− Sổ đối chiếu luân chuyển vật tư
− Sổ chi tiết tài sản cố định
− Sổ chi tiết sửa chữa tài sản cố định (TSCĐ)
− Sổ chi tiết kho thành phẩm, tiêu thụ sản phẩm và vật tư
− Sổ chi tiết thanh toán với khách hàng (người bán)
− Sổ chi tiết bán hàng
− Bảng tính giá thành tổng hợp
− Thẻ tính giá thành sản phẩm
− Sổ quỹ
Bảng tổng hợp
chi tiết
Sổ Cái
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Ghi chú:
Ghi hàng ngày:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status