BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ BẢO NGỌC
CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH TRONG MUA BÁN, SÁP
NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN CỦA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ DƯỚI GÓC ĐỘ
SO SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..
HÀ NỘI – NĂM 2017
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát về công ty cổ phần 5
1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần 5
1.1.2. Đặc điểm công ty cổ phần 6
1.1.2.1. Về vốn điều lệ của công ty cổ phần 6
1.1.2.2. Về cấu trúc vốn mở của công ty cổ phần 7
1.1.2.3. Về cổ đông và phạm vi trách nhiệm của cổ đông đối với nghĩa
vụ của công ty cổ phần 7
2.2.2. Các quy định pháp luật về nghĩa vụ tài chính với bên thứ ba phát sinh trước giao
dịch mua bán, sáp nhập 61
2.2.3. Các quy định pháp luật về nghĩa vụ tài chính với nhà nước phát sinh sau giao
dịch mua bán, sáp nhập 63
2.2.3.1. Nghĩa vụ thuế thu nhập phát sinh từ giao dịch mua bán, sáp nhập 63
2.2.3.2. Nghĩa vụ thuế bán hàng phát sinh từ giao dịch mua bán, sáp nhập 67
2.2.3.3. Nghĩa vụ thuế khác phát sinh từ giao dịch mua bán, sáp nhập 69
2.2.4. Đánh giá các quy định pháp luật về tài chính trong mua bán, sáp nhập công ty
cổ phần tại Mỹ 70
Chương 3: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH TRONG MUA BÁN, SÁP NHẬP CÔNG
TY CỔ PHẦN CỦA HAI NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
3.1. Những điểm tương đồng giữa các quy định pháp luật về tài chính trong mua
bán, sáp nhập công ty cổ phần của hai nước 71
3.1.1. Những điểm tương đồng 71
3.1.2. Nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng 75
3.2. Những điểm khác biệt giữa các quy định pháp luật về tài chính trong mua bán,
sáp nhập công ty cổ phần của hai nước 76
3.2.1. Những điểm khác biệt 76
3.2.2. Nguyên nhân dẫn đến những sự khác biệt 81
3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật
về tài chính trong mua bán, sáp nhập công ty cổ phần 83
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bức tranh kinh tế toàn cầu hiện nay, hoạt động mua bán, sáp nhập
doanh nghiệp là một phần không thể thiếu trong nền kinh tế mỗi quốc gia. Hoạt
Trong thời gian qua, đã có một số tác giả có các công trình nghiên cứu
về hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp như: Cẩm nang mua bán và sáp
nhập tại Việt Nam của Mạng Mua bán và sáp nhập Việt Nam, M&A – Sáp nhập
và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam – Hướng dẫn cơ bản dành cho bên bán của
hai tác giả Phạm Trí Hùng và Đặng Thế Đức, Pháp luật về mua bán doanh
nghiệp ở Việt Nam – Luận văn tiến sỹ của tác giả Trần Thị Bảo Ánh, Pháp luật
về mua bán công ty ở Việt Nam – Luận văn thạc sĩ Vũ Phương Đông...Tuy
nhiên, những công trình này chỉ đề cập đến các quy định pháp luật về mua bán,
sáp nhập nói chung mà chưa đề cập đến các vấn đề tài chính phát sinh trong giao
dịch mua bán, sáp nhập công ty cổ phần. Bên cạnh đó, cũng chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách có hệ thống về so sánh các quy định pháp luật về tài
chính trong mua bán, sáp nhập công ty cổ phần của Mỹ và Việt Nam trong thời
gian gần đây.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về
hoạt động mua bán, sáp nhập công ty cổ phần tại Mỹ và Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Với tính chất là luận văn thạc sĩ luật học, luận
văn đặt trọng tâm nghiên cứu các vấn đề về tài chính trong mua bán, sáp
nhập công ty cổ phần dưới góc độ khoa học pháp lý. Các quy định pháp
luật có liên quan đến các vấn đề pháp lý phát sinh trong giao dịch mua
bán, sáp nhập công ty cổ phần sẽ được tác giả dẫn chiếu trong nội dung
luận văn để có cái nhìn tổng thể, chính xác hơn về vấn đề này theo pháp
luật của hai nước.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu một cách có
hệ thống pháp luật Mỹ và Việt Nam về tài chính trong mua bán, sáp nhập công
ty cổ phần, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định pháp luật
của hai nước để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
trình nghiên cứu độc lập và nghiêm túc, luận văn đã (i) chỉ ra được những đặc
trưng pháp lý cơ bản của hoạt động mua bán, sáp nhập công ty cổ phần cũng như
của những vấn đề tài chính phát sinh trong các giao dịch này theo pháp luật Việt
Nam và trong tương quan so sánh với pháp luật Mỹ; (ii) đề xuất một số bài học
kinh nghiệm mà pháp luật Việt Nam có thể học hỏi để hoàn thiện hơn từ những
phân tích, so sánh trong việc điều chỉnh về vấn đề này với pháp luật Mỹ.
8. Kết cấu của luận văn
Nội dung luận văn gồm phần mở đầu; 03 chương; kết luận, danh mục
các văn bản pháp luật được dẫn chiếu và danh mục tài liệu tham khảo.
- Chương 1: Khái quát về mua bán, sáp nhập công ty cổ phần
- Chương 2: Các quy định pháp luật về tài chính trong mua bán, sáp nhập
công ty cổ phần của Mỹ và Việt Nam
- Chương 3: Những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định pháp
luật về tài chính trong mua bán, sáp nhập công ty cổ phần của hai nước
và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP
CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát về công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần
Công ty cổ phần được biết đến là loại hình công ty đối vốn điển hình và
phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Trên thế giới, những ghi chép đầu tiên về
công ty cổ phần được tìm thấy tại Trung Quốc trong thời kỳ những năm 960 –
1279 sau Công nguyên. Sau đó, vào những năm 1250, tại Pháp, 96 cổ phần của
công ty Bazacle Milling đã được đem ra giao dịch trên thị trường với mức giá trị
phụ thuộc vào lợi nhuận thu được của các nhà máy thuộc sở hữu xã hội.Có thể
coi đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của công ty cổ phần trong lịch sử hình
nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 và Luật doanh nghiệp 2014.
1.1.2. Đặc điểm công ty cổ phần
1.1.2.1. Về vốn điều lệ của công ty cổ phần
Vốn điều lệ được hiểu là số vốn do các cổ đông góp vào công ty, được
ghi vào điều lệ công ty. Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần. Đây là một điểm đặc thù của công ty cổ phần bởi
không có loại hình doanh nghiệp nào (bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty hợp danh…) có vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau để tạo
ra tính linh hoạt trong việc huy động và chuyển nhượng vốn như trường hợp
công ty cổ phần. Việc sở hữu cổ phần của một công ty là căn cứ pháp lý chứng
minh tư cách cổ đông công ty của người sở hữu cổ phần và là cơ sở đầy đủ nhất
xác định quyền và nghĩa vụ của cổ đông đối với công ty đó.
1.1.2.2. Về cấu trúc vốn mở của công ty cổ phần
Công ty cổ phần có cấu trúc vốn mở, bởi hai lý do. Một là, các cổ đông
có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần trừ một số trường hợp bị pháp luật cấm
hoặc hạn chế chuyển nhượng. Mức độ tự do chuyển nhượng cổ phần phụ thuộc
vào từng loại cổ phần mà công ty phát hành. Với tính tự do chuyển nhượng cổ
phần này, cơ cấu cổ đông của công ty có thể thay đổi linh hoạt mà hầu như
không ảnh hưởng đến sự tồn tại cũng như hình thức tổ chức của công ty, đặc biệt
ở những quốc gia pháp luật thừa nhận công ty cổ phần một cổ đông. Số lượng cổ
đông thay đổi chỉ làm cho một công ty cổ phần trở thành công ty đại chúng hoặc
công ty phi đại chúng nhưng về bản chất, công ty đó vẫn là công ty cổ phần với
nghĩa vụ công bố thông tin lớn hay nhỏ tùy thuộc vào quy mô của công ty. Đây
là điểm khác biệt căn bản giữa công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn
vì công ty trách nhiệm hữu hạn có thể phải đăng ký thay đổi hình thức tổ chức từ
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành công ty trách nhiệm hữu hạn
hai thành viên trở lên hoặc ngược lại do thành viên công ty thực hiện quyền
chuyển nhượng phần vốn mà mình sở hữu trong công ty. Hai là, khả năng huy
thể phát hành trái phiếu để huy động vốn nếu thỏa mãn những điều kiện luật
định; công ty hợp danh có thể huy động vốn bằng cách tiếp nhận thêm thành
viên mới … Riêng công ty cổ phần, có nhiều sự lựa chọn hơn trong huy động
vốn so với các loại hình doanh nghiệp khác thông qua một trong những hình
thức sau: (i) chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu, hoặc chào bán cổ phần
riêng lẻ; (ii) phát hành trái phiếu; (iii) chào bán chứng khoán ra công chúng (nếu
công ty cổ phần đáp ứng các điều kiện luật định).
1.2. Khái quát về mua bán, sáp nhập công ty cổ phần
1.2.1. Khái niệm mua bán, sáp nhập công ty cổ phần
Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, thường được nhắc đến với tên gọi
“M&A” là một hiện tượng phổ biến và tất yếu trong nền kinh tế thị trường vì các
doanh nghiệp luôn luôn mong muốn cải thiện năng lực cạnh tranh nhằm chiếm
lĩnh thị phần và chi phối thị trường. Ở mỗi quốc gia, các doanh nghiệp có cách
tiếp cận về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp khác nhau. Không chỉ đơn thuần là
mua bán tài sản, chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, hay thỏa thuận việc sáp
nhập thông qua hợp đồng, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp thường được tiếp cận
như một phương thức nhằm chi phối các quyết định trong quản lý điều hành,
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng thị phần để chiếm lĩnh thị
trường. Hoạt động này cần phải được kiểm soát nhằm đảm bảo việc mua bán,
sáp nhập doanh nghiệp không gây ảnh hưởng tiêu cực hoặc hạn chế tự do cạnh
tranh trên thị trường. Với cách tiếp cận như vậy, hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều quan tâm đến hệ quả của việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là khả
năng chi phối, kiểm soát doanh nghiệp và vị trí cũng như thị phần của doanh
nghiệp hậu mua bán, sáp nhập. Khi đề cập đến mua bán, sáp nhập doanh nghiệp,
một số nước thường sử dụng cụm từ Mergers and Acquisitions (viết tắt là
M&A) để hàm chỉ các hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Mua bán và
đổi lấy tiền mặt hoặc tài sản theo sự thỏa thuận của các bên. Hai là thông qua
giao dịch “bán và thanh lý” (sale-and- liquidation). Trong giao dịch này người
quản lý và cổ đông công ty mục tiêu sẽ bỏ phiếu thông qua việc bán toàn bộ tài
sản của công ty lấy tiền mặt và giải tán công ty. Tiền thu được sẽ chia cho cổ
đông theo tỷ lệ sở hữu của các cổ đông trong công ty. Hình thức này tương tự
hình thức thứ nhất, chỉ khác về trật tự các bước bán - thanh lý thay vì thanh lý bán. Ba là “bán cổ phần” (stock sale), ở đó, công ty nhận mua đứng ra mua cổ
phần trực tiếp từ cá nhân các cổ đông công ty mục tiêu thông qua việc chào mua
công khai (để mua từ những cổ đông muốn bán) hoặc bằng cách đàm phán riêng
với từng cổ đông (giá mua có thể khác nhau giữa các cổ đông). Kết quả là công
ty nhận mua có thể mua toàn bộ cổ phần hoặc phần lớn cổ phần của công ty mục
tiêu. Công ty mua, nếu muốn, có thể đi tiếp bước nữa sau khi mua cổ phần của
công ty mục tiêu là giải tán công ty mục tiêu và chuyển toàn bộ tài sản đã thanh
lý của công ty mục tiêu sang công ty mua (nếu đã mua hết cổ phần của công ty
bán) hoặc chia tài sản thanh lý đó cho mình và cho các cổ đông còn lại của công
ty mục tiêu (nếu không mua hết cổ phần của công ty mục tiêu). Hình thức này
khác hai hình thức đầu ở chỗ đối tượng giao dịch là cổ phần thay vì tài sản
nhưng điểm chung của cả ba hình thức là ở chỗ đều có hoạt động thanh lý tài sản
(trừ khi trong hình thức thứ ba, bên mua không muốn thanh lý công ty mục tiêu).
Căn cứ vào ý nguyện của các bên trong giao dịch mua bán doanh
nghiệp, hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Mỹ được chia thành hai loại là giao
dịch mua bán “thiện chí” (friendly acquisition) và giao dịch thôn tính (hostile
acquisition)5. Giao dịch mua bán kiểu thiện chí là loại hình giao dịch mua bán
doanh nghiệp, trong đó, đội ngũ cán bộ quản lý của công ty mục tiêu chấp thuận
giao dịch mua bán và mong muốn đạt được kết quả cũng như lợi ích tốt đẹp từ
giao dịch đó. Đối với loại hình giao dịch này, (i) việc mua bán được hình thành
từ lời đề nghị mua lại công khai của bên mua và nhận được sự chấp thuận bán
của chủ sở hữu doanh nghiệp mục tiêu, và (ii) giao dịch được thực hiện bằng một
thỏa thuận giữa đại diện lãnh đạo của hai bên công ty. Ngược lại, hoạt động mua
độc quyền trên thị trường, ví dụ như theo quy định tại Điều 7 của Đạo luật
Clayton (1914), không người nào được tiến hành hoạt động mua lại doanh
nghiệp trực tiếp hay gián tiếp thông qua việc mua lại một phần hay toàn bộ cổ
phần hay tài sản của người khác nếu hoạt động mua lại đó có thể làm suy giảm
sự cạnh tranh hoặc có khả năng dẫn đến sự thống lĩnh thị trường.
Tại Việt Nam, cách hiểu về thuật ngữ “mua bán, sáp nhập” còn chưa có
sự đồng thuận. Đối với mua bán, do cách dịch thuật ngữ “acquisition” sang tiếng
Việt khác nhau, có tác giả dịch là mua bán, có tác giả dịch là mua lại nhưng về
nội hàm của thuật ngữ “mua bán” hoặc “mua lại” doanh nghiệp dưới góc độ
pháp lý đều là việc bên bán doanh nghiệp chuyển một phần hoặc toàn bộ quyền
sở hữu doanh nghiệp cho bên mua thông qua các hình thức mua bán cổ phần,
phần vốn góp của chủ sở hữu doanh nghiệp để kiểm soát được hoạt động doanh
nghiệp mục tiêu; hoặc mua bán tài sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nhà khoa
học hiện có những ý kiến khác nhau khi giải thích về thuật ngữ mua bán, mua
lại, thôn tính doanh nghiệp. Có ý kiến cho rằng, pháp luật Việt Nam có lẽ nên
thay đổi thuật ngữ mua lại/mua bán doanh nghiệp bằng thuật ngữ thâu tóm
doanh nghiệp thì khái niệm sẽ được mở rộng hơn. Thâu tóm doanh nghiệp rộng
hơn mua bán/mua lại doanh nghiệp vì thâu tóm doanh nghiệp có thể không sử
dụng hình thức thanh toán bằng tiền mặt hay mua nợ mà còn thông qua hình thức
lôi kéo cổ đông bất mãn hoặc hoán đổi cổ phần7. Quan điểm này có phần mâu
thuẫn với cách hiểu về các loại hình giao dịch mua bán doanh nghiệp tại một số
7 “Hoạt động sáp nhập và mua lại – Cơ sở lý luận, kinh nghiệp quốc tế và kiến nghị chính
sách cho
Việt Nam”, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2009 [tr22]
nước, bao gồm giao dịch mua bán thiện chí và giao dịch thôn tính. Do đó, nếu
nói thâu tóm doanh nghiệp rộng hơn mua bán doanh nghiệp thì sẽ dẫn đến sự
khác nhau trong cách hiểu về thuật ngữ thâu tóm và thôn tính doanh nghiệp,
trong khi về bản chất, đây không phải là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt. Bên
hợp pháp của tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại)”. Như vậy,
khác với Pháp luật cạnh tranh, Thông tư 04/TT-NHNN không thừa nhận việc
mua lại một phần tài sản mà chỉ thừa nhận việc mua lại toàn bộ tài sản của tổ
chức tín dung mục tiêu. Bên cạnh đó, định nghĩa về mua lại tổ chức tín dụng của
Thông tư 04/TT-NHNN cũng khác với thông lệ ở nhiều nước trong đó có Mỹ khi
coi việc chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ cũng như lợi ích hợp pháp của tổ
chức tín dụng mục tiêu sang tổ chức tín dụng mua là đương nhiên, đi kèm với
giao dịch mua lại. Ở nhiều quốc gia phát triển, các quyền và nghĩa vụ của doanh
nghiệp mục tiêu có chuyển sang doanh nghiệp mua hay không là do hai bên thỏa
thuận trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
Khác với mua bán doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp lại được pháp
luật Việt Nam quy định khá nhất quán giữa Luật Cạnh tranh (2004) và Luật
Doanh nghiệp (2014). Theo đó, sáp nhập được hiểu là việc một hoặc một số
doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của
mình sang một số doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh
nghiệp bị sáp nhập. Ngoài ra, căn cứ vào quy định của pháp luật Việt Nam về
sáp nhập thì có thể hiểu rằng, luật doanh nghiệp chỉ quy định hình thức sáp nhập
doanh nghiệp mà trong đó các bên có sự thoả thuận nhất trí về việc sáp nhập.
Như vậy, hai hay nhiều doanh nghiệp muốn thực hiện sáp nhập thì họ phải có
thoả thuận sáp nhập được chấp thuận từ cả hai phía. Hiện pháp luật Việt Nam
chưa quy định về sáp nhập doanh nghiệp do ý chí của một bên chủ thể. Quy định
này của pháp luật đã dẫn đến thực tế là nếu một công ty muốn sáp nhập mà
không đạt được thoả thuận nhất trí từ công ty mục tiêu thì họ sẽ phải thực hiện
phương thức mua lại công ty trước sau đó tiến hành sáp nhập. Bên cạnh đó, cũng
giống như pháp luật Mỹ, Luật Cạnh tranh của Việt Nam cũng cấm các giao dịch
mua bán, sáp nhập nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia giao dịch
doanh nghiệp tư nhân còn hoạt động mua bán công ty cổ phần chưa được quy
định. Tuy nhiên, (1) Điều 17.3 Luật Cạnh tranh đã quy định về khái niệm hoạt
động mua lại doanh nghiệp là việc mua lại một phần hoặc toàn bộ tài sản của
doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của
doanh nghiệp bị mua lại. Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc mua bán
doanh nghiệp nói chung (chứ không chỉ mua bán doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp tư nhân) và mua bán công ty cổ phần nói riêng; (2) Điều 4.3 Thông tư số
04/2010/TT-NHNN cũng đã quy định về hoạt động mua lại tổ chức tín dụng là
việc mua lại toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín
dụng khác. Đây có thể được coi là một cơ sở pháp lý cho hoạt động mua lại công
ty cổ phần, bởi lẽ, tổ chức tín dụng trước tiên cũng là một loại hình doanh
nghiệp, chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp bên cạnh sự điều chỉnh
của pháp luật về tổ chức tín dụng và tổ chức tín dụng có thể là doanh nghiệp
được thành lập dưới mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng... Thực tế cho thấy, các tổ
chức tín dụng chủ yếu tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần bởi hoạt động của
các tổ chức tín dụng yêu cầu lượng vốn lớn và cần sự huy động vốn linh hoạt.
Do vậy, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp phù hợp và được lựa chọn
nhiều hơn cả để áp dụng cho loại hình hoạt động của tổ chức tín dụng. Bên cạnh
đó, hiện nay, tại Việt Nam, ngoài một số tổ chức tín dụng do nhà nước là chủ sở
hữu (Ngân hàng NN0&PTNT Việt Nam, Ngân hàng chính sách Việt Nam…) và
tổ chức tín dụng là ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, tất cả các tổ chức tín
dụng khác hầu hết đều đang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần. Vì lẽ đó,
hoạt động mua bán công ty cổ phần có thể được hiểu và áp dụng tương tự như
quy định về mua lại tổ chức tín dụng trong Thông tư 04/2010/TT-NHNN thay vì
quy định về mua bán doanh nghiệp trong Luật Cạnh tranh. Do đó, có thể căn cứ
quy định Thông tư 04/2010/TT-NHNN để khẳng định rằng, pháp luật Việt Nam
đã thừa nhận việc mua bán công ty cổ phần thông qua việc mua lại toàn bộ tài
Hoạt động mua bán công ty cổ phần có thể được thực hiện thông qua
hình thức chuyển nhượng toàn bộ tài sản của công ty, hoặc mua bán toàn bộ
hoặc một phần cổ phần của công ty để để nắm quyền quản lý, chi phối công ty cổ
phần đó. Theo đó, trong trường hợp mua bán tài sản của công ty thì chủ thể bán
được xác định là công ty cổ phần mục tiêu được mua lại và khi đó, việc quyết
định bán công ty phụ thuộc vào quyết định hợp lệ của chủ sở hữu công ty, chính
là các cổ đông của công ty. Trường hợp mua bán công ty thông qua chuyển
nhượng cổ phần, chủ thể tham gia hoạt động mua bán công ty cổ phần với tư
cách là bên bán được xác định là các cổ đông của công ty, những người là chủ sở
hữu hợp pháp của những cổ phần đó. Do đó, có thể nhận định rằng, chủ sở hữu
công ty cổ phần là chủ thể có quyền bán công ty cổ phần.