BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ TÍM HUẾ
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC
GIÁO DỤC HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
DẠY HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ TÍM HUẾ
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC
GIÁO DỤC HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
DẠY HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử giáo dục
Mã số: 9 1 4 0 1 0 2
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. VŨ TRỌNG RỸ
2. TS. PHẠM QUANG TIẾN
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU…………………………………………………………….
1
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu…………………………..
1
2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………….
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu…………………………….
2
4. Giả thuyết khoa học……………………………………………..
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………………………
3
6. Phạm vi giới hạn của đề tài……………………………………..
1.1.2. Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học các môn học……
12
1.1.3. Các nghiên cứu về năng lực, phát triển năng lực trong dạy
học……………………………………………………………………
18
1.1.4. Những nghiên cứu về xây dựng và sử dụng bài tập theo hướng
phát triển năng lực ……………………………………….
25
1.1.5. Nhận định chung……………………………………………
28
1.2. Khái niệm cơ bản……………………………………………..
29
1.2.1. Bài tập……………………………………………………….
29
1.2.2. Xây dựng bài tập………………………………………………
31
1.3.2. Năng lực dạy học cần hình thành, phát triển cho sinh viên Cao
đẳng Sư phạm…………………………………………………….
38
1.3.3. Dạy học môn Giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy
học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm…………………………..
39
1.4. Bài tập Giáo dục học trong phát triển năng lực dạy học cho
sinh viên Cao đẳng Sư phạm ……………………………………….
47
1.4.1. Bài tập Giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy học
47
1.4.2. Yêu cầu của việc xây dựng bài tập trong dạy học Giáo dục học
theo hướng phát triển năng lực dạy học……………………………..
65
1.4.3. Yêu cầu của việc sử dụng bài tập trong dạy học Giáo dục học
theo hướng phát triển năng lực dạy học……………………………
66
2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng…………………………….
71
2.1. 1. Mục đích khảo sát……………………………………………
71
2.1.2. Đối tượng khảo sát, địa bàn khảo sát………………………….
71
2.1.3. Nội dung khảo sát……………………………………………..
71
2.1.4. Phương pháp khảo sát………………………………………..
71
2.2. Kết quả khảo sát ………………………………………………..
72
2.2.1. Thực trạng nhận thức của giảng viên về xây dựng và sử dụng
bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao
đẳng Sư phạm……………………………………………………….
72
3.2.2. Qui trình xây dựng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực
dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm………………………
106
3.2.3. Minh họa hệ thống bài tập học phần “Hoạt động dạy học ở
trường THCS” theo hướng phát triển năng lực dạy học…………..
109
3.3. Nguyên tắc, qui trình sử dụng bài tập Giáo dục học theo
hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư
phạm……………………………………………………………….
124
3.3.1. Nguyên tắc sử dụng bài tập Giáo dục học theo hướng phát triển
năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm………….
124
3.3.2. Qui trình sử dụng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực
dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm…………………….
127
3.3.3. Minh họa sử dụng bài tập học phần “Hoạt động dạy học ở
trường THCS” theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên
136
4.2. Thực nghiệm vòng 1………………………………………….
144
4.2.1. Mục tiêu……………………………………………………..
144
4.2.2. Tiến hành thực nghiệm vòng 1………………………………
144
4.2.3. Kết quả thực nghiệm vòng 1…………………………………….
144
4.3. Thực nghiệm vòng 2 ………………………………………….
150
4.3.1. Mục tiêu……………………………………………………..
150
4.3.2. Tiến hành thực nghiệm vòng 2……………………………..
150
2. Khuyến nghị………………………………………………………..
160
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ… 162
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………
163
PHỤ LỤC……………………………………………………………
172
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Viết tắt
Viết đầy đủ
XD&SDBT
Xây dựng và sử dụng bài tập
THCS
Trung học cơ sở
GDH
Giáo dục học
79
Bảng 2.4.
Ý kiến GV về các yêu cầu khi sử dụng bài tập
81
Bảng 2.5.
Khó khăn giảng viên gặp phải trong xây dựng bài tập
84
Bảng 2.6.
Hiệu quả xây dựng bài tập của GV
85
Bảng 2.7.
Hiệu quả sử dụng bài tập của GV
87
Bảng 2.8.
Mức độ sử dụng phương pháp dạy học của GV
Bảng 3.1.
Mục tiêu phát triển năng lực dạy học của học phần “Hoạt
động dạy học ở trường THCS”
Phiếu đánh giá năng lực lập kế hoạch dạy học năm học
105
Phiếu đánh giá năng lực lập kế hoạch dạy học bài
học(thiết kế giáo án)
Phiếu đánh giá năng lực tổ chức dạy học
138
142
Bảng 4.5.
Phiếu đánh giá năng lực xây dựng, sử dụng hồ sơ dạy
học
Phân nhóm thực nghiệm sư phạm vòng 1
Bảng 4.6.
Kết quả học tập năm nhất của SV lớp TN và ĐC
145
Bảng 4.7.
140
144
Bảng 4.11.
Mức độ tự tin của SV lớp thực nghiệm và đối chứng sau
149
thực nghiệm tác động vòng 1
Bảng 4.12.
Phân nhóm thực nghiệm sư phạm vòng 2
151
Bảng 4.13.
Kết quả học tập năm nhất của SV lớp TN và ĐC
151
Bảng 4.14.
Phân phối tần suất kết quả phát triển năng lực dạy học
152
Hình 4.2
Biểu đồ biểu diễn tần suất hội tụ tiến của hai lớp
thực nghiệm và đối chứng
154
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1. Trước thực trạng về đội ngũ nhà giáo ở trường phổ thông còn bất cập
về chất lượng, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo
dục, thiếu tâm huyết [dẫn theo Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 04/11/2013];
đặc biệt kết quả khảo sát 1.184 giáo viên thuộc 14 trường THCS của 7 tỉnh
(thành phố) trên cả nước cho thấy, năng lực dạy học của giáo viên THCS đạt
mức trung bình, theo thang 5 bậc [dẫn theo 62, Phan Trọng Ngọ (2016), “Năng
lực dạy học của giáo viên THCS”]. Năng lực dạy học của giáo viên THCS chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến kết quả quá trình đào tạo giáo
viên ở các trường Cao đẳng Sư phạm- cái nôi đào tạo giáo viên THCS - vẫn còn
hạn chế. Những hạn chế trong kết quả dạy học môn GDH ở trường CĐSP cũng
là một trong những nguyên nhân dẫn tới năng lực dạy học của SV CĐSP khi ra
trường chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc dạy học ở trường THCS. Để
khắc phục những hạn chế trên, cần đổi mới đào tạo ở trường CĐSP theo hướng
phát triển năng lực nhằm phát triển một lực lượng giáo viên có năng lực dạy
học, năng lực giáo dục, năng lực phát triển nghề nghiệp; có thể thực hiện các
nhiệm vụ dạy học và giáo dục một cách ổn định, phù hợp với các tiêu chuẩn đặt
ra trong nghề ở hàng loạt các bối cảnh hoặc các điều kiện nhất định của thực tiễn
giáo dục phổ thông. XD&SDBT trong dạy học GDH theo hướng phát triển năng
lực dạy học là một trong những con đường hình thành và phát triển năng lực dạy
Xuất phát từ những lý do trên, nhằm góp phần hình thành và phát triển
năng lực dạy học cho SV sư phạm, nâng cao hiệu quả đào tạo giáo viên THCS
tương lai, thực hiện thành công đổi mới giáo dục ở trường CĐSP, chúng tôi lựa
chọn và nghiên cứu đề tài: “Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học GDH
theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất qui trình, nguyên tắc XD&SDBT GDH theo hướng phát triển
năng lực dạy học cho SV CĐSP.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
3
Quá trình dạy học môn GDH ở trường CĐSP.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa bài tập với chuẩn đầu ra về năng lực dạy học và các
thành tố của quá trình dạy học đặc biệt là nhiệm vụ dạy học, phương pháp dạy
học GDH của GV.
4. Giả thuyết khoa học.
Nếu bài tập GDH được xây dựng và sử dụng dựa trên qui trình, nguyên tắc
của việc XD&SDBT theo hướng phát triển năng lực dạy học, bài tập đảm bảo
các yêu cầu của bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy học thì sẽ phát triển
được năng lực dạy học cho SV đáp ứng chuẩn năng lực đầu ra.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý luận của việc XD&SDBT trong dạy học GDH theo
hướng phát triển năng lực dạy học.
5.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng việc XD&SDBT trong dạy học GDH
theo hướng phát triển năng lực dạy học.
5.3. Xác định nguyên tắc và qui trình xây dựng, sử dụng bài tập trong dạy
học GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học.
tâm lý, nhân cách con người được hình thành và bộc lộ trong quá trình hoạt
động. Tính tích cực hoạt động của cá nhân quyết định trực tiếp sự hình thành và
phát triển tâm lý của con người trong sử dụng bài tập GDH theo hướng phát
triển năng lực dạy học cho SV CĐSP. Bài tập GDH được sử dụng gắn liền với
phương pháp dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động của người học. SV phải tự
giác và tích cực hoàn thành bài tập dưới vai trò hướng dẫn của GV nhằm phát
triển năng lực nghề nghiệp cho bản thân.
Tiếp cận đào tạo theo năng lực: Đào tạo theo năng lực thực chất là đào tạo
theo chuẩn đầu ra. Người học khi ra trường phải thực hiện được các nhiệm vụ
trong một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nhất định mà họ được đào tạo. Trong
dạy học GDH, việc xác định hệ thống các năng lực cần hình thành cho SV phải
dựa trên những yêu cầu của hoạt động dạy học ở trường phổ thông, yêu cầu của
chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS; dựa vào đó GV tiến hành xây dựng bài tập
5
GDH và sử dụng bài tập trong dạy học sao cho người học tự hoàn thành được
bài tập, từ đó có thể hoàn thành một nhiệm vụ bất kỳ nào đó trong dạy học ở
trường phổ thông. Tiến hành đánh giá sự phát triển năng lực dạy học của SV
theo những tiêu chí đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu nghề nghiệp.
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Để xây dựng cơ sở lý thuyết
cho vấn đề nghiên cứu của đề tài. Cụ thể: Phân tích, so sánh, khái quát hoá, hệ
thống hoá lý thuyết từ các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước có
liên quan đến đề tài luận án.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nhằm thu thập những thông
tin về thực trạng xây dựng , sử dụng bài tập GDH theo hướng phát triển năng
lực dạy học và kết quả thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp quan sát: Quan sát, ghi chép, nhận xét, đánh giá thực trạng sử
dụng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học và kết quả làm bài
8.2. Trong dạy học GDH, việc XD&SDBT theo hướng phát triển năng lực
dạy học làm phương tiện hỗ trợ cho các phương pháp dạy học sẽ tích cực hoá
hoạt động của người học, giúp hình thành và phát triển năng lực dạy học cho SV
đáp ứng chuẩn đầu ra về năng lực dạy học.
9. Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã kế thừa những quan điểm của các tác giả đi trước đồng thời xác
định được cơ sở lý luận của việc XD&SDBT theo hướng phát triển năng lực dạy
học trong dạy học GDH. Phần khung lý thuyết này của luận án bao gồm những
khái niệm và quan điểm khoa học về bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy
học; đặc điểm của dạy học môn GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học ở
trường CĐSP.
Kết quả khảo sát thực trạng của luận án đã phản ánh được hạn chế trong
nhận thức của GV dạy GDH ở trường CĐSP về XD&SDBT theo hướng phát
triển năng lực dạy học. Qua phân tích nguyên nhân của thực trạng và kết quả
thực trạng cho phép tác giả luận án nhận định việc XD&SDBT trong dạy học
GDH ở trường CĐSP chưa hiệu quả. Do đó cần thiết phải bồi dưỡng nhận thức
7
cho GV CĐSP về XD&SDBT trong dạy học GDH theo hướng phát triển năng
lực dạy học.
Đề xuất được nguyên tắc, qui trình xây dựng, sử dụng bài tập theo hướng
phát triển năng lực dạy học giúp cho GV dạy học GDH dễ dàng thực hiện việc
XD&SDBT GDH đáp ứng yêu cầu của đổi mới đào tạo ở trường Sư phạm theo
hướng phát triển năng lực nghề nghiệp.
Thiết kế được các bài tập học phần “Hoạt động dạy học ở trường THCS”
thuộc môn GDH theo qui trình đã đề xuất. Xây dựng tiêu chí, công cụ đánh giá
năng lực dạy học của SV trong đào tạo giáo viên THCS; minh họa sử dụng bài
tậptheo hướng phát triển năng lực dạy học trong dạy học học phần “Hoạt động
dạy học ở trường THCS”. GV dạy GDH có thể sử dụng sản phẩm này như một
những câu hỏi khác nhau để đưa người học vào tình huống có vấn đề. Dưới sự
giúp đỡ của thầy, thông qua các câu hỏi mà học sinh có được tri thức mới [77,
Tr 40]. Bài tập ở đây tồn tại dưới dạng các câu hỏi đã có sự gợi ý, có ý nghĩa
giúp người học tìm ra những kiến thức mới, những chân lí mà trước đây người
học chưa nhận ra hoặc nhận ra nhưng chưa được tỏ tường, sâu sắc. Điều đáng
lưu ý ở đây là bài tập chỉ thực sự có ý nghĩa khi người học phải tự tìm ra kiến
thức mới thông qua việc tự giải quyếtcác mâu thuẫn chứ không phải chỉ nghe
hoặc xem thầy giải quyết. Thầy chỉ là người gợi ý, khuyến khích để trò tự tìm
kiếm chân lí thông qua giải bài tập.
Vào thế kỷ XVIII, Petxtalodi (1746 – 1827) - nhà giáo dục Thuỵ Sĩ, một
xu hướng tiến bộ của giáo dục đầu thế kỉ XIX - cho rằng: “khả năng thực hiện
những điều mà trái tim và khối óc đòi hỏi phần lớn là tuỳ thuộc vào kỹ năng
hành động của con người. Những kỹ năng ấy được hình thành là nhờ một hệ
thống các bài luyện tập đặc biệt, có hệ thống và có mức độ khó khăn phức tạp
tăng dần”[77, Tr 120]. Bài tập ở đây giữ vai trò là cầu nối của quá trình hiện
thực hoá những nhu cầu, ý tưởng của con người. Làm bài tập sẽ giúp người học
9
có được những kỹ năng . Các bài tập rèn luyện kỹ năng ở các mức độ khác nhau
sẽ hình thành những mức độ khác nhau của kỹ năng . Thông thường, các kỹ
năng được hình thành từ thấp đến cao, từ mức độ đơn giản đến phức tạp tuỳ
thuộc vào yêu cầu, độ khó của bài tập. Và việc bắt đầu rèn luyện một kỹ năng
bao giờ cũng bắt đầu từ việc làm những bài tập đơn giản nhất. Sự thành thạo và
tính phức tạp của kỹ năng sẽ tăng lên trong quá trình người học hoàn thành
những bài tập được xây dựng theo một hệ thống có số lượng, thể loại và độ khó
tăng dần.
Đến đầu thế kỉ XX, Maria Montessori (1870 – 1952) - Nhà giáo dục người
Ý nổi bật lên trong phong trào giáo dục tiến bộ diễn ra tại châu Âu và Mĩ thời kỳ
này cho rằng, người học sẽ học tập tốt nhất thông qua thực hiện các nhiệm vụ cụ
Vai trò quan trọng của các bài tập trong việc hình thành kiến thức mới
được Jean Piaget (1896 - 1980) nhắc nhở rằng: Trẻ em không học cách thử
nghiệm chỉ đơn giản bằng học cách giáo viên thao tác các thử nghiệm hoặc bằng
cách làm các bài tập đã được tổ chức trước. Trẻ em học bằng quá trình tìm kiếm
và nhầm lẫn, bằng cách làm việc chủ động và độc lập. Hay có thể hiểu cần phải
tổ chức cho trẻ biết phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập
để trẻ có thể tự chiếm lĩnh kiến thức mới [93]. Do đó bài tập chỉ có ý nghĩa hình
thành kiến thức mới cho người học nếu người học tự mình giải quyết các bài tập.
Tất nhiên quá trình này rất cần có sự hỗ trợ của giáo viên
Nhà khoa học Nga E.X. Rapaxsêvich quan niệm: Bài tập là các hình thức
khác nhau về nội dung và khối lượng công việc hoạt động tự học của học sinh
dưới sự chỉ dẫn của giáo viên. Bài tập là một phần không thể thiếu của QTDH,
là phương tiện quan trọng để tích cực hoá hoạt động của người học. Bài tập có vị
trí trong tất cả các khâu của QTDH, từ khâu làm quen với tài liệu học tập, lĩnh
hội tri thức mới, hình thành kỹ năng kỹ xảo, củng cố tri thức, vận dụng tri thức
vào thực tiễn [ 102, Tr 223 - 224].
Tác giả Uman A. I [dẫn theo103] cho rằng bất cứ một tài liệu học tập nào
đều có thể trở thành bài tập khi nó chứa đựng những yếu tố sau:
- Những chỉ dẫn về đối tượng của hành động (điều kiện của bài tập).
11
- Mối liên hệ giữa hành động cần thực hiện với đối tượng của hành động.
Trong mối quan hệ đó luôn tiềm ẩn cách thức giải quyết bài tập.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Bài tập trở thành đối tượng hoạt
động của một chủ thể khi nó làm nảy sinh ở người nào đó nhu cầu chọn và giải
quyết nó [69, Tr 30]. Như thế bài tập được hiểu là đối tượng của hoạt động học,
mang những đặc điểm cuốn hút được chủ thể của hoạt động học, khiêu khích
được trí tò mò của người học và kích thích họ giải quyết.
Tác giả Phạm Minh Hạc [32] khi phân tích tác phẩm đầu tiên của tâm lý
mạnh bản thân người học phải thực hiện các hoạt động nhằm củng cố vững chắc
những nội dung học tập đã học. Các hoạt động này luôn có vai trò định hướng
dẫn dắt của giáo viên. Thực hiện các hoạt động đó là người học đang giải quyết
các bài tập dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo ý đồ của người dạy và nội
dung yêu cầu của lĩnh vực học tập[61,Tr 310].
Theo tác giả Trần Văn Hà: Bài tập được xem là cầu nối giữa lý thuyết và
thực hành, giải bài tập là quá trình đưa học sinh đến với tri thức mới, đồng thời
vừa củng cố những tri thức đã học, rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện và
giải quyết vấn đề [29]. Tác giả Vũ Văn Tảo cho rằng: “Năng lực giải quyết vấn
đề cần phải có khả năng làm rõ và khoanh vấn đề; xác định rõ nguồn gốc và
những nội dung làm nảy sinh vấn đề; xử lý những ý kiến; những tranh luận bằng
những cách thức gắn bó vấn đề; đề ra không chỉ những khả năng đáp ứng vấn đề
được trình bày; mà còn có khả năng thấy được những vấn đề và nghĩ ra những
chiến lược đáp ứng thích hợp ” [72]. Có thể nhận thấy cây cầu nối (bài tập) để
hình thành năng lực giải quyết vấn đề chắc hẳn đòi hỏi người học phải tự sải
bước và tự khắc phục những khó khăn. Giáo viên có thể là người bắc cầu (xây
dựng bài tập) và hướng dẫn cho người học cách băng qua cây cầu đó (sử dụng
bài tập) để chiếm lĩnh những giá trị mới hoặc củng cố lại giá trị của bản thân.
1.1.2. Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học các môn học
John Dewey (1859 -1952) [93] đã từng kêu gọi giáo viên “tâm lí hóa”
chương trình học bằng cách tạo ra một môi trường, trong đó những hoạt động
của trẻ có thể chứa đựng cả những tình huống khó giải quyết. Đây thực chất là
một lời cảnh tỉnh cho những giáo viên chưa để tâm tới cũng như chưa đầu tư cho