BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CHU THỊ KIM LIÊN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
CHƯƠNG NITƠ VÀ CACBON HÓA HỌC 11 NÂNG CAO THEO HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH
PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CHU THỊ KIM LIÊN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG NITƠ VÀ
CACBON HÓA 11
NÂNG CAO THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH
PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.LÊ VĂN NĂM
08
09
10
11
12
13
13
15
16
17
18
19
Chữ viết đầy đủ
Học sinh
Giáo viên
Phương trình hóa học
Tính chất vật lí
Tính chất hóa học
Công thức cấu tạo
Dung dịch
Gam
Điều kiện tiêu chuẩn
Hỗn hợp
Sách giáo khoa
Sách giáo viên
Sách bài tập
Đối chứng
Thực nghiệm
Nhà xuất bản
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ............................................3
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC …………………………………………………..3
6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA TÀI ..............................................................................3
7. CẤU TRÚC NỘI DUNG LUẬN VĂN ..............................................................3
PHẦN NỘI DUNG ………………………………………………………………...5
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ……………………………...5
1.1. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC ……………………...5
1.1.1. Vấn đề cơ bản nhận thức …………………………………………………......5
1.1.2. Năng lực nhận thức và những nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức của học
sinh qua bộ môn hóa học …………………………………………………………....6
1.2. BÀI TẬP HÓA HỌC VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN
THỨC ........................................................................................................................8
1.2.1. Khái nệm về bài tập hóa học ……………………………………………… 8
1.2.2. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học ở trường phổ thông …………………. 9
1.3. SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC NHƯ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỂ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP. ………………………………………… 11
1.3.1. Sử dụng bài tập hóa học để củng cố kiến thức ……………………………..15
1.3.2. Sử dụng bài tập hóa học để hình thành các khái niệm hóa học cơ bản (cung
cấp truyền thụ kiến thức) ………………………………………………………….16
1.3.3. Sử dụng bài tập hóa học để phát triển kiến thức khi nghiên cứu tài liệu mới 16
1.3.4. Sử dụng bài tập hóa học để hình thành và phát triển kĩ năng ………………17
1.4. ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG GIẢNG DẠY
HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY …………………………18
1.4.1. Mục đích điều tra ……………………………………………………………18
1.4.2. Nội dung- Phương pháp- Đối tượng- Địa bàn điều tra …………………....18
1.4.3.Kết
quả
điều
phát triển kiến thức mới, kỹ năng mới cho học sinh ...............................................39
2.4.2. Sử dụng bài tập nhằm phát triển năng lực vận dụng củng cố kiến thức và kỹ
năng cho học sinh ....................................................................................................42
2.4.3. Sử dụng câu hỏi bài tập giúp học sinh vận dụng kiến thức vào thực tế.........83
2.4.4. Xây dựng tiến trình luận giải bài tập vận dụng phương pháp đưa ra cách giải
hiệu quả nhất ...........................................................................................................85
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ………………………………….100
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm ……………………………………100
3.1.1. Mục đích của thực nghiệm………………………………………………..100
3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm………………………………………………..100
3.2. Nội dung thực nghiệm………………………………………………………101
3.2.1. Chọn địa bàn và đối tượng thực nghiệm………………………………….101
3.2.2. Chọn bài giảng và xây dựng giáo án……………………………………..102
3.2.3. Phân loại trình độ học sinh…………………………………………………102
3.2.4. Kiểm tra kết quả thực nghiệm……………………………………………...102
3.2.5. Kết quả thực nghiệm………………………………………………………103
3.2.6. Xử lý kết quả thực nghiệm………………………………………………...104
3.3. Phân tích kết quả thực nghiệm……………………………………………….110
3.3.1. Kết quả định tính………………………………………………………….111
3.3.2. Kết quả định lượng……………………………………………………….111
PHẦN 3 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ …………………………………….112
1. Những công việc đã làm …………………………………………………….112
2. Kết luận ………………………………………………………………………112
3. Một số đề xuất ………………………………………………………………..112
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………..……113
PHỤ LỤC
Qua nghiên cứu lí luận và thực tế dạy học hóa học ở trường phổ thông, chúng tôi thấy
rằng, để nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực nhận thức HS, GV có thể
sử dụng nhiều biện pháp, phương pháp khác nhau. Trong đó, bài tập hóa học được
xem là một phương pháp dạy học có tác dụng rất tích cực đến việc giáo dục, rèn luyện
và phát triển năng lực nhận thức HS, đó cũng chính là thước đo chiều sâu kiến thức.
Quá trình dạy - học hóa học ở trường phổ thông không thể thiếu bài tập. Bài tập hóa
1
học là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy-học, nó giữ một
vai trò lớn lao trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo : Bài tập vừa là mục đích, vừa là
nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Nó cung cấp cho HS kiến
thức, con đường giành lấy kiến thức và cả hứng thú say mê nhận thức.
Bài tập hóa học có những ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt.Vì vậy tác giả
nghiên cứu, lựa chọn và triển khai đề tài: “Xây dựng và sử dụng bài tập chương
nitơ và cacbon (hóa học 11 nâng cao) theo hướng phát triển năng lực nhận thức
cho học sinh trung học phổ thông”.
2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Sử dụng bài tập chương nitơ và cacbon hóa học 11 nâng cao theo hướng phát triển
năng lực nhận thức cho học sinh trung học phổ thông
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
* Nghiên cứu các vấn đề cơ sở lí luận liên quan đến đề tài :
- Lý luận về nhận thức và hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học.
- Lý luận về bài tập hóa học
* Sử dụng bài tập chương nitơ và cacbon hóa học 11 nâng cao theo hướng phát triển
năng lực nhận thức cho học sinh trung học phổ thông
* Nghiên cứu, đề xuất các phương pháp sử dụng hệ thống bài tập hóa học theo hướng
phát triển năng lực nhận thức cho HS.
* Thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng hệ thống bài tập đã xây dựng và khả
Bài tập trắc nghiệm khách quan và tự luận phần bài tập chương nitơ và cacbon
hóa học 11 nâng cao
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập hóa học theo hướng phát triển năng lực nhận
thức cho HS thì sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS, gây
hứng thú học tập cho HS, từ đó nâng cao hiệu quả của việc dạy học môn hóa học.
6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA TÀI
- Góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học trong quá trình
phát triển năng lực nhận thức cho HS.
- Sử dụng bài tập chương nitơ và cacbon hóa học 11 nâng cao theo hướng phát
triển năng lực nhận thức cho học sinh trung học phổ thông
- Đề tài đã đề cập đến nội dung và phương pháp phát triển năng lực nhận thức
cho HS trong dạy học hóa học thông qua hệ thống bài tập chương nitơ và cacbon hóa
học 11 nâng cao ở bậc THPT.
7. CẤU TRÚC NỘI DUNG LUẬN VĂN
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Mục lục
Phần 1 : Mở đầu
Phần 2 : Nội dung
Chương 1 : Cơ sở lí luận về phát triển năng lực nhận thức và bài tập hóa học.
Chương 2 : Sử dụng bài tập chương nitơ và cacbon hóa học 11 nâng cao theo hướng
phát triển năng lực nhận thức cho học sinh trung học phổ thông
3
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
Phần 3 : Phần kết luận và kiến nghị
Danh mục công trình đã được công bố của tác giả
Tài liệu tham khảo
của thực tiễn được lặp đi lặp lại nhiều lần, nhận thức chuyển lên một giai đoạn cao.
Khi đó trong đầu óc con người nảy sinh ra một loạt các hoạt động tư duy như : Phân
tích, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa, tạo ra khái niệm rồi vận dụng khái
niệm để phán đoán, suy lý thành hệ thống lý luận.
- Thực tiễn theo Lênin : “Thực tiễn là cơ sở nhận thức. Vì nó không có những
ưu điểm là phổ biến mà còn có ưu điểm thể hiện trực tiếp”. Mặt khác, thực tiễn còn là
tiêu chuẩn đề xác định chân lý. Tất cả những hiểu biết con người được khảo nghiệm
lại trong thực tiễn mới trở nên sâu sắc và vững chãi được. Thông qua hoạt động thực
tiễn thì trình độ nhận thức của con người ngày càng phong phú và trở thành hệ thống
lý luận.
1.1.2. Năng lực nhận thức và những nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức của
học sinh qua bộ môn hóa học[15],[19],[30].
1.1.2.1. Khái niệm về năng lực
Về bản chất, năng lực có nội hàm rộng và thực tiễn. Cụ thể hơn, năng lực
được xem như là sự tích hợp sâu sắc của kiến thức – kỹ năng – thái độ làm nên khả
năng thực hiện một công việc chuyên môn và được thể hiện trong thực tiễn hoạt động
5
Có thể thấy có nhiều cách phát biểu (câu chữ) có khác nhau, nhưng có khẳng
định: nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không
chỉ biết và hiểu. Tất nhiên hành động (làm) hay thực hiện ở đây phải gắn với ý thức
và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải làm một cách “máy
móc”,“mù quáng”; đúng như, chương trình của Indonesia đã xác định:“Năng lực là
những kiến thức, kĩ năng và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và
hành động của mỗi cá nhân. Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể
giúp một người trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến
thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản” .
1.1.2.2. Năng lực nhận thức
Năng lực nhận thức được đánh giá qua việc thực hiện các thao tác tư duy : Phân
nhau. Thực hiện mục tiêu phát triển đòi hỏi phải xác định được các nhiệm vụ tương
ứng của nó. Nhiệm vụ phát triển năng lực của HS được giải quyết cùng với nhiệm vụ
trí dục và đức dục. Trong dạy học hóa học nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức
cho HS được thực hiện thông qua các nhiệm vụ cụ thể sau :
a. Phát triển trí nhớ và tư duy : Như ta đã biết, dạy học tiến hành hiệu quả hơn
HS khi có sự định hướng trước của HS. Đặc biệt quan trọng là sự phát triển trí nhớ và
tư duy của HS vì thiếu nó thì không nắm được các cơ sở lý thuyết hiện đại của hóa
học. Sự tích lũy vốn kiến thức và lựa chọn thao tác trí tuệ là quá trình tâm lý tích cực,
trong đó có sự tham gia của trí nhớ và tư duy. Sự phát triển tri nhớ và tư duy được
thực hiện một cách có hiệu quả nhất thông qua quá trình HS hoạt động nhận thức tích
cực của ở từng khâu, từng hoạt động của quá trình dạy học hóa học.
b. Rèn luyện toàn diện trong từng giai đoạn phát triển các kĩ năng khái quát
trí tuệ và thực nghiệm hóa học : Hoạt động nhận thức hóa học bao gồm nhiều hoạt
động học tập để nắm vững kiến thức hóa học. Ví dụ như tiến hành thí nghiệm hóa
học, phân tích, tống hợp các chất, mô tả bằng kí hiệu và biểu đồ, sử dụng khả năng dự
đoán của HTTH, giải bài tập hóa học……
Kĩ năng là kết quả của sự nắm vững kiến thức. Thực nghiệm hóa học là biện pháp
quan trọng để tiếp thu hóa học một cách hiệu quả cùng với các kĩ năng trí tuệ như :
Các thao tác so sánh, phân tích tổng hợp, suy diễn, qui nạp loại suy……các kĩ năng
này được hình thành trong quá trình dạy học hóa học, được phát triển và khái quát ở
dạng chung nhất và dễ dàng được chuyển thành năng lực học tập. Sự rèn luyện toàn
diện, từng giai đọan các kĩ năng khái quát trí tuệ và thực nghiệm hóa học là nhiệm vụ
quan trọng của việc phát triển HS.
Tích cực hóa tất cả các dạng hoạt động nhận thức của HS : Trong quá trình dạy
học hóa học HS cần phát triển cả hoạt động nhận thức tái hiện, sao chép và hoạt động
tích cực, chủ động bằng sự kết hợp hợp lý phương tiện và phương pháp dạy học. Sự
kết hợp hai yếu tố này giúp người GV tích cực hóa được các dạng nhận thức hóa học
cho HS từ đơn giản đến phức tạp. Thực tế đã xác định rằng sự dạy học hóa học tiến
hành theo phương pháp dạy học nêu vấn đề sẽ làm tăng tích cực nhận thức của HS vì
trong các bước đi của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic, HS tích cực bắt tay vào hoạt động
thuật ngữ “bài toán hóa học” để chỉ những bài tập định lượng (có tính toán) trong đó
HS phải thực hiện những phép toán nhất định.
Trong tài liệu lý luận dạy học của tác giả Dương Xuân Trinh phân loại bài tập
học thành : Bài tập định lượng (bài toán hóa học), bài tập lý thuyết, bài thập thực
nghiệm, bài tập tổng hợp. Còn theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã dùng bài toán
hóa học để chỉ bài toán định lượng và cả những bài toán nhận thức (chứa cả yếu tố lý
thuyết và thực nghiệm). Các nhà lí luận dạy học của Liên Xô cũ cho rằng : Bài tập đó
là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và
câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng, HS nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất
định hoặc hoàn thiện chúng. Câu hỏi đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng,
HS phải tiến hành một hoạt động tái hiện bất luận trả lời miệng, trả lời viết hay kèm
theo thực hành hay xác minh bằng thực nghiệm. Bài toán đó là bài làm mà khi hoàn
8
thành chúng HS phải tiến hành một hoạt động sáng tạo, bất luận hình thức hoàn thành
trả lời miệng hay viết, thực hành, thí nghiệm, bất cứ bài toán nào cũng xếp vào hai
nhóm bài toán định lượng (có tính toán) và bài toán định tính.
Ở nước ta theo cách dùng tên sách hiện nay : “bài tập hóa học10”, “bài tập hóa
học 11”, v.v…. thì thuật ngữ bài tập có sự tương đồng với quan niệm trên.
Tóm lại : Bài tập hóa học là khái niệm bao hàm tất cả, giải bài tập hóa học HS không
chỉ đơn thuần vận dụng kiến thức cũ mà cả tìm kiếm kiến thức mới và vận dụng kiến
thức cũ trong những tình huống mới.
1.2.2. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học ở trường phổ thông
Trong quá trình dạy - học hóa học ở trường phổ thông, không thể thiếu bài tập.
Bài tập hóa học là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy-học,
nó giữ một vai trò lớn lao trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo : Bài tập vừa là mục
đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Nó cung cấp cho
HS kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả hứng thú say mê nhận thức.
Bài tập hóa học có những ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt.
cảnh mới, biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình
huống……..thông qua đó, bài tập hóa học giúp phát hiện năng lực sáng tạo của HS để
đánh giá, đồng thời phát huy được năng lực sáng tạo cho bản thân.
1.2.23.Ý nghĩa giáo dục
Bài tập hóa học còn có tác dụng giáo dục cho HS phẩm chất tư tưởng đạo đức.
Qua các bài tập về lịch sử, có thể cho HS thấy quá trình phát sinh những tư tưởng về
quan điểm khoa học tiến bộ, những phát minh to lớn, có giá trị của các nhà khoa học
tiến bộ trên thế giới.Thông qua việc giải bài tập, còn rèn luyện cho HS phẩm chất độc
lập suy nghĩ, tính kiên trì dũng cảm khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học,
kích thích hứng thú bộ môn hóa học nói riêng và học tập nói chung.
1.2.2.4. Ý nghĩa đánh giá phân loại học sinh
Bài tập hóa học còn là phương tiện rất hiệu quả để kiểm tra kiến thức, kĩ năng
của HS một cách chính xác. Trong quá trình dạy học, khâu kiểm tra đánh giá và tự
kiểm tra đánh giá việc nắm vững tri thức, kĩ năng kĩ xảo của HS có một ý nghĩa quan
trọng. Một trong những biện pháp để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình đó là
làm bài tập. Thông qua việc giải bài tập của HS, GV còn biết được kết quả giảng dạy
của mình, từ đó có phương pháp điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy của mình cũng
như việc học của HS.
1.3. SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC NHƯ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỂ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP[15],[19],[34],[42],[43].
Ở bất cứ công đoạn nào của quá trình dạy học đều có thể sử dụng bài tập. Khi
dạy bài mới có thể dùng bài tập để vào bài, để tạo tình huống có vấn đề, để chuyển
tiếp từ phần này sang phần kia, để củng cố, để phát triển năng lực nhận thức và phát
triển tư duy cho HS.
Để phát triển kĩ năng và tính sáng tạo của HS, nâng cao tính tích cực độc lập
trong việc nắm vững kiến thức hóa học thực hiện qua các dạng bài tập nhận thức
sau :
Bài tập mô tả : Bản chất là sự mô tả các đối tượng và hiện tượng nghiên cứu. Để giải
dạng bài tập này trong giảng dạy cần rèn luyện các kĩ năng và phương pháp quan sát,
đo đạt thực nghiệm hóa học. Dạng bài tập này có đặc điểm HS phải thao tác thực với
Kiến thức mới cần lĩnh hội : Không dùng H2SO4 (đậm đặc) hay HNO3 để điều chế khí
H2S.
Ví dụ 2: Vì sao khi để dung dịch HNO3 đặc trong lọ lâu ngày thấy dung dịch có màu
vàng ?
Học sinh cần biết tính chất hóa học của dung dịch HNO3 khi giải thích học sinh cần xây
dựng, chứng minh những sự kiện, nhận xét các nguyên nhân cụ thể hay cơ chế gây ra
hiện tượng đã được quan sát. Điều đó tạo khả năng giải thích được hiện tượng nêu ra.
11
Những bài tập phương pháp luận : Là dạng bài tập dạy cách thức tổ chức hoạt động
nhận thức, có hai dạng :
- Bài tập liên quan đến sự phân tích các kiến thức khoa học :
Ví dụ 1 : Bộ dụng cụ để mô tả TCHH của H2O2
H2O2
KMnO4
1. Nếu dd A chứa KMnO4 và H2SO4 loãng. Khi nhỏ H2O2 vào dd A thì sẽ có hiện
tượng gì xảy ra ? Giải thích. Viết PTHH của các phản ứng.
2. Nếu dd A là KI thì sau khi nhỏ vài giọt H 2O2, cần thêm hóa chất nào vào dd A để
nhận biết sản phẩm sinh ra của phản ứng (thêm hồ tinh bột, quỳ tím, hoặc dd
phenolphtalein). Giải thích. Viết PTHH của phản ứng và cho biết vai trò của H 2O2
trong phản ứng.
Phân tích
Sử dụng bài tập này để tiến hành nghiên cứu TCHH của H2O2
1. Hiện tượng của phản ứng
Khi nhỏ từ từ H2O2 vào hh chứa KMnO4 và H2SO4 loãng thì dd này mất màu và có khí
thoát ra. Khí thoát ra là khí O2.
−1
O+ 1e → O . H2O2 đóng vai trò là chất oxi hóa.
PTHH của phản ứng :
2KI + O3 + H2O → I2 + 2 KOH + O2 ↑
Kiến thức cũ : Xác định số oxi hóa, chất khử, cân bằng phản ứng oxi hóa - khử, nhận
biết axit - bazơ, Iốt.
Kiến thức mới lĩnh hội được : H2O2 vừa có tính khử, vừa có tính oxi hóa, rèn luyện kĩ
năng viết phương trình phản ứng oxi hóa - khử.
Ví dụ 2 : Nêu các TCHH cơ bản của NH3 và giải thích vì sao NH3 lại có TCHH đó ?
Phân tích
Công thức electron :
H N H
H
CTCT
H N H
H
GV tổ chức cho HS nghiên cứu TCHH của NH 3 dựa trên đặc điểm cấu tạo phân tử
của nó cụ thể là :
+ Nguyên tử N trong phân tử NH3 mang điện tích âm và còn cặp điện tử tự do, nên
NH3 kết hợp với một số cation (kết hợp với H + thể hiện tính bazơ yếu, kết hợp với các
ion Cu2+, Zn2+, Ag+, tạo phức).
+ Do nguyên tử N trong phân tử NH 3 có mức oxi hóa thấp -3, nên NH 3 thể hiện tính
khử trong các phản ứng oxi hóa - khử. Ở nhiệt độ cao, NH 3 bị phân hủy tạo thành chất
bền hơn N2.
Kiến thức cũ : HS ôn lại cách viết công thức electron, CTCT, khái niệm axit - bazơ
theo thuyết Bron-Stêt, củng cố khái niệm chất khử, chất oxi hóa, phản ứng oxi hóa khử.
Kiến thức mới lĩnh hội : Từ những kiến thức cũ đó HS hình thành và hiểu rõ về
TCHH của NH3 là :
lại hai phân tử HCl đóng vai trò là môi trường để tạo muối. MnO 2 đóng vai trò là chất
oxi hóa.Vậy nguyên tắc để điều chế khí Cl 2 là oxi hóa ion clo thành phân tử clo.
−1
0
2 Cl → Cl 2 + 2e
Sau khi phân tích phương trình phản ứng trên HS viết được PTHH giữa MnO 2,
NaCl, H2SO4 dễ dàng.
−1
+4
+2
0
2Na Cl + Mn O 2 + H 2SO 4 →NaHSO 4 +Mn SO 4 + Cl 2 + 2H 2O
Đến đây HS đã thấy được tình huống quen thuộc.
1.3.1. Sử dụng bài tập hóa học để củng cố kiến thức
Bài tập hóa học là một hình thức củng cố, ôn tập hệ thống hóa kiến thức một
cách sinh động và hiệu quả. Khi giải bài tập hóa học, HS phải nhớ lại kiến thức đã
học, phải đào sâu một khía cạnh nào đó của kiến thức hoặc phải tổ hợp, huy động kiến
thức để có thể giải quyết được bài tập. Tất cả các thao tác tư duy đó đã góp phần
củng cố, khắc sâu kiến thức cho HS.
Ví dụ 1 : Trong PTHH của phản ứng :
5KMnO4 + 5H2O2 + 3H2SO4 → 2MnSO4 + 5O2+ K2SO4 + 8H2O . Đã xảy ra
A. sự khử KMnO4.
B. sự khử H2O2.
S
H2S
SO2
H2SO4
1.3.2. Sử dụng bài tập hóa học để hình thành các khái niệm hóa học cơ bản
(cung cấp truyền thụ kiến thức)
Ngoài việc dùng bài tập hóa học để củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng hóa
học cho HS người GV có thể dùng bài tập để tổ chức điều khiển quá trình nhận thức
của HS hình thành khái niệm mới. Trong bài dạy hình thành khái niệm HS phải tiếp
thu, lĩnh hội kiến thức mới mà HS chưa biết hoặc chưa biết một cách chính xác rõ
ràng. GV có thể xây dựng, lựa chọn hệ thống bài tập phù hợp giúp HS hình thành khái
niệm mới một cách vững chắc. Chẳng hạn khi hình thành khái đồng vị thường thì GV
nêu định nghĩa, cho HS vận dụng vào giải một số bài tập để hiểu đầy đủ khái niệm
này, với hình thức hoạt động này quá trình tiếp thu của HS vẫn mang tính thụ động.
Để hình thành khái niệm thù hình khi nghiên cứu bài ozon GV có thể sử dụng
câu hỏi sau để hình thành khái niệm.
Oxi tự do tồn tại ở hai dạng đơn chất đó là O2 và O3. Hai chất này được cấu tạo
từ một nguyên tố oxi. Hiện tượng hai chất khác nhau mà được tạo từ một nguyên tố
thì người ta gọi chúng là gì với nhau ?
HS nghiên cứu và trả lời là O2 và O3 là hai dạng thù hình của nhau.
15
Từ đó HS hình thành khái niệm thù hình.
1.3.3. Sử dụng bài tập hóa học để phát triển kiến thức khi nghiên cứu tài liệu mới
Bài tập hóa học được sử dụng như là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới, khi
Những bức tranh cổ lâu ngày bị hóa đen là do muối chì tác dụng với các vết khí H 2S
trong khí quyển tạo thành PbS màu đen (H 2S được tạo ra khi đốt cháy nhiên liệu lưu
16
huỳnh tác dụng với oxi tạo thành hợp chất của lưu huỳnh hoặc xác động vật bị thối
rửa).
PbCO3 + H2S → PbS ↓ + CO2 + H2O
Pb(OH)2 + H2S → PbS ↓ + 2H2O
Để phục hồi các bức tranh cổ này, người ta dùng H 2O2 (nước oxi già) để chuyển hóa
màu đen của chì sunfua thành màu trắng chì sunfat.
PbS+ 4H2O2 → PbSO4+4H2O
Khi nghiên cứu bài phân bón hóa học GV có thể sử dụng bài tập sau đây để HS vận
dụng kiến thức vào thực tế :
Cây trồng hấp thụ hiệu quả lượng chất dinh dưỡng từ phân bón thì tránh sự dư thừa
trong đất gây ô nhiễm và ngộ độc rau quả. Bón phân đúng thời điểm làm tăng hiệu
quả hấp thụ của cây trồng. Thời điểm nào sau đây là thích hợp để bón phân ure cho
lúa ?
A. buổi sáng sớm.
B. buổi trưa nắng.
C. buổi chiều vẫn còn ánh nắng. D. buổi chiều tối, mặt trời vừa lặn.
Cây hấp thụ ure dưới dạng ion amoni, đạm dễ phân hủy dưới ánh sáng mặt trời. Vì
thế, bón phân đạm cho lúa thì cần có H 2O và nhiệt độ thích hợp nên bón phân đạm lúc
chiều tối khi tắt ánh sáng mặt trời, đêm sương xuống cây sẽ hấp thụ đạm tốt.
(NH2)2CO + H2O → (NH4)2CO3
(NH4)2CO3 → 2NH4+ + CO321.4. THỰC TRẠNG DẠY HỌC HÓA HỌC VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG
DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY
1.4.1.Mục đích điều tra
Tìm hiểu, đánh giá thực trạng việc học tập môn hóa học hiện nay ở các trường
trung học phổ thông thuộc địa bàn trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Nghệ An, coi đó
tỉnh Nghệ An.
- Đặc điểm về chương trình đào tạo : Chương trình nâng cao 4 trường, còn lại
chương trình cơ bản.
- Đặc điểm về chất lượng : Trường ở địa bàn nông thôn, miền núi, trường ở thị xã,
trường ở thành phố (trường chuyên).
1.4.3.Kết quả điều tra
Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 8 cho đến thaùng 12 năm học 2014 2015 chúng tôi đã trực tiếp thăm lớp dự giờ được 10 tiết môn hoá học lớp 11 THPT
của các giáo viên trên địa bàn tỉnh Nghệ An và gửi phiếu điều tra tới 20 giáo viên
(có mẫu ở phụ lục).
Sau quá trình điều tra chúng tôi đã tổng hợp kết quả lại như sau:
Đa số giáo viên khi ra bài tập cho học sinh thường lấy những bài tập đã có sẵn
trong sách giáo khoa, sách bài tập mà rất ít khi sử dụng bài tập tự mình ra.
Một số lớn giáo viên trong tiết học chỉ chú trọng vào truyền thụ kiến thức mà
xem nhẹ vai trò của bài tập.
Một số giáo viên còn lại có sử dụng bài tập trong tiết học nhưng chỉ sử dụng
để kiểm tra miệng (kiểm tra bài cũ), và cuối tiết học để hệ thống lại bài học.
Một số ít giáo viên sử dụng bài tập như là nguồn kiến thức để học sinh củng
cố, tìm tòi, phát triển kiến thức cho riêng mình.
18