1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC HÀ VĂN LUYỆN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƢƠNG “CHẤT KHÍ” VẬT
LÝ LỚP 10 CƠ BẢN THEO HƢỚNG TIẾP CẬN HOẠT ĐỘNG
CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN VẬT LÝ)
Mã số : 60 14 10 HÀ NỘI - 2013
2
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
ĐC
Đối chứng
GDTX
Giáo dục thƣờng xuyên
GV
Giáo viên
HV
Học viên
P
Áp suất
82
Bảng 3.3. Tổng hợp phân loại học viên theo kết quả điểm kiểm tra
84
Bảng 3.4. Tổng hợp các tham số đặc trƣng
85 4
DANH MỤC CÁC HÌNH Trang
Hình 2.1. Chuyển động của các phân tử trong cấu tạo chất
37
Hình 2.2. Chuyển động nhiệt của các phân tử ở những nhiệt độ khác nhau
39
Hình 2.3: Quá trình đẳng nhiệt biểu diễn trên giản đồ P - V
41
Hình 2.4. Đƣờng đẳng tích trên giản đồ P – V
42
Hình 2.5. Đƣờng này đƣợc biểu diễn trên giản đồ (T-V) và giản đồ (P-V)
44
Hình 2.6. Các quá trình đẳng nhiệt, đẳng tích và đẳng áp trên các
giản đồ P – T, P – V và V – T
45
Hình 3.1. Đồ thị đƣờng lũy tích - phiếu số 1
81
Hình 3.2. Đồ thị đƣờng lũy tích - phiếu số 2
Danh mục viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
Danh mục các hình, sơ đồ
iv
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
4
1.1. Cơ sở lý luận
4
1.1.1. Khái niệm về bài tập vật lí
4
1.1.2. Một số vấn đề lí luận về bài tập trong dạy học vật lí
4
1.1.3. Phân loại bài tập vật lí
8
1.1.4. Các phƣơng pháp giải bài tập vật lí
10
1.1.5. Một số phƣơng phƣơng pháp thông dụng để giải bài tập vật lí
12
1.1.6. Hƣớng dẫn hoạt động giải bài tập vật lí
14
1.2. Giới thiệu vấn đề tiếp cận hoạt động cơ bản trong lý luận dạy học
17
1.2.1. Tiếp cận hoạt động trong dạy học
17
1.3. Cơ sở thực tiễn
19
1.3.1. Tìm hiểu thực trạng hệ thống học viên học tại Trung TGDTX
Ứng Hòa – Hà Nội
2.3. Phân tích nội dung chi tiết kiến thức chƣơng “Chất khí ” vật lý 10
ban cơ bản
37
2.3.1. Nội dung chi tiết
37
2.4. Mục tiêu dạy học chƣơng “Chất khí” vật lí 10 ban cơ bản
45
2.5. Mục tiêu dạy bài tập chƣơng “Chất khí” vật lí 10 ban cơ bản
46
2.6. Phân loại bài tập chƣơng “Chất khí” vật lí 10 ban cơ bản
46
2.6.1. Các cơ sở phân loại bài tập vật lí
46
2.6.2. Phân loại bài tập chƣơng “Chất khí”- Vật lí 10 ban cơ bản cho TTGDTX
46
2.7. Xây dựng hệ thống bài tập chƣơng “chất khí” vật lí 10 ban cơ ban
theo hƣớng tiếp cập hoạt động
48
2.7.1. Bài tập định tính
48
2.7.2. Bài tập định lƣợng
52
2.7.3. Bài tập đồ thị
56
2.7.4. Bài tập thí nghiệm
66
2.7.5. Bài tập trắc nghiệm khách quan
69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
90
PHỤ LỤC
91
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong chƣơng trình Vật lí 10 ban cơ bản, chƣơng “Chất khí” là một nội
dung quan trọng. Bởi vì đây là những kiến thức mở đầu cho một môn học trìu
tƣợng, khó, đầy hấp dẫn nhƣng lại ứng dụng vô cùng lớn trong khoa học kỹ
thuật và đời sống, đó là môn “Nhiệt động lực học”.
Chƣơng “Chất khí” cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về
“Chuyển động nhiệt” của các phân tử, những khái niệm vô cùng quan trọng
nhƣ áp suất, thể tích, nhiệt độ … Cũng trong chƣơng này học viên đƣợc tìm
hiểu và áp dụng các định luật Bôi lơ – Ma ri ốt, Gay luy xác, Sác lơ và
phƣơng trình Cla-pê-rôn trong chất khí lý tƣởng. Những kiến thức này đã mở
ra cho học viên một không gian hoàn toàn khác so với cơ học cổ điển
Newton. Bởi vì chúng ta không thể sử dụng đƣợc các định luật Newton để
khảo sát chất khí lý tƣởng mà phải sử dụng các thông số trạng thái nhƣ áp
suất ( P), thể tích ( V ), nhiệt độ ( T ). Học viên khi học nội dung này gặp rất
nhiều khó khăn, hầu hết các hiện tƣợng vật lí và bản chất của nó đều phải
tƣởng tƣợng, nhƣng khi giải thích các hiện tƣợng đó phải biết vận dụng
các định luật về NĐLH. Đối với học viên Trung tâm giáo dục thƣờng
xuyên (TTGDTX) là đối tƣợng có học lực trung bình và yếu ở các trƣờng
trung học phổ thông (THPT) và các cán bộ xã chƣa có bằng cấp III tập hợp
lại. Để học viên có thể nắm đƣợc nội dung của chƣơng “Chất khí”, ngoài
việc hƣớng dẫn học viên học lí thuyết, giáo viên còn cần phải giao cho học
viên tìm hiểu và giải những bài tập, những tình huống thực tế. Trên cơ sở đó
học viên có thể vận dụng lí thuyết vào giải các bài toán thực tế khi gặp phải.
4. Mẫu khảo sát
Chƣơng “Chất khí”-Vật lí 10 cơ bản áp dụng cho các học viên Trung tâm
GDTX. 9
5. Vấn đề nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
- Xây dựng hệ thống tập vật lí chƣơng “Chất khí” lớp 10 cơ bản.
- Thực nghiệm sƣ phạm để khảo sát, đánh giá hệ thống bài tập đã xây
dựng.
7. Giả thuyết khoa học
Dựa trên cơ sở lý luận của đề tài:
Giải bài tập vật lí là một vấn đề cần vận dụng những suy luận logic, công
cụ toán học dựa trên cơ sở các định luật, các học thuyết để đƣa ra phƣơng
thức giải. Trên cơ sở đó tác giả xây dựng hệ thống bài tập vật lí chƣơng “Chất
khí” vật lí lớp 10 ban cơ bản theo hƣớng tiếp cận hoạt động cho học viên
Trung tâm GDTX.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Tìm hiểu các cơ sở của lý luận dạy học kết hợp phân tích các nguồn tƣ
liệu sẵn có nội dung chƣơng “Chất khí” vật lý lớp 10 THPT
- Điều tra khảo sát các điều kiện thực tiễn nhƣ trình độ học sinh, giáo
viên, cơ sở vật chất, thói quen dạy và học theo truyền thống. Trên cơ sở đó
xây dựng hệ thống bài tập chƣơng “Chất khí” phù hợp với giáo viên và học
viên của Trung tâm GDTX nhằm áp dụng cho thực nghiệm sƣ phạm để đánh
giá hiệu quả của đề tài.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
sống. Kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn là thƣớc đo mức độ sâu sắc
và vững vàng của kiến thức mà học viên thu nhận đƣợc.
11
Khi dạy vật lí giáo viên cố gắng trình bày tài liệu một cách mạch lạc, logic,
phát biểu định luật một cách chính xác, làm thí nghiệm theo đúng yêu cầu và
cho kết quả chính xác thì đó mới chỉ là điều kiện cần chứ chƣa phải là điều
kiện đủ để học viên hiểu sâu và nắm vững kiến thức. Chỉ có thông qua bài tập
vật lí mà học viên vận dụng linh hoạt thì kiến thức đó mối trở nên sâu sắc,
hoàn thiện và trở thành vốn riêng của ngƣời học.
Bài tập vật lí có thể sử dụng nhƣ một phƣơng tiện độc đáo để nghiên cứu
tài liệu mới khi trang bị cho học viên. Trong quá trỉnh giải quyết các tình
huống cụ thể do bài toán đề ra, học viên có nhu cầu tìm kiếm kiến thức mới,
đảm cho học sinh có thể lĩnh hội kiến thức sâu sắc.
Trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể do bài tập đề ra, học viên
phải phân tích đề bài, xem bài đã cho gì, cần gì, học viên phải tái hiện kiến
thức, vận dụng các thao tác tƣ duy nhƣ so sánh, phân tích, tổng hợp, trìu
tƣợng hóa, khái quát hóa… để xác lập mối quan hệ giữa các đại lƣợng, lập
luận, tính toán có khi phải tiến hành thí nghiệm, đo đạc, kiếm tra kết luận. Vì
thế bài tập vật lí sẽ là phƣơng tiện rất tốt để phát triển tƣ duy, óc tƣởng tƣợng,
bồi dƣỡng hứng thú và phƣơng pháp nghiên cứu cho học viên, đặc biệt là khi
cần phải khám phá bản chất các hiện tƣợng vật lí đƣợc trình bày dƣới dạng
các tình huống có vấn đề.
Nếu ý thức đƣợc điều này, khi dạy học vật lí các bài tập vật lí do giáo viên
lựa chọn tốt có thể tối đa hóa khả năng sáng tạo và tính tò mò của học viên
thay vì những bài tập chỉ đòi hỏi áp dụng một cách đơn giản các công thức,
định luật. Các bài tập sẽ giúp cho học viên tính sáng tạo, độc lập suy nghĩ,
đức tính kiên trì khắc phục khó khăn và sự yêu thích môn học. Ở đây học viên
đƣợc khuyến khích chủ động chứ không thụ động.
Bài tập vật lí còn là hình thức củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức và là
đã đƣợc xác định của đề tài phải đƣợc củng cố, ôn tập, hệ thống hóa và khắc
sâu thêm.
13
Các bài tập giúp nhận thức đƣợc mối quan hệ logic giữa các đại lƣợng vật lí
để hệ thống hóa kiến thức cho học viên là rất có lợi. Những mối quan hệ này
phản ánh những mối quan hệ có thực giữa các đối tƣợng vật lí và các quá
trình vật lí hoặc những tính chất của chúng.
- Thứ hai là tính tuần tự tiến lên từ đơn giản đến phức tạp của các mối
quan hệ giữa các đại lƣợng và các khái niệm đặc trƣng cho các quá trình hoặc
hiện tƣợng phải đƣợc mô tả trong hệ thống bài tập.
- Thứ ba là hệ thống bài tập phải đa dạng về thể loại và trong mỗi dạng bài
tập phải đóng góp phần nào vào việc hoàn thiện kiến thức cho học viên. Mỗi
bài tập phải đem lại cho học sinh một điều mới mẻ nhất định, một khó khăn
vừa sức.
- Cuối cùng số lƣợng bài tập đƣợc lựa chọn phải phù hợp với thời gian.
b. Các yêu cầu khi dạy bài tập vật lí.
Trong mỗi tiết học giáo viên phải dự tính đƣợc kế hoạch cho toàn bộ công
việc về bài tập khi lên lớp. Muốn vậy:
- Phải lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nêu vấn đề để sử dụng trong tiết học,
nhằm kích thích hứng thú học tập và phát triển tƣ duy cho học viên.
- Phải chuẩn bị các bài tập nhằm củng cố, bổ sung, hoàn thiện những kiến
thức, cung cấp cho ngƣời học những hiểu biết về thực tế có liên quan đến kiến
thức lí thuyết đã học.
- Phải chuẩn bị các bài tập nhằm kiểm tra, đánh giá chất lƣợng kiến thức
từng phần của chƣơng trình.
- Sắp xếp các bài tập thành hệ thống, định kế hoạch và phƣơng pháp giải.
Khi dạy bài tập vật lí giáo viên cần xác định rõ mục tiêu dạy học và đặc
biệt coi trọng việc rèn luyện kỹ năng, tƣ duy và tính tự lập của học viên.
Thông qua việc giải bài tập vật lí mà có thể trang bị cho ngƣời học phƣơng
điều kiện và phƣơng thức giải
Loại bài tập này bao gồm các dạng:
bài tập định tính, bài tập định lƣợng,
bài tập đồ thị, bài tập thí nghiệm, bài
tập trắc nghiệm khách quan. 15
Có thể thiết lập sơ đồ phân loại các bài tập vật lí với các dạng đặc trƣng
nhƣ sau:
Sơ đồ 1.1. Phân loại các bài tập vật lí
điều
kiện và
phƣơng
thức
giải
Bài tập có nội dung lịch sử
bài tập có nội dung cụ thể
Bài tập có nội dung trừu tƣợng
Bài tập dƣới dạng đề tài vật lí
Bài tập kỹ thuật tổng hợp
Bài tập luyện tập
Bài tập sáng tạo
Bài tập định tính
Bài tập định lƣợng
Bài tập đồ thị
Bài tập trắc nghiệm
Bài tập luyện tập
16
Tuy nhiên khi tiến hành phân loại bài tập cho một nội dung, một đề tài,
một phần cụ thể chúng ta có thể kết hợp việc phân loại bài tập dựa trên cơ sở
trên, mục đích sử dụng bài tập, trình độ xuất phát của học sinh và thời gian sử
dụng các bài tập.
1.1.4. Các phương pháp giải bài tập vật lí
Khi phân loại bài tập vật lí, giáo viên cần phản lựa chọn với nhiều tiêu chí
về kiến thức để áp dụng phù hợp với từng đối tƣợng học viên. Do vậy bài tập
vật lí rất đa dạng và phong phú với nhiều loại bài và phƣơng pháp giải khác
nhau. Nhƣng trong dạy học về bài tập vật lí thƣờng tiến hành, hƣớng dẫn giải
một bài tập theo các bƣớc sau:
vận dụng các định nghĩa, định luật, công thức để thiết lập các phƣơng trình
cho phép tìm những đại lƣợng chƣa biết trong đầu bài. Trong nhiều trƣờng
hợp, cùng một hiện tƣợng, nhƣng có thể vận dụng đƣợc nhiều định luật khác
nhau để giải. Khi đó nên chọn xem cách giải nào tối ƣu hơn.
Tóm lại hoạt động của học viên ở giai đoạn này bao gồm:
- Đối chiếu các dữ kiện đã cho và các đại lƣợng phải tìm, xét bản chất vật
lí của hiện tƣợng để đƣa ra các định luật, công thức lí thuyết có liên quan.
- Xác lập các mối liên hệ cụ thể của các đại lƣợng đã biết và của các đại
lƣợng phải tìm.
Bước 3: Luận giải, tính toán các kết quả bằng số
Trừ các trƣờng hợp đặc biệt, mỗi bài tập phải bắt đầu ở dạng tổng quát, đại
lƣợng cần tìm phải đƣợc biểu thị qua các đại lƣợng đã cho. Sau khi đã tìm
đƣợc kết quả cuối cùng bằng chữ, học viên tiếp tục luận giải để rút ra mối liên
hệ tƣờng minh, trực tiếp giữa cái đã cho và cái phải tìm bằng cách thay các
đại lƣợng bằng trị số của chúng để tính ra kết quả bằng số. Trƣớc khi thay số
học viên cần nhớ đổi trị số các đại lƣợng tính trong cùng một hệ đơn vị. Khi
18
tính kết quả cuối cùng có số lẻ thập phân, cần hƣớng dẫn học viên chú ý đến
sự cân đối về sai số tƣơng đối của các trị số đã cho trong bài.
Bước 4: Nhận xét kết quả
Đây là khâu cuối cùng để hoàn thiện việc giải một bài tập, nó giúp ngƣời
học có thể phát hiện những sai sót mắc phải khi giải. Sau khi đã tìm đƣợc kết
quả, giáo viên cần rèn luyện cho học viên rút ra một số nhận xét về:
- Giá trị thực tế của kết quả: Nhận xét này luyện cho học viên cách quan sát
và biết liên hệ bài tập với thực tiễn. Từ đó học viên có sự hiểu biết sâu sắc
hơn và đặc biệt là học viên có thể vận dụng bài tập vào những vấn đề cụ thể
trong cuộc sống.
- Phƣơng pháp giải: Nhận xét về phƣơng pháp giải tạo cho học viên cách tƣ
duy để tìm xem cách giải đã tối ƣu chƣa; còn có phƣơng pháp nào có thể giải
Bƣớc 4: Nhận xét kết quả
Phân tích kết quả thu đƣợc theo quan điểm vật lí, đánh giá sự phù hợp với
giả thiết và thực tiễn.
1.1.5.2. Phương pháp giải bài tập định lượng
Nói chung khi giải bài tập định lƣợng về vật lí cần tuân thủ theo bốn bƣớc
của giải bài tập vật lí nhƣ đã trình bày trong mục 1.1.4.
1.1.5.3. Phương pháp giải bài tập đồ thị
Bài tập vật lí về đồ thị đƣợc thể hiện dƣới hai hình thức:
Thứ nhất là loại bài tập đã cho sẵn đồ thị, trên đồ thị đã biểu diễn sự phụ
thuộc giữa những đại lƣợng vật lí. Từ đồ thị ta có thể khai thác đƣợc những
dữ kiện của các đại lƣợng vật lí, từ đó tìm đƣợc đại lƣợng vật lí mà đề bài yêu
cầu dựa trên các đại lƣợng vật lí đã khai thác đƣợc trên đồ thị.
Thứ hai là loại bài tập đòi hỏi học viên cần phải vẽ đồ thị thì trên cơ sở tìm
đƣợc các dữ liệu và mối liên hệ giữa các dữ liệu ở đề bài hoặc khai thác dữ liệu
từ bảng số liệu đã cho, học viên cần chọn hệ trục tọa độ, chọn tỉ xích thích hợp
và biểu diễn sự phụ thuộc giữa các đại lƣợng trên đồ thị. Cũng có khi giải bài tập
20
vật lí với các bƣớc nhƣ khi giải một bài tập định lƣợng để tìm ra câu trả lời, sau
đó vẽ đồ thị để kiểm tra lại sự đúng đắn của kết quả vừa tìm đƣợc.
1.1.5.4. Phương pháp giải bài tập thực nghiệm
Đặc trƣng của loại bài tập vật lí thực nghiệm là khi giải phải làm thí
nghiệm để tìm kết quả hoặc làm thí nghiệm chứng minh. Học viên tự lực tiến
hành các thí nghiệm, thực hiện những quan sát để kiểm tra lời giải lí thuyết
hoặc để thu đƣợc những số liệu cần thiết cho việc giải thích hoặc tiên đoán mà
bài tập yêu cầu.
Khi giải bài tập thực nghiệm cần xác định phƣơng án thí nghiệm, xác định
những dụng cụ cần sử dụng và cách thức bố trí thí nghiệm, biết cách từng
bƣớc tiến hành thí nghiệm, sử lí kết quả thí nghiệm và rút ra kết luận.
Bài tập thực nghiệm vật lí thƣờng chia làm hai loại:
Có ba kiểu định hƣớng vào việc giải quyết nhiệm vụ trong bài tập vật lí.
Mỗi kiểu định hƣớng có kết quả và quá trình hành động riêng.
- Kiểu định hướng thứ nhất.
Giáo viên giới thiệu cho học sinh mẫu hành động và kết quả hành động,
còn những chỉ dẫn cần phải thực hiện nhƣ thế nào không đƣợc nêu ra. Học
sinh thực hiện nhiệm vụ một cách mò mẫm theo cách thử và sai. Kết quả là
nhiệm vụ có thể thực hiện đƣợc nhƣng hành động mà nhờ đó nhiệm vụ đƣợc
thực hiện khó bền vững khi thay đổi điều kiện.
- Kiểu định hướng thứ hai.
Giáo viên giới thiệu cho học sinh biết mẫu của hành động trên một cơ sở
hành động định hƣớng chặt chẽ và những chỉ dẫn, những cách thức để thực
hiện hành động. Hành động ở đây đã đƣợc chia thành những giai đoạn và đảm
bảo cho việc thực hiện nó một cách đúng đắn. Ở đây, học sinh nắm vững
đƣợc kỹ năng thực hiện hành động và có khả năng di chuyển sang thực hiện
nhiệm vụ mới, nhƣng sự di chuyển này đòi hỏi phải có trong thành phần của
22
nhiệm vụ mới những yếu tố tƣơng tự với các yếu tố trong thành phần của
nhiệm vụ đã nắm vững.
- Kiểu định hướng thứ ba.
Giáo viên tiến hành dạy có kế hoạch về sự phân tích các nhiệm vụ nhằm
rút ra những điểm tựa để thực hiện nhiệm vụ. Những điểm tựa này là cơ sở
định hƣớng để thực hiện hành động. Ở đây, định hƣớng của giáo viên mang
tính khái quát, giáo viên kích thích học viên tự xây dựng cở sở định hƣớng
hành động và sau đó thực hiện hành động theo cơ sở định hƣớng đó. Khi hành
động đƣợc hình thành, học viên sẽ có khả năng dịch chuyển sang một lớp các
nhiệm vụ rộng hơn.
c. Phương pháp hướng dẫn học viên giải bài tập vật lí.
Dựa trên ba kiểu định hƣớng bài tập trên, để hình thành ở học viên năng
lực giải bài tập, ngƣời giáo viên cần thực hiện các công việc sau:
tƣơng ứng với từng bƣớc của tiến trình hƣớng dẫn đã vạch ra.
1.2. Giới thiệu vấn đề tiếp cận hoạt động cơ bản trong lý luận dạy học
1.2.1. Tiếp cận hoạt động trong dạy học
1.2.1.1. Dạy và học theo tiếp cận hoạt động
Hoạt động dạy học dƣới góc nhìn của tiếp cận hoạt động là hoạt động
tích hợp hai hoạt động thành phần thâm nhập vào nhau sinh thành ra nhau và
chi phối lẫn nhau đó là hoạt động dạy và hoạt động học. Hai hoạt động này
cộng tác chặt chẽ với nhau tạo nên bản chất toàn diện của quá trình dạy học.
Từ “hoạt động” trong tiếp cận hoạt động chủ yếu nói về hoạt động học
tập của học sinh nhằm đạt hiệu quả cao mà không loại trừ hoạt động dạy của
giáo viên . Bởi vì chỉ khi ngƣời dạy có hoạt động đa dạng, tích cực và phù
hợp với từng cá thể học thì mới có thể phát huy đƣợc những hoạt động tích
cực của học viên.
24
1.2.1.2. Các thành tố của hoạt động dạy theo tiếp cận hoạt động
Đối với giáo viên: hai thành tố chính là hai hoạt động truyền thụ kiến thức
và điều khiển sƣ phạm.
- Hoạt động truyền thụ kiến thức là hoạt động rất quan trọng và mang tính
chiến lƣợc trong quá trình dạy học. Giáo viên phải biết rõ khả năng tiếp thu
kiến thức của tùng đối tƣợng học sinh ( học viên) ở mức độ nào. Từ đó giáo
viên đƣa ra lƣợng kiến thức phù hợp để đạt đƣợc mục tiêu dạy học có hiệu
quả tốt.
- Hoạt động điều khiển sƣ phạm quyết định chủ yếu đến chất lƣợng của hoạt
động dạy. Bởi hoạt động này mang tính tổng thể và khái quát, giáo viên phải
kết hợp hài hòa giữa truyền thụ kiến thức và điều khiển sƣ phạm một cách
hợp lý đầy nghệ thuật. Hai hoạt động truyền thụ kiến thức và điều khiển sƣ
phạm luôn luôn tồn tại thống nhất, biện chứng với nhau. Sự tiết chế của mỗi
dạng hoạt động này trong từng tình huống cụ thể tùy thuộc vào mục tiêu và
nội dung dạy học của tình huống đó.
Trƣớc khi nhận xét học viên Trung TGDTX Ứng Hòa để có hƣớng xây
dựng hệ thống bài tập cho phù hợp đối tƣợng. Tôi đã đi tìm hiều học viên
bằng nhiều phƣơng pháp nhƣ :
- Phiếu điều tra học viên
- Phỏng vấn học viên trên lớp
- Tìm hiểu thông qua hồ sơ lý lịch
- Quan sát tổng hợp các nhận xét trong quá trình dạy học
- Trao đổi hoặc hỏi hỏi ý kiến các giáo viên cùng trung tâm …