SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NGHIÊN CỨU VÀ LỰA CHỌN MỘT SỐ TRÒ CHƠI
VẬN ĐỘNG NHẰM PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHO HỌC
SINH TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH
Người thực hiện: Trần Vũ Phong.
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: thể dục- giáo dục quốc
phòng.an ninh
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của mỗi cá nhân, xã hội, vì đó chính là hành
trang để đi vào cuộc sống. Chăm sóc và nâng cao sức khỏe là trách nhiệm là
nghĩa vụ của mỗi công dân và toàn xã hội và là vấn đề quan trọng trong chiến
lược xây dựng và phát huy nhân tố con người ở nước ta. Sức khỏe là tiền đề để
con người phát triển trí tuệ, tiếp thu kiến thức, kỹ năng kỹ xảo vận động trong
cuộc sống. Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, một thiên niên kỷ mới, trong đó
nền kinh tế tri thức là chủ đạo, những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ đang được ứng dụng một cách triệt để vào tất cả các lĩnh vực của đời
sống. Vì vậy vai trò sức khỏe của con người lại càng quan trọng.
mặt khác quan trọng hơn là phát triển ở họ những tố chất thể lực cần thiết. Vì
vậy, một vấn đề đặt ra là muốn công tác GDTC có hiệu quả hơn, phải thông
qua tìm kiếm những biện pháp khác nhau phù hợp để nâng cao chất lượng
GDTC, trước hết là nâng cao khối lượng vận động. Một trong những biện pháp
đó là đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, làm cho các buổi học GDTC
phải sinh động, phong phú có sức lôi cuốn học sinh, sinh viên, nâng cao tính
tích cực tập luyện. Trong đó, việc ứng dụng đưa thường xuyên nội dung trò
chơi vận động (TCVĐ) vào các buổi học, có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần
thiết, bên cạnh các nội dung môn học Điền kinh và Thể dục. Cho đến nay, mặc
dù trong chương trình giảng dạy GDTC đã có một số TCVĐ, song số lượng các
trò chơi này còn quá ít, lặp lại nhiều lần nên chưa gây hứng thú cho học sinh,
sinh viên, hiệu quả giáo dục bị hạn chế. Vì vậy bổ sung và ứng dụng thêm
nhiều TCVĐ trong các buổi học cho học sinh, sinh viên Nhà trường là hết sức
quan trọng và cần thiết.
Trường THPT Chuyên Lương Thế Vinh là một trường lớn toạ lạc ở Thành
phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai. Trường được xây vào năm 1994, với tổng diện
tích khoảng 2,7ha. Hiện tại trường có 40 phòng học, các phòng thí nghiệm, hội
trường, thư viện đạt chuẩn, các phòng hành chính làm việc, 01 sân bóng đá, 01
sân tennis, 01 sân bóng chuyền, 01 sân bóng rổ. Trường là nơi đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho tương lai của tỉnh nhà.Vì thế, công
tác tuyển sinh đầu vào của trường được đặc biệt chú trọng. Các em được vào
học tai trường là sự chọn lọc được những em ưu tú, xuất sắc nhất trong tỉnh.
Hầu hết các em đã có nền tảng kiến thức chuyên môn vững vàng, có ý thức học
tập rất cao, có sự nhạy bén trong khi học và tiếp thu bài do giáo viên truyền thụ.
Mặt khác, Lương Thế Vinh là trường Chuyên nên nhà trường và đa phần các
em học sinh gần như chỉ quan tâm đến chất lượng kiến thức văn hóa chính vì
thế áp lực đối với các em học sinh là rất lớn, chưa thật sự quan tâm đúng mức
đến môn Thể dục
Muốn nâng cao chất lượng GDTC tại trường đòi hỏi phải có một đề tài
đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của
nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm. GDTC chia thành
hai mặt tương đối độc lập: dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục
tố chất thể lực. Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng của GDTC được
gắn liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động.
GDTC là một lĩnh vực thể dục thể thao (TDTT) xã hội với nhiệm vụ là:
“Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển các năng lực
thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo hệ
thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan
trọng cho cuộc sống”. Đồng thời chương trình GDTC trong các trường Đại học,
Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục
đó là: “Trang bị kiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực cho học sinh, sinh
viên”.
1.2. Trò chơi vận động – một phương tiện, phương pháp GDTC:
Trò chơi là một trong những loại bài tập thể lực xuất hiện sớm nhất. Các trò
chơi phản ánh đời sống thực tiễn, là sự mô phỏng, cách điệu hóa các hoạt động
của con người trong đời sống hằng ngày. Mặt khác, các trò chơi có tính độc lập
tương đối với các nhu cầu có tính thực tiễn đơn thuần của cuộc sống. Động lực
trực tiếp trong quá trình tham gia là nội dung, ý nghĩa của nó: sự đọ sức, tranh
tài, sự thỏa mãn ước vọng chiến thắng và niềm vui trong giao tiếp và đua tranh
với những tình huống luôn thay đổi. Phần lớn các trò chơi bao gồm các hành vi
vận động như: chạy, nhảy, leo, trèo, mang các vật nặng, nắm, vượt vật cản, tự
vệ… được gọi chung là trò chơi vận động.
Trong lịch sử loài người, có một thời kỳ dài con người phải sống bằng
săn bắt và hái lượm. Để tồn tại và phát triển, con người còn phải chiến đấu
chống lại sự tấn công của muông thú và đấu tranh với các hiện tượng tự nhiên
như: bão tố, lũ lụt, nóng, rét, bệnh tật… Trong cuộc sống lao động và đấu tranh
để sinh tồn ấy, có những lúc gay go, gian khổ, đôi khi rất khốc liệt mà con
người phải trả giá bằng cả sinh mạng mình. Nhưng, cũng chính trong cuộc sống
đó, xã hội loài người đã tồn tại và phát triển cho đến ngày nay.
trò chơi.
Ngày nay, với xu hướng phát triển mạnh của các phương tiện lao động,
học tập, trò chơi ngày càng trở thành một trong những nội dung, phương tiện,
phương pháp giáo dục rèn luyện thế hệ trẻ nhanh nhất, có hiệu quả nhất.
1.3. Nguồn gốc và bản chất xã hội của trò chơi:
Trò chơi vận động là một trong những hoạt động của con người nó nảy
sinh từ lao động sản xuất. Nói cách khác: những hoạt động tự nhiên, xã hội của
con người là nguồn gốc phát sinh ra trò chơi.
Ngay từ thời nguyên thuỷ con người không những biết tạo ra công cụ lao
động để cải tạo tự nhiên, sản xuất ra thức ăn và các vật liệu như: quần áo mặc
và đồ tiêu dùng v.v… Trong quá trình lao động ấy đã nảy sinh ra ngôn ngữ ,
nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí …. và các bài tập thể chất.
Con người nguyên thuỷ đã sử dụng trò chơi để truyền thụ kinh nghiệm
cuộc sống cho các thế hệ nối tiếp bằng cách bắt chước các động tác lao động,
trò chơi được ra đời từ đó và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài
người. Các trò chơi sơ khai của con người mang nhiều dấu ấn của lao động sản
xuất và con người sáng tạo, trừu tượng hoá.
Trò chơi phản ánh các mặt hoạt động của con người như văn hoá, giáo
dục, quân sự… Qua từng thời kỳ lịch sử- xã hội loài người, khi phương thức và
lực lượng sản xuất phát triển thì nội dung, cấu trúc của trò chơi cũng thay đổi
theo để đảm bảo sự hoà nhập, yêu cầu ngày càng cao của xã hội loài người. Từ
đó trò chơi được phát triển rất đa dạng và ngày càng phong phú, tác dụng của
nó đối với đời sống xã hội cũng được con người chú ý nhiều hơn. Một số trò
chơi dần dần mang tính văn hoá và tính dân tộc, tính giai cấp, thể hiện bản chất,
truyền thống của dân tộc và tính chất xã hội nhất định.
Chẳng hạn: Giai cấp tư sản có những quan điểm xem trò chơi là một hình
thức hoạt động nhằm thoả mãn bản năng tự nhiên của con người như mọi sinh
vật. Đây là quan điểm sai lầm, bởi vì họ đã không thấy được bản chất, giá trị
tinh thần, thể chất của các hoạt động trò chơi. Đặc biệt là tính chất văn hoá,
sinh.
- Hoạt động trò chơi có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác giáo dục thể
chất cho thế hệ trẻ. Hoạt động vui chơi hơi là một yêu cầu mang tính sinh học.
Có thể nói, vui chơi cần thiết và quan trong như ăn, ngủ, học tập trong đời sống
thường ngày của các em. Chính vì vậy, dù được hướng dẫn hay không, các em
vẫn tìm mọi cách và tranh thủ mọi thời gian và điều kiện để chơi. Khi được
chơi, các em đã tham gia hết sức tích cực và chủ động.
- Trò chơi vận động mang đặc tính thi đua rất cao:
Trong quá trình tham gia vào trò chơi, các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng,
như niềm vui khi thắng lợi và buồn khi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội
hoàn thành nhiệm vụ, bản thân thấy có lỗi khi không làm tốt phần việc của
mình v.v… Vì tập thể mà các em phải khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả
năng để mang lại thắng lợi cho đội trong đó có bản thân mình. Mỗi trò chơi
thường có những qui tắc, luật lệ nhất định, nhưng cách thức dể đạt được đích
lại rất đa dạng, trong khi đó bản thân trò chơi lại mang tính thi đua và sự tự
giác rất cao. Vì vậy, khi đã tham gia trò chơi, học sinh thường vận dụng hết khả
năng sức lực, sự tập trung chú ý, trí thông minh và sự sáng tạo của mình.
- Khả năng định mức và điều chỉnh lượng vận động khi thực hiện trò chơi
vận động bị hạn chế.
Những điều trên là rất tốt, nhưng cũng có một khía cạnh mà các nhà sư
phạm phải quan tâm đó là tránh để các em ham chơi quá, chơi đến mức độ quên
cả ăn, học, chơi đến mức quá sức dẫn đến mệt mỏi, trong trường hợp như vậy
không những không có lợi về mặt sức khoẻ mà ngược lại còn có hại cho sức
khoẻ. Đây là một đặc điểm quan trọng theo khía cạnh không hay, mà các nhà
sư phạm phải rất chú ý khi tổ chức cho các em chơi.
1.5. Phân loại trò chơi:
Có thể chia trò chơi ra làm ba nhóm chính: Trò chơi sáng tạo, trò chơi vận
động và trò chơi thể thao (các môn bóng).
Dưới đây chỉ đi sâu vào nhóm thứ hai: Trò chơi vận động. Riêng ở nhóm
chuyển tiếp ở giữa.
Trò chơi chia thành đội được tiến hành chơi với điều kiện số người chơi
của các đội phải ngang nhau, thậm chí số lượng các em nữ, các em nam cũng
phải bằng nhau ở các đội chơi, ví dụ: “Kéo co”, “Lò cò tiếp sức”… Luật lệ
của những trò chơi này thường nghiêm và chặt chẽ hơn. Như trò chơi “kéo
co” phải quy định từ cách đặt chân ở vạch phân chia, cách cầm dây.v.v… Mỗi
đội phải hành động đồng loạt với sự phối hợp chính xác, vì đôi khi sự thắng -
thua là kết quả của sự hợp đồng chặt chẽ ở mức khác nhau của mỗi đội.
Những trò chơi này có tác dụng giáo dục tinh thân tập thể, tính tổ chức kỷ luật
rất tốt.
Trò chơi không chia đội lại có thể chia ra:
+. Các trò chơi mà toàn bộ số người tham dự cuộc chơi cùng tham gia
vào chơi một lúc
+. Các trò chơi mà số người tham gia chơi phải theo lần lượt, thứ tự.
Đặc điểm của những trò chơi không chia đội là người chơi không cùng
một đích, mỗi người chơi độc lập, cá nhân chịu trách nhiệm về công việc của
mình, ví dụ: “Ném trúng đích”,“Đá cầu”,“Nhảy dây”,“Bịt mắt thổi
còi”.v.v…
Loại trò chơi có nhóm phụ ở giữa là những trò chơi vừa mang tính chất
cá nhân, nhưng khi cần thiết có thể hợp thành những nhóm, tuy nhiên sự kết
hợp ở đây không thường xuyên mà là ngẫu nhiên. Ví dụ như trò chơi “Chim
đổi lồng”, “Người thừa thứ 3”.v.v…
1.6. Ý nghĩa và tác dụng của trò chơi vận động:
TCVĐ là một trong những phương tiện GDTC nó được sử dụng kết hợp
với bài tập thể chất hoặc du lịch và rèn luyện trong tự nhiên góp phần củng cố
và nâng cao sức khoẻ của con người.
Thông qua TCVĐ góp phần giáo dục khả năng nhanh nhẹn, khéo léo,
thông minh, đức tính thật thà, tính tập thể nhằm giáo dục các mặt đức, trí, thể,
mỹ v.v… đào tạo con người phát triển một cách toàn diện.
léo nên phương pháp trò chơi tạo ra cho người chơi điều kiện rộng rãi để giải
quyết một cách sáng tạo những nhiệm vụ vận động. Thêm vào đó, sự thay đổi
thường xuyên và bất ngờ các tình huống trong tiến trình chơi, buộc phải giải
quyết các nhiệm vụ trong thời gian ngắn nhất và động viên đầy đủ khả năng
vận động.
Khả năng đạt mục đích chơi bằng nhiều cách thức khác nhau, sự thay đổi
thường xuyên và đột ngột các tình huống chơi, tính động cơ và tính cảm xúc
cao đã hạn chế khả năng lập chương trình cho các động tác cũng như rất khó
điều chỉnh độ lớn và phương hướng tác động của lượng vận đông. Dĩ nhiên,
điều đó không có nghĩa là không cần và có thể có điều khiển sư phạm cho quá
trình chơi. Ở đây, sự điều khiển có những hình thức gián tiếp và phức tạp hơn
phương pháp tập định mức chặt chẽ. Trong phương pháp trò chơi, các hành
động được chương trình hóa tương đối (nhờ óc chủ đề, luật lệ và chiến thuật
chơi). Trong chừng mực nhất định, lượng vận động cũng được điều chỉnh
(bằng định mức thời gian chơi, dụng cụ chơi, hạn chế kích thước sân bãi…).
Nhưng, độ chính xác trong lượng vận động thuộc phương pháp trò chơi thường
thấp hơn nhiều so với phương pháp tập với định mức chặt chẽ.
TCVĐ là một phương tiện, phương pháp GDTC được sử dụng để tác động
đến các đối tượng tập luyện nhằm đạt được mục đích của GDTC. Sử dụng
phương pháp trò chơi cho phép hoàn thiện các năng lực và tố chất như: sức
mạnh, sức bền, khéo léo, khả năng định hướng nhanh, độc lập sáng tạo. Giáo
dục tinh thần tập thể, tình bạn bè, ý thức tổ chức kỷ luật và nhiều phẩm chất
đạo đức khác.
Căn cứ vào mục đích yêu cầu của chương trình GDTC theo quyết định
203/QĐ-TDTT và những cơ sở lý luận đánh giá chất lượng giáo dục chung
trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Việc đánh giá chất lượng GDTC học
sinh – sinh viên được tiến hành với các nội dung sau:
- Kiến thức lý luận về GDTC được quy định theo chương trình.
- Kỹ năng thực hiện các môn thể thao.
- Thực hiện các chỉ tiêu thể lực theo nội dung tiêu chuẩn rèn luyện thân
iY
RYR
Trong đó: RX : tổng thứ hạng thứ nhất
RY : tổng thứ hạng thứ hai
RXi: thứ hạng thuộc mẫu thứ nhất
RYi: thứ hạng thuộc mẫu thứ hai
2.4. Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành trong năm học 2011 -2012
* Giai đoạn 1: thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan, viết đề tài nghiên
cứu, tiến hành phỏng vấn lần 1 để lựa chọn trò chơi vận động
* Giai đoạn 2: thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan, viết đề tài nghiên
cứu, tiến hành phỏng vấn lần 2 để lựa chọn trò chơi vận động.
* Giai đoạn 3: thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan, viết đề tài nghiên
cứu, hoàn thành đề tài và nghiệm thu.
2.5. Lựa chọn một số TCVĐ ứng dụng vào chương trình GDTC để phát
triển thể lực học sinh trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
Để lựa chọn TCVĐ vào chương trình GDTC để phát triển thể lực cho học
sinh trường THPT chuyên Lương Thế Vinh tôi tiến hành các bước sau:
* Bước 1: Sử dụng phương pháp tham khảo tài liệu:
Phân tích và tổng hợp hệ thống các TCVĐ phát triển thể lực thông qua các
nguồn tài liệu tham khảo chuyên môn, đề tài đã xác định cơ sở lý luận của nội
dung và yêu cầu đối với các TCVĐ lựa chọn dễ thực hiện, phù hợp với lứa tuổi
học sinh triển đầy đủ các tố chất vận động và phát triển toàn diện nhằm phát
triển thể lực cho học sinh trường THPT chuyên Lương Thế Vinh.
* Bước 2: Tìm hiểu thực trạng sử dụng các trò chơi vận động để phát
triển thể lực cho học sinh các trường THPT.
Qua khảo sát thực trạng sử dụng các TCVĐ để phát triển thể lực tại THPT
chúng tôi đã chọn lọc được các TCVĐ nhằm phát triển thể lực cho học sinh
HLV
Sinh viên
Biểu đồ: Tỷ lệ phỏng vấn lần 1
Lần thứ hai gửi 32 phiếu cho cùng một đối tượng như lần một, thu về 30 phiếu
trong đó: 12 phiếu (40.00%) của các giảng viên các trường đại học, cao đẳng, 10
phiếu (33.33%) cho giáo viên các trường THPT, 4 phiếu (13.33%) cho huấn luyện
viên TDTT và 4 phiếu (13.33%) cho các bạn sinh viên chuyên ngành. 40.00%
33.33%
13.33%
13.33%
Giảng viên
Giáo viên
HLV
Sinh viên
Biểu đồ: Tỷ lệ phỏng vấn lần 2
Tổng hợp hai lần phỏng vấn có 62 ý kiến trả lời, trong đó: 24 lượt ý kiến
của giảng viên (38.71%), 20 lượt ý kiến của Giáo viên (32.26%), 9 lượt ý kiến
của huấn luyện viên (14.52%) và 9 lượt ý kiến của các bạn sinh viên chuyên
ngành (14.52%).
Qua 2 lần phỏng vấn theo nguyên tắc chọn những chỉ tiêu đạt kết quả ≥ 80%
điểm trở lên ở cả 2 lần phỏng vấn, xác định được 8 TCVĐ phát triển thể lực.
Để khẳng định được tính khách quan của 2 lần phỏng vấn, xác định sự
trùng hợp của chúng, chúng tôi tiến hành tính chỉ số Wilconson các yếu tố
thành phần của TCVĐ.
Bảng: Giá trị chỉ số Wilconson qua 2 lần phỏng vấn
Bảng: Kết quả thăm dò qua 2 lần phỏng vấn các TCVĐ phát triển thể lực
cho học sinh trường THPT chuyên Lương Thế Vinh. Số
TT
TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG
Kết quả phỏng vấn
Lần 1 (n = 32) Lần 2 (n = 30)
Điểm Tỉ lệ % Điểm
Tỉ lệ %
1 Nhảy cừu 89 92.71 87 90.63
2 Lò cò tiếp sức 90 93.75 85 88.54
3 Chong chóng 83 86.46 80 83.33
4 Người thừa thứ ba 76 79.17 70 72.92
5 Nhảy dây cá nhân 80 83.33 79 82.29
6 Chuyền bóng qua đầu 79 82.29 78 81.25
7 Cướp cờ 65 67.71 63 65.63
8 Tiếp sức chạy, nhảy 82 85.42 83 86.46
9 Đuổi bắt 73 76.04 67 69.79
được áp lực học văn hóa vừa phát triển được thể lực cho các em, góp phần
phát triển con người toàn diện đức, trí, thể, mĩ nhằm đạt được mục tiêu giáo
dục THPT đã được xác định trong luật giáo dục.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Kết quả nghiên cứu đã xác định được 8 trò chơi vận động phát triển thể lực
cho học sinh trường chuyên Lương Thế Vinh: Nhảy cừu, Lò cò tiếp sức,
Chong chóng, Nhảy dây cá nhân, Chuyền bóng qua đầu, Tiếp sức chạy -
nhảy, Thi phối hợp, Tôm nhảy.Từ đó có những kiến nghị sau:
- Cần có những công trình nghiên cứu tiếp về phát triển thể lực cho học
sinh.
- Kết quả có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo và áp dụng trong chương
trình giáo dục thể chất ở các trường THPT trên địa bàn có kế hoạch ứng dụng kết
quả này vào công tác giáo dục thể chất.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các giáo viên tiếp cận và tham khảo đề tài
để góp phần nâng cao nhận thức và tìm hiểu tầm quan trọng của việc áp dụng
trò chơi vận động phát triển thể lực cho học sinh.
III. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực TDTT - PGS.TS Nguyễn Thiệt
Tình – NXB TDTT TP.HCM – 1995.
2. Lý luận và phương pháp TDTT – PGS.TS Nguyễn Toán, TS. Phạm Danh Tốn –
NXB TDTT Hà Nội – 1993.
3. Giáo trình trò chơi vận động - NXB TDTT Hà Nội – 1999.
4. UB TDTT Tuyển tập nghiên cứu khoa học GDTC, sức khỏe trong trường học các
cấp - NXB TDTT Hà Nội – 1998.
5. Xây dựng chương trình hệ thống bài tập huấn luyện sức mạnh cho VĐV đội tuyển
quốc gia Việt Nam – Đặng Hà Việt – 2001.
6. Lý luận và phương pháp TDTT – PGS.TS Nguyễn Toán– NXB TDTT Hà Nội –
2000.
7. Giáo dục thể chất cho học sinh ở trường học – Sở TDTT TP. HCM.
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
, ngày tháng năm
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học:
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
Họ và tên tác giả: Chức vụ:
Đơn vị:
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục - Phương pháp dạy học bộ môn:
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong
toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn