BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CAO PHƢƠNG NGỌC
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LUẬT ÁP DỤNG TRONG
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
THỰC TIỄN VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NÔNG QUỐC BÌNH
HÀ NỘI – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu kiến thức lý thuyết,
nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS. Nông Quốc Bình.
Các số liệu, kết quả trong bài luận văn là hoàn toàn trung thực.
Học viên
Cao Phƣơng Ngọc
5
5
1.1.2. Đặc điểm của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
10
1.2. Luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
13
1.2.1. Nguồn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
14
1.2.2. Xác định pháp luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc 20
tế
Tiểu kết chƣơng 1
24
CHƢƠNG 2 : QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LUẬT
ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
2.1. Các văn bản pháp luật điều chỉnh về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế tại Việt Nam
2.2. Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh Hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế
2.2.1. Luật áp dụng cho hình thức Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
3.2.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý
3.2.2. Nâng cao năng lực của các doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế
3.2.3. Nâng cao năng lực của các cơ quan giải quyết tranh chấp về Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế
56
Tiểu kết chƣơng III
74
KẾT LUẬN
75
62
62
69
72
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong đời sống xã hội, hợp đồng là một hình thức pháp lý thích hợp và
hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hóa và tiền tệ. Khi nền
kinh tế phát triển thì việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng ngày
hoàn thiện”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh vấn đề “Luật áp dụng trong HĐMBHHQT”có rất nhiều
công trình nghiên cứu đã được công bố. Mỗi một công trình tập trung nghiên
cứu ở những khía cạnh khác nhau. Cụ thể:
PGS.TS Nông Quốc Bình với một số công trình nghiên cứu đã công
bố trên các tạp chí chuyên ngành như: “Phạm vi áp dụng và không áp dụng
của Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”;“Sự mềm
dẻo trong một số điều khoản của Công ước Viên năm 1980 về Hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế” đăng trên Tạp chí Luật học số 04/2011 hay “Xác định
pháp luật áp dụng điều chỉnh Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - một số
vấn đề lý luận và thực tiễn.”
Tiến sỹ Nguyễn Minh Hằng với một số công trình như: “Giải quyết
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” trên tạp chí diễn đàn Doanh nghiệp
năm 2007; “Sửa đổi Điều 769 BLDS 2005” hay “Việt Nam và việc gia nhập
Công ước Viên năm 1980”.
Thạc sỹ Nguyễn Bá Bình với công trình nghiên cứu đã được công bố
năm 2008 như: “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, vài suy nghĩ về nội
hàm khái niệm cũng như việc xác định tính hợp pháp của Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế” và một số bài viết liên quan đăng trên trang web:
nguyenbabinh.blogspot.com.
3
Thạc sỹ Bùi Thị Thu với bài viết“Một số vấn đề về chọn Luật áp dụng
trong hợp đồng thương mại quốc tế theo Công ước Rome 1980 về luật áp
dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng.”đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật.
Thạc sỹ Bành Quốc Tuấn với bài viết như: “Thỏa thuận luật áp dụng
trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài.”
Tác giả luận văn kết hợp sử dụng phương pháp luận theo chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để tập trung nghiên cứu các quy
định của pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả sử dụng thêm phương
pháp so sánh để xem xét, đối chiếu với quy định của pháp luật quốc tế; sử
dụng phương pháp hệ thống, phân tích và tổng hợp để đánh giá thực trạng
pháp luật Việt Nam. Tất cả đều nhằm mục đích làm sáng tỏ cơ sở lý luận của
vấn đề Luật áp dụng trong HĐMBHHQT tại Việt Nam, từ đó góp phần nâng
cao hiệu quả của hoạt động này trên thực tế.
6. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và luật áp
dụng trong hợp đồng.
Chương II: Quy định của pháp luật Việt Nam về luật áp dụng trong hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế.
Chương III: Thực tiễn chọn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế của Việt Nam và hướng hoàn thiện.
5
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
VÀ LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG
1.1. Khái quát về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.1. Khái niệm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Có thể nói rằng việc làm rõ khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn hết sức quan trọng bởi nó gắn liền với
việc xác định luật nào được áp dụng để điều chỉnh quan hệ của các bên trong
hợp đồng. Nếu hợp đồng là hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường (hợp
đồng nội địa) thì sẽ được luật trong nước điều chỉnh. Nếu là hợp đồng mua
bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên
là thương nhân nước ngoài”.
Tuy nhiên, nếu xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch thì sẽ gặp phải những khó khăn, phức tạp
trong thực tiễn bởi:
Thứ nhất, pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau xác định quốc tịch
của pháp nhân không giống nhau. Có quốc gia xác định quốc tịch pháp nhân
theo nơi đăng ký pháp nhân (các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Anh Mỹ);
có quốc gia xác định quốc tịch theo địa chỉ thường trú của pháp nhân –
thường là nơi thường trú của cơ quan điều hành - nơi có cơ quan quản lý thực
tế (các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa như Pháp, Đức, Ba
Lan…); có quốc gia xác định quốc tịch của pháp nhân tại nơi pháp nhân tiến
hành các hoạt động thương mại…Vì có nhiều cách xác định quốc tịch như
vậy nên để xác định tính quốc tế của một HĐMBHHQT là không hề đơn giản,
có thể với quốc gia này thì đó là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng
với quốc gia khác thì không phải.
7
Thứ hai, nếu xác định tính quốc tế của hợp đồng dựa trên dấu hiệu
quốc tịch trong một số trường hợp sẽ gặp khó khăn khi xác định pháp luật áp
dụng.
Ví dụ, công ty A được đăng ký thành lập trên lãnh thổ Pháp nhưng lại
có trụ sở điều hành trên lãnh thổ của Anh, như vậy theo pháp luật Pháp, công
ty A có quốc tịch Anh, còn theo pháp luật của Anh thì công ty A lại có quốc
tịch Pháp. Công ty A ký kết hợp đồng bán hàng cho một công ty B ở Việt
Nam và xuất phát từ quy phạm xung đột, luật áp dụng cho hợp đồng là luật
của quốc gia người bán, vậy trong trường hợp này, luật của quốc gia nào sẽ
được áp dụng, luật của Pháp hay luật của Anh?
soạn thảo bởi đại diện của các quốc gia phát triển, chưa tính đến quyền lợi của
các quốc gia đang phát triển, và đặc biệt lý do quan trọng nhất là các tiêu
chuẩn chủ quan và khách quan được Công ước sử dụng để xác định tính quốc
tế của HĐMBHHQT chồng chéo và không có ý nghĩa thực tiễn. Ví dụ trường
hợp người bán có trụ sở thương mại trên lãnh thổ của Việt Nam giao hàng cho
người mua có trụ sở thương mại trên lãnh thổ của Thái Lan theo
HĐMBHHQT, khi hàng hóa đã nằm trên lãnh thổ của Thái Lan, vì một lý do
nào đó người mua từ chối nhận hàng và khi đó người bán buộc phải sang Thái
Lan để bán số hàng này cho người mua khác có trụ sở thương mại cũng nằm
trên lãnh thổ Thái Lan. Như vậy, tất cả các hoạt động liên quan đến việc mua
bán lần thứ hai đều diễn ra trên lãnh thổ Thái Lan: Hàng hóa đã nằm tại Thái
Lan – không thỏa mãn điều kiện thứ nhất; các hành vi chào hàng và chấp
nhận chào hàng cũng như việc giao hàng được thực hiện ngay trên lãnh thổ
của Thái Lan – không thỏa mãn điều kiện thứ hai và thứ ba. Như vậy, theo
quy định của Điều 1 Công ước Lahaye 1964 thì hợp đồng này không thể được
coi là HĐMBHHQT và vì vậy không thể áp dụng các quy định của Luật
9
Thương mại quốc tế mà cụ thể là không thể áp dụng ngay chính Công ước
Lahaye 1964 để điều chỉnh nó.
Chính vì lý do đó mà hiện nay trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc
tế người ta thường sử dụng Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về mua
bán quốc tế hàng hóa (gọi tắt là CISG) để xác định tính quốc tế của hợp đồng.
Điều 1 CISG quy địnhHĐMBHHQT là hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó
các bên ký kết có trụ sở thương mại đặt ở những nước khác nhau. Như vậy,
tính chất quốc tế của HĐMBHHQT theo CISG chỉ dựa trên dấu hiệu duy nhất
là trụ sở thương mại của các bên phải nằm trên những nước khác nhau. Việc
xây dựng khái niệm HĐMBHHQT dựa trên yếu tố lãnh thổ, hay trụ sở giao
theo những tiêu chí khác nhau. Trong đó, tiêu chí trụ sở thương mại của các
bên trong hợp đồng đặt tại các quốc gia khác nhau được pháp luật nhiều
quốc gia thừa nhận như một tiêu chuẩn cơ bản và quan trọng trong việc xác
định một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
1.1.2. Đặc điểm của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trước hết HĐMBHHQT mang đầy đủ những đặc điểm của một hợp
đồng mua bán hàng hóa nói chung. Về mặt bản chất, HĐMBHHQT là sự thỏa
thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ mua bán
hàng hóa. Đối tượng của HĐMBHHQT là hàng hóa được phép lưu thông trên
thị trường theo pháp luật quốc gia nhất định.Chủ thể của HĐMBHHQT cũng
bao gồm bên bán và bên mua, bình đẳng với nhau trong quan hệ mua bán,
không phụ thuộc vào quốc tịch, quy mô, loại hình doanh nghiệp…
HĐMBHHQT cũng là hợp đồng song vụ, có đền bù.
Khác với hợp đồng mua bán hàng hóa nội địa, HĐMBHHQT có những
nét đặc trưng sau:
Thứ nhất, về chủ thể HĐMBHHQT. Trên thực tế thì pháp luật thương
mại quốc tế không có sự điều chỉnh đặc biệt nào đối với chủ thể của
HĐMBHHQT. Điều này được giải thích bởi chủ thể của hoạt động này (cá
11
nhân hay pháp nhân – thương nhân) có được quyền ký kết hợp đồng phù hợp
với pháp luật quốc gia áp dụng đối với các chủ thể đó. Theo quy định của
pháp luật Việt Nam, HĐMBHHQT được coi là hợp pháp khi chủ thể của hợp
đồng hợp pháp, tức là có năng lực pháp luật và năng lực hành vi đồng
thờingười ký kết có thẩm quyền ký kết hợp đồng.
Đối với chủ thể bên nước ngoài, các thương nhân là cá nhân thì dựa
vào yếu tố quốc tịch. Cụ thể tại khoản 1 Điều 761 BLDS 2005 quy định:
“năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định
về hàng hóa. Sự khác nhau này dẫn đến hệ quả là cùng một thực thể nhưng
theo pháp luật nước này thì được phép mua bán, còn theo pháp luật nước khác
thì có thể bị cấm mua bán.
Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hàng hóa sẽ được
dịch chuyển qua lại biên giới hải quan một hoặc nhiều quốc gia khác nhau, dễ
thấy nhất là các hợp đồng xuất nhập khẩu. Cho nên, những hàng hóa này
không chỉ đơn thuần là được phép mua bán mà phải còn được phép xuất nhập
khẩu theo quy định của pháp luật quốc gia hữu quan. Ở Việt Nam, chỉ những
hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu không thuộc danh mục cấm lưu
thông, cấm xuất khẩu, được ban hành kèo theo Nghị định 12/2006/NĐ-CP
quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại 2005 và các văn bản luật chuyên
ngành mới có thể trở thành đối tượng của HĐMBHHQT. Ví dụ như Nhà nước
ta quy định cấm xuất khẩu vũ khí đạn dược; di vật, cổ vật; động thực vật
hoang quý hiếm. Nhà nước ta cũng cấm nhập khẩu một số mặt hàng như: vũ
khí, đạn dược; pháo các loại; phế liệu, phế thải, hóa chất độc hại…Như vậy,
các mặt hàng trên không thể trở thành đối tượng của HĐMBHHQT.
Khi gia nhập WTO, những mặt hàng xuất – nhập khẩu mà Nhà nước
kiểm soát phải thay đổi cho phù hợp với các quy định chung của Tổ chức:
đồng ý cho nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà từ thời điểm gia nhập, nhưng chỉ có
doanh nghiệp Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ mặt hàng này.
13
Thứ ba, về đồng tiền thanh toán trong HĐMBHHQT. Đối với các hợp
đồng mua bán trong nước, đồng tiền thanh toán là nội tệ. Trong
HĐMBHHQT, các bên có thể thỏa thuận chọn đồng tiền thanh toán là đồng
tiền của nước người mua, nước người bán hoặc của một nước thứ ba nào
đó…Do đó, đồng tiền thanh toán trong HĐMBHHQT thường là ngoại tệ đối
với ít nhất một bên hoặc cả hai bên của hợp đồng.
định của hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng đó.
Hệ thống pháp luật được áp dụng đề xem xét hiệu lực của hợp đồng
chính là Luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hợp đó.
Vậy nên, việc xác định Luật áp dụng đối với hợp đồng là một vấn đề có
ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ quyết định trong việc xem xét giá trị pháp lý
của hợp đồng mà còn có ý nghĩa trong việc giải thích, bổ sung những khiếm
khuyết trong các hợp đồng có tính chất quốc tế, nhất là khi các bên giao kết
thường đến từ các quốc gia khác nhau, ít am hiểu về pháp luật, thông lệ của
nhau. Mục đích của việc xác định pháp luật áp dụng đối với hợp đồng là
nhằm bảo đảm trật tự, an toàn, sư ổn định và công bằng cho các bên.
1.2.1. Nguồn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Xuất phát từ quan điểm “ý chí tự nguyện” nên bản thân HĐMBHHQT
đã là một văn bản có tính pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ của các bên ký
kết. Về mặt lý luận, nếu mọi quy định về quyền và nghĩa vụ được thỏa thuận
đầy đủ và chi tiết trong hợp đồng thì người ta không phải vận dụng đến các
nguồn luật khác. Song, trong thực tiễn ít có trường hợp này bởi vì không một
tổ chức, cá nhân nào có đủ điều kiện để thỏa mãn một bản hợp đồng chi tiết
đến mức không cần viện dẫn đến bất cứ nguồn luật nào. Cho dù
HĐMBHHQT được ký kết hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu thì bản thân nó cũng
không thể dự kiến, chứa đựng tất cả những tình huống có thể phát sinh trong
thực tế. Chính vì vậy, HĐMBHHQT phải được điều chỉnh bằng những nguồn
luật nhất định. Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, luật trong
15
nước sẽ đương nhiên được áp dụng, nghĩa là chỉ xem xét đến nguồn pháp luật
quốc gia. Trong khi đó, HĐMBHHQT do có yếu tố nước ngoài nên có nguồn
luật điều chỉnh phức tạp hơn, bao gồm điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia,
tập quán thương mại và án lệ.
thỏa thuận chọn luật áp dụng và sự thỏa thuận đó cho thấy các bên đã loại trừ
việc áp dụng CISG thì CISG sẽ không được áp dụng, cho dù các bên giao kết
hợp đồng có trụ sở tại các quốc gia là thành viên của CISG. Cho đến nay,
Công ước Viên được coi như một chuẩn mực của pháp luật quốc tế trong lĩnh
vực hợp đồng là “Luật Quốc tế về mua bán hàng hóa”.
Bên cạnh Công ước Viên 1980, còn có các điều ước quốc tế chứa đựng
các quy phạm xung đột như Công ước Lahaye 1955 về luật áp dụng đối với
việc mua bán các động sản hữu hình, Công ước Rome 1980 về luật áp dụng
đối với quan hệ nghĩa vụ hợp đồng được ký kết giữa các nước thuộc liên minh
châu Âu, Hiệp ước Mexico 1944 được 18 nước thuộc châu Mỹ La tinh ký
kết…cũng trở thành nguồn luật quan trọng, đươc các bên thường xuyên tham
chiếu áp dụng.
Trong mua bán hàng hóa quốc tế, Điều ước quốc tế có vai trò đặc biệt
quan trọng. Nó là công cụ pháp lý hữu hiệu để giải quyết xung đột pháp luật
và hạn chế việc áp dụng các quy phạm của pháp luật quốc gia. Sở dĩ nói hạn
chế việc áp dụng các quy phạm pháp luật quốc gia không phải vì việc áp dụng
chúng là không tốt, mà bởi vì: nó giúp tránh được những khó khăn thì phải
đàm phán lựa chọn luật quốc gia làm luật áp dụng cho hợp đồng. Trên thực tế,
việc lựa chọn luật quốc gia thường gặp phải rất nhiều khó khăn. Mỗi bên đều
muốn chọn luật của nước mình để áp dụng, nhằm tạo lợi thế cho mình vì họ
hiểu rõ về hệ thống pháp luật của họ, điều đó dẫn đến việc không bên nào
chịu nhường bên nào trên bàn đàm phán chọn luật. Mặt khác, việc lựa chọn
luật nước ngoài có thể đem lại những rủi ro pháp lý cho các doanh nghiệp do
thiếu sự hiểu biết đầy đủ về luật đó.
17
1.2.1.2. Luật quốc gia
Pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua
bên không thỏa thuận luật áp dụng nhưng trong các nguồn luật liên quan có
quy phạm dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật của quốc gia nào đó thì pháp luật
được dẫn chiếu sẽ được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng. Ví dụ: để xác định
năng lực ký kết và thực hiện hợp đồng, tư pháp quốc tế của hầu hết các nước
đều quy định áp dụng luật quốc tịch của các bên chủ thể. Theo đó, pháp luật
của nước mà các bên chủ thể mang quốc tịch sẽ là pháp luật quy định về năng
lực pháp luật và năng lực hành vi giao kết hợp đồng của các bên. Vậy, ở đây
dù các bên không thỏa thuận luật áp dụng nhưng khi xác định năng lực pháp
luật của các bên chủ thể trong hợp đồng, người ta vẫn áp dụng pháp luật quốc
gia do quy phạm xung đột dẫn chiếu đến để xem xét hiệu lực của hợp đồng về
tư cách chủ thể của các bên.
Như vậy, luật quốc gia của một nước có thể tác động đến mối quan hệ
của các bên trong HĐMBHHQT thông qua những cách tác động nêu trên, mà
những cách thức này đôi khi lại không được các bên chú ý.
1.2.1.3. Tập quán thương mại quốc tế
Với tư cách là những “chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận như
những quy phạm pháp luật”, tập quán quốc tế được coi là “luật giữa các
thương nhân” hay Lex mercatoriatrong thương mại quốc tế. Đây cũng là
nguồn thường được các doanh nghiệp lựa chọn đối với quan hệ thương mại
quốc tế nói chung và quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng, trong
trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc không có pháp luật quốc gia điều
chỉnh, hoặc có nhưng quy định không đầy đủ. Đặc biệt, thực tiễn giao dịch
thương mại quốc tế thường có nội dung rất phức tạp, không ngừng thay đổi,
liên quan đến nhiều quan hệ phát sinh ở nhiều quốc gia khác nhau, trong khi
Luật Thương mại của mỗi quốc gia được xây dựng lên chỉ phù hợp với trình
độ phát triển và hoàn cảnh của quốc gia đó, mang tính ổn định và đặc thù của
19
tập quán quốc tế cũng còn phụ thuộc vào sự công nhận của pháp luật của các
quốc gia và các điều ước quốc tế. Mặc dù vậy, trước xu thế toàn cầu hóa các
quan hệ thương mại quốc tế, cần thiết phải xây dựng được các quy tắc quốc tế
chung thống nhất điều chỉnh quan hệ hợp đồng quốc tế. Chính vì vậy, “các
nguyên tắc hợp đồng châu Âu” đã ra đời và tại châu Á – khu vực phát triển
năng động cũng đang có nhu cầu xây dựng “các nguyên tắc pháp luật hợp
đồng ASEAN” nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển thương mại tại khu
vực, tăng cường độ an toàn và hiệu quả pháp lý cho các quan hệ hợp đồng.
1.2.2. Xác định pháp luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế
1.2.2.1. Pháp luật do các bên chủ thể lựa chọn áp dụng
Về lý thuyết, luật điều chỉnh nội dung hợp đồng trước hết là luật do các
bên thỏa thuận lựa chọn (vì bản thân nội dung hợp đồng là sự thỏa thuận của
các bên). Đó có thể là luật nơi giao kết hợp đồng, luật nơi thực hiện hợp đồng,
luật của nước nơi có hàng hóa là đối tượng của hợp đồng,v.v…Các bên khi
giao kết hợp đồng có thể lựa chọn bất kỳ hệ thống pháp luật nào đề điều chỉnh
nội dung hợp đồng, miễn là việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật quốc gia có liên quan.
Các bên có thể lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng trong khi thỏa thuận
đàm phán hoặc sau khi ký kết hợp đồng tức là lúc tranh chấp đã phát sinh.
1.2.2.2. Pháp luật do cơ quan xét xử lựa chọn
Các chủ thể hợp đồng có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng để giải
quyết tranh chấp. Tuy nhiên, trên thực tế khi một tranh chấp liên quan đến
HĐMBHHQT phát sinh sẽ có trường hợp các bên không thỏa thuận luật áp
dụng hoặc thỏa thuận chung chung, luật do các bên lựa chọn không được chấp
nhận,…Trong những trường hợp như vậy, cơ quan giải quyết tranh chấp bao
gồm Tòa án và Trọng tài không chỉ có thẩm quyền xét xử mà còn có thẩm