Cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thoả thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài theo pháp luật việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ LỆ MỸ

CƠ CHẾ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG
THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG
TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : LUẬT KINH TẾ
Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHAN CHÍ HIẾU

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phan Chí Hiếu.
Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung
thực, khách quan.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả
Hoàng Thị Lệ Mỹ


Luật Mẫu về trọng tài thương mại
quốc tế của Ủy ban Pháp luật Thương
mại Quốc tế Liên Hợp Quốc

Quy tắc UNCITRAL

Quy tắc tố tụng trọng tài của Ủy ban
pháp luật Thương mại Quốc tế Liên
Hợp Quốc

Quy tắc VIAC

Quy tắc tố tụng Trọng tài của Trung
tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
NỘI DUNG....................................................................................................... 6
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM
THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG THỎA THUẬN CỦA CÁC
ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI .......................................... 6
1.1. Nhận thức chung về nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các
đƣơng sự trong tố tụng trọng tài ............................................................... 6
1.1.1. Khái niệm nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự
trong tố tụng trọng tài ............................................................................... 6
1.1.2. Vai trò của nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự

Các quy định về quyền tự định đoạt của đương sự trong thủ tục

giải quyết tranh chấp .............................................................................. 35
2.2. Thực tiễn hoạt động của các thiết chế bảo đảm thi hành nguyên tắc
tôn trọng thỏa thuận của các đƣơng sự trong tố tụng trọng tài ........... 37
2.2.1. Thực tiễn hoạt động của Hội đồng trọng tài, Tòa án và cơ quan thi
hành án liên quan đến việc bảo đảm thi hành nguyên tắc tôn trọng thỏa
thuận của các đương sự .......................................................................... 37
2.2.2. Thực tiễn thực hiện quyền tự định đoạt của các đương sự trong tố
tụng trọng tài ........................................................................................... 42
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CƠ CHẾ THỰC HIỆN
NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI ............................................................... 46
3.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến nguyên tắc tôn
trọng thỏa thuận của các đƣơng sự trong tố tụng trọng tài .................. 46
3.1.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về trọng tài, quy tắc tố
tụng trọng tài ........................................................................................... 46


3.1.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự ................ 48
3.1.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự .... 49
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài, Tòa án
và cơ quan thi hành án dân sự ................................................................. 50
3.2.1. Nâng cao hiệu quả của hoạt động trọng tài ................................. 51
3.2.2. Nâng cao hiệu quả của hoạt động tòa án, cơ quan thi hành án dân
sự ............................................................................................................. 52
3.3. Các giải pháp nâng cao nhận thức của các đƣơng sự trong tố tụng
trọng tài ...................................................................................................... 54
KẾT LUẬN .................................................................................................... 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

như: các bên không tự nguyện, thiện chí hợp tác trong thi hành phán quyết


2

của trọng tài; một bên lạm dụng quyền định đoạt của mình để gây khó dễ cho
quá trình hội đồng trọng tài giải quyết vụ việc; việc hủy phán quyết trọng tài
vẫn còn nhiều vướng mắc…. Vậy nguyên tắc đó đã được thể hiện như thế nào
trong Luật Trọng tài thương mại (Luật TTTM)? Cơ chế để bảo đảm cho
nguyên tắc này được thực thi hiệu quả trên thực tế ra sao? Đồng thời, từ ý
nghĩa, vai trò nguyên tắc và thực trạng thực hiện pháp luật về trọng tài thương
mại tại Việt Nam hiện nay cùng mong muốn trả lời các câu hỏi trên nên tác
giả chọn vấn đề “Cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa
thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài theo pháp luật Việt Nam”
làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Lĩnh vực trọng tài thương mại và các nguyên tắc giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài thương mại là vấn đề có tính thời sự. Do đó, từ trước đến nay
có không ít các công trình nghiên cứu về nội dung của vấn đề này, thể hiện
dưới các cấp độ khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án hay thông qua những
bài báo, tạp chí chuyên ngành Luật. Có thể kể đến một số công trình như:
- Tác động của những quy định mới trong luật TTTM tới hoạt động giải
quyết tranh chấp thương mại tại trọng tài ở Việt Nam – Luận văn thạc sỹ của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012;
- Những nguyên tắc của Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam
– Luận văn thạc sỹ của tác giả Tạ Thị Minh Loan, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội,
năm 2007;
- Những nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại –
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hiển, Trường Đại học Luật Hà Nội,
năm 2013.

nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật để vận hành cơ chế một cách thuận lợi
trên thực tế.


4

4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của
các đương sự trong tố tụng trọng tài và các cơ chế để bảo đảm thực hiện
nguyên tắc này trong phạm vi các quy định pháp luật hiện hành về trọng tài
thương mại (chủ yếu được ghi nhận trong Luật TTTM 2010 , Bộ luật Tố tụng
dân sự). Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng có sự liên hệ với Pháp lệnh
trọng tài thương mại 2003, một số quy định về trọng tài có liên quan trong
pháp luật về trọng tài một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ… hay các
quy định trong Quy tắc tố tụng trọng tài của một số trung tâm trọng tài ở Việt
Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện bằng nhiều phương pháp nghiên
cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp và phân tích; phương
pháp so sánh, đối chiếu; phương án kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn.
Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sự. Bên cạnh đó còn dựa
trên những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong quản lý nhà
nước nói chung và quản lý nhà nước với hoạt động trọng tài thương mại nói
riêng.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn có một số đóng góp mới như sau:
- Tiếp tục làm rõ một số vấn đề về lý luận liên quan đến cơ chế bảo
đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng
trọng tài theo pháp luật Việt Nam như: khái niệm, vai trò của nguyên tắc này,

CÁC ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
1.1. Nhận thức chung về nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đƣơng
sự trong tố tụng trọng tài
1.1.1. Khái niệm nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong
tố tụng trọng tài
Nguyên tắc, theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là “điều cơ bản định ra,
nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [23, tr.694]. Do đó, bất cứ
hoạt động nào có mục đích, muốn đạt được kết quả đều đòi hỏi người thực
hiện phải xác định những nguyên tắc cơ bản và bảo đảm tuân thủ nghiêm túc
những nguyên tắc đó. Trong khoa học pháp lý thì nguyên tắc của một ngành
luật là những khung pháp lý chung, những quy tắc chung được pháp luật ghi
nhận có tác dụng định hướng và chỉ đạo cho toàn bộ các quy phạm pháp luật
của ngành luật đó [17, tr.55]. Việc định ra các nguyên tắc của Luật TTTM
dựa trên cơ sở nguyên tắc chung của luật pháp, căn cứ vào đối tượng điều
chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Luật TTTM. Để đảm bảo hoạt động giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được chính xác, nhanh chóng,
đúng pháp luật, phù hợp với sự thật khách quan để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của các bên tranh chấp thì cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất
định.
Trên cơ sở kế thừa những điểm tiến bộ và khắc phục những điểm hạn
chế của Pháp lệnh trọng tài 2003, Luật TTTM đã quán triệt tinh thần bảo đảm
hơn nữa quyền tự định đoạt của các bên. Trong các nguyên tắc giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài cũng có sự thay đổi khi đặt nguyên tắc “Trọng tài


7

viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm
điều cấm và trái đạo đức xã hội” là nguyên tắc đầu tiên trong 5 nguyên tắc.
Như vậy có thể thấy nhận thức của các nhà làm luật về việc xác định các

cam kết, thỏa thuận các bên hoàn toàn tự nguyện, không ai được dùng bất cứ
thủ đoạn nào nhằm buộc một người cam kết, thỏa thuận trái với ý chí của
người đó. Mọi cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện của các bên có thể
bị tuyên bố vô hiệu. Đồng thời, những quan hệ pháp luật này còn được thiết
lập trên cơ sở bình đẳng giữa các chủ thể, không phụ thuộc vào giới tính, địa
vị xã hội khác; cũng như bình đẳng về các quyền và nghĩa vụ đối với
nhau…Xuất phát từ việc các bên tự nguyện, bình đẳng khi tham gia quan hệ
nên khi có tranh chấp xảy ra thì việc giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào sự
đồng thuận đầy đủ và có hiệu lực của hai bên. Đồng thời, khi giải quyết tranh
chấp cũng phải tôn trọng quyền được thỏa thuận, tự định đoạt của các bên.
Trọng tài viên tôn trọng sự thỏa thuận của các bên tuy không phải là
nguyên tắc riêng có của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhưng nguyên tắc
này được thể hiện trong tố tụng trọng tài với phạm vi rộng và đầy đủ hơn so
với giải quyết tranh chấp bằng Tòa án. Trong giải quyết tranh chấp bằng Tòa
án, các bên có quyền thỏa thuận phạm vi giải quyết tranh chấp, rút đơn yêu
cầu, hòa giải chứ không có quyền lựa chọn những vấn đề về mặt tố tụng của
quá trình giải quyết tranh chấp như: địa điểm giải quyết tranh chấp, thời gian
giải quyết tranh chấp, thủ tục giải quyết tranh chấp… Đây là những vấn đề đã
được quy định rõ ràng, cụ thể về mặt thủ tục trong Bộ luật tố tụng dân sự,
không cho phép sự thỏa thuận của các bên [9]. Ngược lại, trong tố tụng trọng
tài, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp, quy tắc
tố tụng, và cả những vấn đề về mặt nội dung của quá trình giải quyết tranh
chấp và Luật TTTM cũng đã quy định theo hướng ưu tiên sự thỏa thuận của
các bên. Nhưng sự thỏa thuận đó không phải được thể hiện một cách tùy tiện
mà phải thực hiện trong khuôn khổ các quy định của pháp luật. Có như vậy


9

thì mới bảo đảm tính hợp pháp và hợp hiến, tạo điều kiện cho quyền của

đồng trọng tài phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc trên. Các nguyên tắc này
có mối liên hệ hữu cơ với nhau, làm nên nét đặc thù của phương thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài. Cụ thể, nguyên tắc các bên tranh chấp bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ tạo được tiền đề cho sự thỏa thuận của các bên.
Thẩm quyền giải quyết bằng trọng tài là do các bên thỏa thuận lựa chọn, vì
vậy, trọng tài viên cần phải tôn trọng sự thỏa thuận đó cũng như phải vô tư,
độc lập…Trong đó, nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của
các bên có vai trò quan trọng, thể hiện dưới các khía cạnh sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự góp phần
định hướng cho toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương
mại, thể hiện bản chất của trọng tài thương mại. Cùng với nguyên tắc các bên
tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, nguyên tắc này góp phần thể
hiện việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là sự kết hợp của
hai yếu tố tài phán và thỏa thuận. Trong đó, xuất phát từ việc bình đẳng với
nhau thì thỏa thuận sẽ là tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết
thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận. Như vậy, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận
của các đương sự trong tố tụng trọng tài bảo đảm tôn trọng ở mức độ cao
quyền tự do định đoạt của các bên tranh chấp.
Thứ hai, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự góp phần
giải quyết tranh chấp nhanh chóng, chính xác, phù hợp với ý chí của các bên.
Nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên thể hiện
khả năng chỉ định trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài giải quyết vụ
việc. Quyền được lựa chọn trọng tài viên giúp các bên lựa chọn được trọng tài
viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc các vấn đề đang tranh chấp.
Điều này sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp được chính xác, nhanh chóng,
đúng pháp luật và tôn trọng sự thật khách quan. Bên cạnh đó, trọng tài khi


11



lệ thuộc vào nơi các bên tranh chấp có trụ sở, nơi có tài sản hay nơi phát sinh
tranh chấp. Chính sự linh hoạt trong việc lựa chọn hình thức trọng tài như trên
để giải quyết tranh chấp được đánh giá là ưu điểm của quá trình giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài so với tòa án.
- Các bên được chọn Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì số lượng trọng tài viên do các bên
lựa chọn, trong trường hợp không thỏa thuận thì số lượng trọng tài viên bao
gồm 03 trọng tài viên [2, Điều 39].
- Các bên tự quyết định về phạm vi yêu cầu đề nghị trọng tài giải quyết,
được quyền rút lại, thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu. Do bản chất của quan hệ
tranh chấp xuất phát từ các giao dịch dân sự đề cao sự bình đẳng, thỏa thuận
của các bên. Chính vì vậy, khi xảy ra tranh chấp, thì việc đề cao sự thỏa thuận
này vẫn được đặt ra và ưu tiên hàng đầu. Khi các bên đã thỏa thuận phạm vi
giải quyết tranh chấp, rút lại hay thay đổi, bổ sung yêu cầu giải quyết tranh
chấp thì Trọng tài viên có trách nhiệm tôn trọng sự thỏa thuận hoàn toàn hợp
pháp đó.
- Các bên được tự thỏa thuận hòa giải với nhau trong bất cứ giai đoạn
nào của quá trình tố tụng trọng tài. Pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận “ kể từ
thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài, các bên vẫn có quyền tự mình thương
lượng, thỏa thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp”[2, Điều 38]. Đặc biệt,
ngay cả trong quá trình giải quyết tranh chấp, các bên vẫn có quyền thỏa
thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Trường hợp các bên thỏa thuận
được với nhau về phương án giải quyết tranh chấp thì Hội đồng trọng tài phải
ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó của các bên.
- Các bên có thể thỏa thuận rút ngắn hoặc kéo dài thời gian giải quyết
tranh chấp, có thể thỏa thuận để lựa chọn địa điểm tiến hành trọng tài phù
hợp. Đây là một trong những mặt thể hiện vấn đề trọng tài viên tôn trọng sự




14

1.2.1. Các quy định của pháp luật và quy tắc tố tụng trọng tài
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) đã từng bước
hoàn thiện một cách căn bản hệ thống pháp luật tố tụng dân sự, đảm bảo ngày
càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố
tụng dân sự. Trong đó bao gồm một số nội dung liên quan đến tôn trọng
quyền thỏa thuận của các bên đương sự. Về quyền tự định đoạt của đương sự
trong tố tụng dân sự bắt nguồn từ nguyên tắc bảo đảm quyền tự quyết của các
bên đối với các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong
quan hệ dân sự. Trong tố tụng dân sự, quyền tự định đoạt của đương sự thể
hiện ở khả năng những người tham gia tố tụng tự do định đoạt các quyền dân
sự của mình và các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp bị xâm hại. Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự, quyền quyết định và tự
định đoạt của đương sự phải được thực hiện với vai trò tích cực và kiểm soát
từ phía Nhà nước (mà cụ thể là các cơ quan Toà án và Viện kiểm sát). Điều
này thể hiện qua nguyên tắc “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện,
yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý
giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và
chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Trong quá trình
giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu
cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp
luật và đạo đức xã hội” [1, Điều 5].
Luật TTTM của Việt Nam đã thừa nhận các nguyên tắc cơ bản của
Trọng tài đã được áp dụng rộng rãi ở các nước và đáp ứng được yêu cầu của
hoạt động kinh doanh như bí mật, linh hoạt, nhanh gọn. Luật TTTM thể hiện
được các nội dung cơ bản về các vấn đề: Phạm vi trọng tài, quy định về thoả
thuận trọng tài, Trọng tài viên, thủ tục trọng tài, quyết định trọng tài, thi hành
phán quyết trọng tài…Trong nội dung các quy định đã thể hiện được một cơ

tụng của các Trung tâm trọng tài được phát huy những lợi thế của mình trong


16

quá trình giải quyết tranh chấp. Tóm lại, với sự ra đời của các văn bản pháp
luật này, khung pháp lý cho trọng tài thương mại ở nước ta đã được hoàn
thiện thêm một bước, là cơ sở vững chắc cho việc nâng cao chất lượng giải
quyết tranh chấp bằng phương thức này, bảo đảm tôn trọng tối đa sự thỏa
thuận của các bên tranh chấp.
1.2.2. Các thiết chế bảo đảm thực thi nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của
các đương sự
1.2.2.1. Hội đồng trọng tài
Như chúng ta đã biết, bản chất chủ yếu của Trọng tài là ở chỗ Hội đồng
trọng tài chỉ tồn tại khi có ý chí của các bên tranh chấp. Luật TTTM xác định
các thẩm quyền mà Hội đồng có được do các bên tranh chấp trao trực tiếp cho
Hội đồng. Đó là các thẩm quyền được biểu đạt theo cách: “Nếu các bên
không có thỏa thuận khác”, “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
Theo đó, ý chí của các bên mặc nhiên được chuyển thành thẩm quyền của Hội
đồng tr�ước đầu tiên trước khi khởi kiện ra
trọng tài. Tuy nhiên, không loại trừ tình huống, tranh chấp phát sinh một bên


33

chưa thực hiện thủ tục hòa giải mà trên hợp đồng họ đã đồng ý, để đưa tranh
chấp ra giải quyết bởi trọng tài. Để một tranh chấp phát sinh được giải quyết
bằng trọng tài, các bên phải đáp ứng quy định điều kiện giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài [2, Điều 5, Điều 17]. Như vậy, người khởi kiện chỉ cần làm hồ
sơ khởi kiện đúng quy định pháp luật và đáp ứng điều kiện giải quyết bằng

quyết tranh chấp thông qua thương lượng, thỏa thuận. Theo đó, trong quá
trình tố tụng trọng tài, các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuận với
nhau về việc giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải
để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp [2, Điều 9]. Vấn
đề thỏa thuận hòa giải với nhau giữa các bên được thực hiện trong bất cứ giai
đoạn nào của quá trình tố tụng trọng tài. Pháp luật về trọng tài cũng ghi nhận
“kể từ thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài, các bên vẫn có quyền tự mình
thương lượng, thỏa thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp”[2, Điều 38].
Nếu trong quá trình trọng tài, các bên muốn hòa giải thì theo yêu cầu của các
bên, Hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về
việc giải quyết tranh chấp. Khi các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết trong vụ tranh chấp thì Hội đồng trọng tài lập biên bản hoà giải thành
có chữ ký của các bên và xác nhận của các trọng tài viên. Hội đồng trọng tài
ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Quyết định này là chung
thẩm và có giá trị như phán quyết trọng tài [2, Điều 58]. Như vậy, theo quy
định trên thì Hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải theo yêu cầu của các bên.
Do đó, Hội đồng trọng tài đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hòa giải
cùng các bên với mục đích tìm ra giải pháp chấp nhận được. Khi các bên có
yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải, Hội đồng trọng tài có thể có những hỗ trợ
mang tính kỹ thuật, như tạo cơ hội, thời gian cho các bên tự thỏa thuận, giải
thích cho các bên về mục đích và hệ quả của việc tự thỏa thuận, khuyến khích
các bên tự thỏa thuận thông qua các hình thức khác nhau, kể cả đề cập về khả
năng tiết kiệm chi phí, giữ được mối quan hệ….[24, tr.127]. Như vậy, khác



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status