CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO
TÓM TẮT NỘI DUNG, BẢN CHẤT, HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN.
- Tên sáng kiến: “Xây dựng hệ thống bài tập định hướng phát triển năng lực
cho học sinh trong dạy học Sinh học 12”
- Giáo viên thực hiên: Nguyễn Thị Thu Vân
- Thời gian triển khai thực hiện: Từ tháng 3/10/2016 đến tháng 9/4/2017.
1. Sự cần thiết và mục đích của việc thực hiện sáng kiến.
Trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 đã khẳng định:
“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động và năng lực tự học của người học.” Theo đó
những định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là chuyển từ
chương trình định hướng nội dung sang chương trình định hướng năng lực với
mục tiêu: Dạy học định hướng kết quả đầu ra Giáo dục định hướng năng lực
nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra, phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách
của người học.
Trong quá trình đổi mới sự nghiệp Giáo dục, việc đổi mới Phương pháp
dạy học và Kiểm tra – Đánh giá là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng
dạy học nói riêng và chất lượng Giáo dục toàn diện nói chung. Đây là một yêu
cầu vừa cấp bách vừa lâu dài, đòi hỏi phải chỉ đạo chặt chẽ, liên tục và phải
động viên mọi sự kiên trì nỗ lực sáng tạo của đội ngũ giáo viên, lôi cuốn sự
hưởng ứng của đông đảo HS với các hoạt động học tập đa dạng và phong phú:
hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo...Chú
trọng phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp cho học sinh.
Việc kiểm tra – đánh giá dựa trên các tiêu chí về năng lực đầu ra, tiến bộ trong
học tập, chú trọng năng lực vận dụng tri thức vào giải quyết các tình huống thực
tiễn. (Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát
triển năng lực học sinh – Bộ Giáo dục và Đào tạo 2013)
1
Oanh và cô giáo Trần Thị Hòa thực hiện.
- Trường THPT Phan Đình Giót do cô giáo Đồng Khánh Linh thực hiện.
2
- Trường PTDTNT THPT Huyện Điện Biên do cô giáo Nguyễn Thị
Thanh, Phùng Thị Minh thực hiện.
- Trường THPT Tuần Giáo do cô giáo Đỗ Thùy Dương thực hiện.
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Quy trình xây dựng, sử dụng câu hỏi - bài tập và hệ thống các câu hỏi bài tập theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh qua dạy học và kiểm
tra - đánh giá phần Di truyền học - Sinh học 12.
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí thuyết: Các tài liệu liên quan đến kĩ năng xây dựng hệ thống
câu hỏi - bài tập phát triển năng lực và giải quyết tình huống thực tiễn cho HS.
- Nghiên cứu thực tiễn: Điều tra thực trạng khả năng giải các bài tập phát
triển năng lực và giải quyết tình huống thực tiễn của học sinh các lớp 12.
- Thực nghiệm sư phạm: Đưa hệ thống bài tập theo định hướng phát triển
năng lực vào nội dung các bài kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra tổng hợp Kiểm tra trước khi thực hiện giải pháp và sau khi thực hiện 2 tháng.
3. Mô tả sáng kiến.
3.1. Thực trạng giải pháp đã biết
Kiểm tra - Đánh giá là một khâu cuối cùng trong quy trình dạy học, từ
trước đến nay tất cả các bài tập để kiểm tra được biên soạn theo định hướng nội
dung SGK, việc thực hiện bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng nên có một số ưu
điểm và nhược điểm sau:
- Ưu điểm: Về nội dung, tiêu chí đánh giá được xây dựng chủ yếu dựa
trên sự ghi nhớ và tái hiện kiến thức theo nội dung đã được học trong SGK.
Học sinh làm bài bằng hình thức tự luận hay trắc nghiệm chủ yếu bằng kênh
chữ, GV đánh giá kết quả của học sinh theo nội dung lý thuyết SGK là chủ yếu.
- Nhược điểm: Học sinh trình bày tất cả các thông tin thu nhận được bằng lời
văn đối với các bài thi tự luận hoặc khoanh đáp án một cách máy móc các bài thi
học để giải quyết những tình huống thực tiễn, các thông tin mà HS thu nhận được
và qua kết quả đó, có thể điều chỉnh phương pháp dạy học theo định hướng phát
huy năng lực cho học sinh một cách phù hợp nhất.
♦ Kiểm tra - Đánh giá theo định hướng phát triển năng lực.
- Kiểm tra: là một hoạt động được tiến hành nhằm thu thập thông tin, dữ
kiện về một vấn đề nhằm một mục đích nhất định. Có nhiều hình thức kiểm tra
4
như: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra tổng kết; kiểm tra có thể
tiến hành dưới nhiều hình thức như: nói, viết, thực hành,…
- Đánh giá: là quá trình thu thập thông tin để xác định mức độ đạt được các
mục tiêu giáo dục đề ra và đưa ra quyết định tác động vào quá trình giáo dục, đào
tạo nhằm đạt được kết quả dạy học tối ưu nhất.
- Đánh giá năng lực: Theo chiều rộng (Đánh giá các kỹ năng nhận thức & xã
hội, kỹ năng hợp tác và các năng lực sáng tạo, các phong cách tư duy khác nhau).
Đánh giá theo chiều sâu (Đánh giá không chỉ là yêu cầu sự nhắc lại mà là các kỹ
năng học tập, kỹ năng xây dựng kiến thức và kỹ năng ứng dụng vào thực tiễn)
Ngoài ra: Đánh giá năng lực thông qua các sản phẩm của hoạt động học và
quá trình học. Nên việc đánh giá phải bao quát, không chỉ đánh giá kiến thức
♦ Định hướng xây dựng câu hỏi, bài tập đánh giá năng lực.
- Tiếp cận bài tập định hướng năng lực với trọng tâm là sự vận dụng có phối
hợp các thành tích riêng khác nhau trên cơ sở một vấn đề mới với người học.
- Tiếp cận năng lực định hướng theo các tình huống thực tế.
♦ Những đặc điểm của bài tập định hướng năng lực
- Bài tập được xây dựng trên cơ sở chuẩn KT - KN có độ khó khác nhau
- Bài tập gắn với tình huống thực tế cần giải quyết.
- Bài tập đa dạng, phát huy các năng lực chung và chuyên biệt
♦ Các bậc trình độ trong bài tập định hướng năng lực:
Các mức
- Đánh giá hoàn cảnh, tình huống thực
tế theo tiêu chí riêng.
3.2.1.2 Cơ sở thực tiễn.
♦ Hoạt động tư duy - học tập của học sinh lớp 12C2 và 12C4
Học sinh lớp 12C2 – Chuyên Sinh; 12C 4 – Chuyên Hóa ở trường THPT
Chuyên Lê Quý Đôn có khả năng nghiên cứu SGK tương đối hiệu quả, các em
rất chú ý các chi tiết nêu trong bài học. Tuy nhiên, năng lực liên hệ thực tế cùng
với các thao tác tư duy khái quát chưa được rèn luyện nên thiếu tính toàn diện nên
còn hạn chế. Các em thường cảm nhận bằng cảm tính và khái quát thành bản chất
của sự vật, hiện tượng, nhất là đối với phần kiến thức lí thuyết – không biết vận dụng
giải thích tình huống thực tiễn, bài tập ít nên dễ gây cảm giác nhàm chán, ngại đọc.
Khi làm bài tập, bài kiểm tra, bài thi kiểu tự luận kiểm tra nội dung thì đa số
HS không biết cách khái quát nên câu trả lời thường là tập hợp những kiến thức
theo tư duy một chiều nên thường sót nội dung. Đối với các bài thi kiểu trắc
nghiệm thì cũng khoanh bừa đáp án nên kết quả chưa cao. Đặc biệt, đối với các bài
tập kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực thường hay nhầm lẫn nên kết quả
không cao.
3.2.2 Khảo sát thực trạng.
3.2.2.1 Thực trạng dạy-học và kiểm tra – đánh giá theo định hướng
phát triển năng lực của Giáo viên:
Khảo sát thực trạng dạy - học và kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát
triển năng lực đối với một số giáo viên dạy lớp 12 ở năm trường trong Tỉnh:
Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn ; Trường THPT Thành Phố Điện Biên Phủ;
Trường THPT Phan Đình Giót; Trường PTDTNT THPT Huyện Điện Biên;
Trường THPT Tuần Giáo.
Kết quả điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp 8 giáo viên đang dạy lớp 12 và
ôn thi THPT Quốc gia năm 2017
đạt 9,10 điểm.
Các bài kiểm tra chuyên đề trước thực nghiệm ở 4 trường THPT trong tỉnh
được Giáo viên thực nghiệm thu thập và phân tích đều cho kết quả không cao:
7
Trong 80 bài kiểm tra chuyên đề 1 có 50% số bài kiểm tra dưới trung bình; điểm
trung bình 40% khá 10% (chủ yếu ở trường THPT Tuần Giáo và THPT Thành Phố
Điện Biên Phủ) không có bài đạt loại giỏi.
Như vậy, kết quả khảo sát qua các bài kiểm tra chứng tỏ các em HS có khả
năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào giải các bài tập năng lực và giải quyết các
tình huống phát sinh trong thực tiễn ở những mức độ khác nhau.
Tuy HS được học theo chương trình định hướng nội dung của SGK, nặng về
kiến thức lý thuyết, ít bài thực hành liên quan đến thực tế, không có thời gian dã
ngoại thực tế nên khả năng vận dụng để giải quyết tình huống thực tế là hạn chế.
Nhưng sự khát khao hiểu biết và giải thích các tình huống, hiện tượng thực tế là vô
hạn nên có thể trang bị cho các em các kĩ năng và kiến thức cần thiết để vận dụng
được kiến thức SGK giải các bài tập thực tiễn.
3.3 Bản chất của giải pháp
3.3.1. Các nguyên tắc cơ bản trong quá trình xây dựng hệ thống bài
tập theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
- Bài tập phải dựa trên mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ nhất định theo yêu
cầu của chuẩn kiến thức kĩ năng của bài học.
- Bài tập phải gắn với tình huống thực tiễn, là một trong những thành tựu đã
đạt được của Sinh học.
- Hệ thống các bài tập mà GV đưa ra để rèn luyện thì không được quá dễ
hoặc quá khó mà phải phù hợp với các mức độ nhận thức của các đối tượng HS.
- Hệ thống bài tập phải giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo trong học tập.
- Sau khi giải bài tập , học sinh có khả năng vận dụng kiến thức được học để
tiễn nên chưa kích thích được sự say mê tìm tòi và tư duy sáng tạo của học sinh.
Chương 5 - Di truyền học người. Trong chương này có nhiều kiến thức liên
quan đến con người với các phương pháp nghiên cứu; các vấn đề về di truyền y
học, di truyền y học – tư vấn và bảo vệ di truyền của con người. Những kiến
thức thiết thực liên quan đến mỗi người, các vấn đề di truyền các bệnh, tật liên
quan đến sự phát triển của xã hội loài người, nhưng được trình bày chưa cụ thể,
chưa rõ ràng về các cơ chế phát sinh, cơ chế biểu hiện và hậu quả cùng với các
câu hỏi – bài tập cuối bài chưa rõ ràng, nên chưa phát huy được năng lực và
9
cũng làm khó cho các em khi vận dụng để giải thích các triệu chứng bệnh lí của
các bệnh tật đó trong thực tiễn.
3.3.3. Quy trình biên soạn bài tập theo định hướng phát triển năng lực.
B1. Xác định các chủ đề dạy học để xây dựng câu hỏi (CH) và bài tập (BT)
B2. Căn cứ nội dung chủ đề, xác định các năng lực có thể hình thành/rèn luyện
cho HS thông qua chủ đề.
học
B3. So sánh với chuẩn KT-KN để điều chỉnh theo định hướng phát triển năng lực
học sinh
B4. Xác định các mức yêu cầu cần đạt được qua bài tập đánh giá năng lực
B5. Biên soạn CH-BT trong dạy học mỗi chủ đề và các mức độ năng lực đã mô tả
3.3.4. Một số bài tập phát triển năng lực trong dạy học phần di truyền học.
3.3.4.1 Chủ đề: Cơ sở vật chất di truyền ở cấp độ phân tử.
G+X
đặc thù.
(4) ADN được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, đơn phân là 4 loại bazơ nitơ A, T, G, X.
(5) Các nuclêôtit trên cùng mạch liên kết với nhau bằng liên kết yếu, điều này có
ý nghĩa quan trọng trong quá trình nhân đôi ADN.
(6) ADN gồm hai mạch đối song song: 5’OH – 3’P và 3’OH – 5’P, xoắn đều
xung quanh một trục.
(7) Một phân tử ADN mạch kép có số nuclêôtit loại G chiếm 20% và có 3600
ađênin. Tổng liên kết hiđrô của ADN là 14400.
(8) Một phân tử ADN có cấu trúc xoắn kép, giả sử phân tử ADN này có tỉ lệ
=
25% thì tỉ lệ nuclêôtit loại G của phân tử ADN này là 40%.
A. 2.
B. 3.
C. 4.
D. 5.
11
GV hướng dẫn HS phân tích từng nhận định trên:
- Mức độ 1- Hồi tưởng (tái hiện cái đã học và không thay đổi): Nhận đinh
(1), (2), (3), (4). HS quan sát hình (a; b) – nhớ lại kiến thức đã học và sẽ nhận ra
(1) và (3) va (4) không chính xác:
khái quát về một đoạn ADN ở
sinh vật nhân thực và sơ lược về
quá trình phiên mã, dịch mã.
Quan sát hình và cho biết có
bao nhiêu phát biểu đúng về gen
cấu trúc.
12
(1) Gen là một đoạn của phân tử ADN hoặc ARN mang thông tin mã hoá cho
sản phẩm nhất định (chuỗi pôlipeptit hoặc ARN).
(2) Gen ở sinh vật nhân thực có dạng thẳng, sinh vật nhân sơ có dạng vòng.
(3) Sản phẩm phiên mã của gen chỉ gồm tARN và mARN.
(4) Ở sinh vật nhân thực, 1 gen chỉ có tham gia dịch mã và chỉ tạo 1 loại prôtêin.
(5) Gen cấu trúc gồm 3 vùng: vùng điều hoà, vùng mã hoá và vùng kết thúc.
(6) Một gen có tổng số liên kết hydro là 4050, có tỷ lệ A/G = 3/7. Số lượng loại
Nu A có trong gen là 450
A. 1.
B. 2.
C. 3.
D. 4.
GV hướng dẫn HS phân tích các nhận xét trên theo các mức độ năng lực :
- Mức độ 1- Hồi tưởng: HS quan sát hình – tái hiện kiến thức đã được học
và dễ dàng nhận thấy: Nhận định (1), (2), (3) đều không chính xác ở (1) Gen là
một đoạn của phân tử ADN hoặc ARN mang thông tin mã hoá cho sản phẩm
Bài tập 3: Phiên mã là qua trình tổng hợp ARN trên khuôn ADN. Mặc dù gen
được cấu tạo từ 2 mạch nucleotit nhưng trong mỗi gen chỉ có một mạch được
dùng làm khuôn (mạch mã gốc) để tổng hợp nên phân tử ARN. Hình bên dưới
mô tả quá trình phiên mã và quá trình cắt bỏ các đoạn intron, nối các đoạn
êxôn. (Nguồn SGK Sinh Học 12 – Trang 12).
Quan sát hình bên dưới và cho biết khẳng định nào dưới đây là đúng?
(1) Đây là quá trình phiên mã ở tế bào nhân thực, sự cắt bỏ intron, nối các êxôn
diễn ra trong nhân, số loại mARN có thể tạo ra là 3.
(2) Đây là quá trình phiên mã ở tế bào nhân sơ, sự cắt bỏ intron, nối các êxôn
diễn ra trong nhân, sự ghép nối các êxôn chỉ tạo một loại mARN duy nhất.
14
(3) Phân tử mARN trưởng thành dài bằng mạch khuôn trên gen cấu trúc
(4) Đây là quá trình phiên mã ở tế bào nhân thực, sự cắt bỏ intron, nối các êxôn
diễn ra trong nhân, sự ghép nối các êxôn chỉ tạo một loại mARN duy nhất.
(5) Enzim ARN polimezaza trượt theo chiều 5’ 3’ trên mạch mã gốc và phân
tử ARN được hình thành theo chiều từ 3’ 5’.
(6) Đây là quá trình phiên mã ở tế bào nhân thực. Enzim ARNpolimezaza có thể
tự tạo ra đầu 3’OH tự do nên không cần tổng hợp đoạn mồi.
(7) Nếu có một phân tử mARN sơ khai ở sinh vật nhân thực khác có 5 đoạn
intron và 6 đoạn exon thì quá trình cắt bỏ intron và nối các exon sẽ tạo ra 20 loại
phân tử mARN trưởng thành.
A. 0.
B. 1.
C. 2.
A. 2
B. 3
C.4
D. 5
3.3.4.3 Chủ đề: Cơ sở vật chất di truyền cấp độ tế bào
Bài tập 5: Mỗi NST chứa 1 phân tử AND có thể dài gấp hàng ngàn lần so với
đường kính của nhân tế bào. Mỗi tế bào sinh vật
nhân thực chứa nhiều NST. NST có thể xếp gọn vào
trong nhân tế bào và dễ di chuyển trong quá trình
phân chia tế bào là do các NST liên kết với các
protein histon và co xoắn ở các mức độ khác nhau.
Hình bên mô tả cấu trúc siêu hiển vi của nhiễm sắc
thể ở sinh vật nhân thực. Quan sát hình cho biết có
bao nhiêu nhận định đúng?
(1) Các chú thích trong hình (1), (2),(3),(4),(5),(6),(7) lần lượt là: ADN, nucleoxom,
protein histon, sợi cơ bản, cromatit, sợi siêu xoắn, sợi nhiễm sắc.
(2) Ở tế bào nhân thực, cấu trúc cuộn xoắn tạo điều kiện thuận lợi cho sự nhân
đôi NST.
(3) Ở tế bào nhân thực, NST là vật chất di truyền ở cấp độ phân tử.
(4) Ở tế bào nhân thực, thành phần hoá học chủ yếu của nhiễm sắc thể là ARN và
prôtêin histon.
(5) Ở tế bào nhân thực, đơn vị cấu trúc cơ bản của nhiễm sắc thể là nuclêôxôm.
(6) Phân tử ADN đóng xoắn cực đại vào kì đầu 1 trong quá trình phân bào giảm nhiễm.
Số kết luận đúng dựa vào hình trên là:
A. 4.
D. 4.
Bài tập 7. Đột biến cấu trúc NST là những biến đổi trong cấu trúc của NST. Các
dạng đột biến này thực chất là sự sắp xếp lại những khối gen trên và giữa các
NST, do vậy có thể làm thay đổi hình dạng và cấu trúc của NST. Các tác nhân
vật lí như những tia phóng xạ, hóa chất độc hại… tác nhân sinh học như virut
(SGK Sinh học 12- trang 24)
Dựa vào những hiểu biết về đột biến cấu trúc
NST hãy cho biết trong các phát biểu sau, có bao nhiêu phát biểu không đúng?
(1) Đảo đoạn làm thay đổi trình tự phân bố gen trên nhiễm sắc thể.
17
(2) Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể chỉ xảy ra ở nhiễm sắc thể thường mà không
xảy ra ở nhiễm sắc thể giới tính.
(3) Đột biến đảo đoạn làm cho gen từ nhóm liên kết này chuyển sang nhóm liên kết
khác.
(4) Đột biến đảo đoạn có thể làm giảm khả năng sinh sản của thể đột biến.
(5) Đột biến mất đoạn không làm thay đổi số lượng gen trên nhiễm sắc thể.
(6) Đột biến chuyển đoạn có thể không làm thay đổi số lượng và thành phần gen
của một nhiễm sắc thể.
(7) Dạng đột biến lặp đoạn có thể làm cho hai alen của một gen cùng nằm trên
một nhiễm sắc thể đơn.
(8) Ở nhiều loài muỗi, đột biến đảo đoạn được lặp lại nhiều lần trên các NST đã
góp phần tạo nên loài mới.
(10) Đột biến lặp đoạn có thể được hình thành thông qua quá trình trao đổi chéo
không cân của 2 crômatit thuộc 2 NST tương đồng.
A. 3.
(7) Giả sử gen D: quy định người bình thường, d quy định người bị dính ngón
tay số 2 và 3. Nếu cả 2 alen này đều nằm trên vùng không tương đồng của Y thì
trong quần thể người có 2 kiểu gen quy định tính trạng này.
A. 3.
B. 5.
C. 4.
D. 2.
3.3.4.6. Chủ đề: Ảnh hưởng của môi trường lên sự biểu hiện của gen
Bài tập 9. Giống thỏ Himalaya có bộ lông trắng muốt trên toàn thân, ngoại trừ
các đầu mút của cơ thể như tai, bàn chân, đuôi và mõm có lông đen. Tại sao các
tế bào của cùng một cơ thể, có cùng một kiểu gen nhưng lại biểu hiện màu lông
khác nhau ở các bộ phận khác nhau của cơ thể? Để lí giải hiện tượng này, các
nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm: cạo phần lông trắng trên lưng thỏ và
buộc vào đó cục nước đá. Tại vị trí này lông mọc lên lại có màu đen (SGK Sinh
học 12 – trang 55). Từ kết quả thí nghiệm trên, có bao nhiêu kết luận đúng
trong các kết luận sau đây?
(1) Các tế bào ở vùng thân có nhiệt độ cao hơn các tế bào ở các đầu mút cơ thể
nên các gen quy định tổng hợp sắc tố mêlanin không được biểu hiện, do đó lông
có màu trắng.
(2) Nhiệt độ đã ảnh hưởng đến sự biểu hiện của gen quy định tổng hợp sắc tố mêlanin.
(3) Khi buộc túi nước đá vào vùng lông bị cạo, nhiệt độ giảm đột ngột làm phát
sinh đột biến gen ở vùng này làm cho lông mọc lên có màu đen.
(4) Nhiệt độ cao làm biến tính enzim điều hoà tổng hợp mêlanin, nên các tế bào
ở phần thân không có khả năng tổng hợp mêlanin làm lông trắng.
(5) Sinh vật sống trong môi trường thì sẽ bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường.
Vì chân thỏ tiếp xúc nhiều với đất nên có màu đen.
A. 1.
B. 2.
C. 3.
D. 4.
20
3.3.4.7 Ứng dụng di truyền học
Bài tập 11. Hình bên dưới mô tả các bước trong quy trình lai tế bào sinh dưỡng
ở thực vật. Quan sát hình bên dưới và cho biết có bao nhiêu nhận xét đúng.
(1) Các bước trong công nghệ lai tế bào
là: Tách tế bào của 2 loài, cho dung hợp
trực tiếp với nhau, đem nuôi cấy để tạo
thành con lai.
(2) Tế bào trần là các tế bào lưỡng bội
(2n) đã được loại bỏ màng sinh chất.
(3) Tế bào trần là tế bào đơn bội (n) đã
được loại bỏ thành tế bào.
(4) Cây lai mang bộ NST ( 2n A + 2n B )
được gọi là thể song nhị bội.
(5) Đây là phương pháp duy nhất để
tạo cây lai mang bộ NST của 2 loài
khác nhau.
(6) Pomato (cây lai giữa cà chua và khoai tây) đã được tạo ra bằng phương pháp này.
(7) Ghép thân cà chua vào gốc khoai tây tạo được cây lai pomato vừa cho trái cà
chua vừa cho củ khoai tây là thành tựu mới nhất ở Việt Nam bằng phương pháp
A. 3.
B. 2.
C. 1.
D. 4.
Bài tập 13. Hình bên mô tả quá trình chuyển
gen bằng thể truyền plasmit từ tế bào người
vào tế bào vi khuẩn. Quan sát hình và cho
biết có bao nhiêu phát biểu đúng?
(1) Các bước trong quá trình chuyển gen
bằng plasmit gồm các bước: Tạo ADN tái tổ
hợp (1) – Đưa ADN tái tổ hợp vào tế bào
nhận (2) – Phân lập dòng tế bào chứa ADN
tái tổ hợp (3).
(2) Dùng các loại enzim khác loại để cắt mở
vòng plasmit và cắt gen của tế bào cho.
(3) Trong quá trình chuyển gen người ta dùng 2 loại enzim chủ yếu là ADN –
ligaza và ADN – pôlimeraza.
(4) Gen cần chuyển sẽ được nối với plasmit tại các “đầu dính” bằng liên kết hiđrô.
(5) ADN tái tổ hợp là sự kết hợp giữa plasmit và gen cần chuyển và được xem là
1 dạng biến dị di truyền.
(6) Các “đầu dính” được tạo ra nhờ enzim cắt giới hạn (ADN – ligaza) có khả
năng nhận biết và cắt tại những vị trí nuclêôtit xác định.
(7) Plasmit là 1 phân tử ADN vòng, mạch kép có khả năng nhân đôi, tồn tại độc
lập trong tế bào và phải mang được gen cần chuyển.
22
(6) Chẩn đoán trước sinh nếu phát hiện thai nhi bị đột biến có thể ngưng thai kì vào
lúc thích hợp giúp giảm thiểu sinh ra những đứa trẻ tật nguyền.
(7) Xét nghiệm trước sinh giúp cho tư vấn di truyền chính xác hơn góp phần quan
trọng vào việc bảo vệ vốn gen
(8) Xét nghiệm trước sinh còn được gọi là liệu pháp gen và có thể phát hiện các bệnh
liên quan đến đột biến gen.
A. 4.
B. 3.
C. 2.
D. 1.
Bài tập 15. Sơ đồ bên dưới mô tả cơ chế phát sinh bệnh phêninkêtô niệu. Quan sát
hình kết hợp những hiểu biết của bản thân về bệnh phêninkêtô niệu (PKU), hãy cho
biết trong các nhận định dưới đây có bao nhiêu nhận định đúng.
Thức ăn
Phêninalanin
Phe (máu )
Tirozin
Phe (não)
đầu độc TB TK
(1) Do đột biến gen trội trên NST thường làm mất khả năng chuyển hoá
phêninalanin thành tirôzin. Axit amin tirozin ứ đọng trong máu chuyển lên não đầu
độc tế bào thần kinh.
trong đó có 1 người con gái bệnh, 1 con trai bệnh và 1 con trai bình thường là 3/32
A. 0.
B. 1.
C. 2.
D. 3.
3.3. 5. Quy trình sử dụng bài tập phát triển năng lực cho học sinh.
B1. Giao bài tập phát triển năng lực sau khi học 1 bài học hoặc 1 chủ đề
B2. Học sinh độc lập nghiên cứu và giải bài tập năng lực theo chủ đề được học.
học
B3. Hoạt động nhóm để giải quyết các câu vận dụng để giải quyết tình huống.
B4. Đại diện nhóm HS trình bày kết quả sau khi hoạt động nhóm GV hướng
dẫn
B5. GV kết luận Giao Bài tập (Tình huống) mới (BTVN) cho HS giải quyết
3.3.6. Tính mới – Điểm khác biệt.
- Xây dựng cơ sở lí luận cho việc xây dựng hệ thống bài tập phát triển
năng lực nhận thức cho học sinh qua dạy học sinh học 12.
- Xây dựng được quy trình xây dựng bài tập định hướng năng lực theo các
mức độ và quy trình sử dụng các bài tập năng lực trong dạy học.
- Thiết kế hệ thống các bài tập phát triển năng lực và giải quyết tình
huống thực tiễn phần Di truyền học trong chương trình Sinh học 12.
25