BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHUNG THỊ BÍCH PHƯỢNG
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ VẬT CHỨNG
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN HUYÊN
HÀ NỘI - 2013
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
PHẦN NỘI DUNG
24
2.2. Nguyên nhân của những tồn tại trong các hoạt động thu thập, bảo
quản và xử lý vật chứng
2.3. Một số giải pháp hoàn thiện quy định về vật chứng trong tố tụng
hình sự
45
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
24
57
64
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- Bộ luật tố tụng hình sự:
BLTTHS
- Tố tụng hình sự
TTHS
- Bộ luật hình sự
BLHS
Cơ quan THADS
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vật chứng là một trong những nguồn chứng cứ có tính truyền thống và luôn
giữ vai trò rất quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án hình sự. Trước
đây, chế định vật chứng trong tố tụng hình sự đã được nhắc đến trong các văn bản
pháp lý, nhưng chưa có quy định thực sự rõ ràng. Đến năm 1988, chế định vật
chứng đã được quy định cụ thể trong BLTTHS 1988, và sau này được sửa đổi, bổ
sung trong BLTTHS năm 2003 đã tạo hành lang pháp lý vững chắc để các cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động thu thập, bảo
quản và xử lý vật chứng một cách thuận lợi, nhanh chóng, góp phần quan trọng
trong điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, đồng thời giải quyết một cách có hiệu
quả hậu quả của tội phạm. Tuy nhiên, kể từ khi BLTTHS 2003 có hiệu lực, việc
thực hiện các quy định về vật chứng đã nảy sinh không ít khó khăn, vướng mắc cả
về phương diện lý luận và thực tiễn làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình điều
tra làm rõ sự thật của vụ án hình sự. Các báo cáo tổng kết công tác hàng năm của
ngành Tòa án, thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát trong công tác giải
quyết vụ án hình sự đều đề cập đến các vi phạm trong hoạt động tố tụng, trong đó
có các vi phạm trong hoạt động thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng. Ngoài ra
các báo cáo tham luận trong công tác giải quyết vụ án hình sự của ngành tòa án
cũng đã đề cập đến các vướng mắc khi áp dụng các quy định của BLTTHS 2003
về vật chứng. Thực tế, cũng đã có không ít những vụ án do cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về
thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng làm ảnh hưởng đến quá trình điều tra làm rõ
tội phạm và người phạm tội, hoặc dẫn đến việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa
sát, tạp chí Dân chủ và pháp luật, tạp chí Nghiên cứu lập pháp như:
- “Một số vướng mắc khi xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự” của tác giả
Nguyễn Văn Trượng đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, số tháng 11/2009;
3
- “Bàn về khái niệm vật chứng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác
giả Đặng Văn Quý đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, số tháng 1/2010;
- “Xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự” của tác giả Lê Văn Sua đăng trên
tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 8/2008;
- “Vướng mắc việc tiếp nhận, xử lý vật chứng là tang vật vụ án” của tác giả
Đại Sỹ đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 10/2008;
- “Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng và những vướng
mắc trong thực tiễn áp dụng” của tác giả Nguyễn Văn Trượng đăng trên tạp chí
Dân chủ và pháp luật, số tháng 9/2010;
- “Một số vấn đề về các loại nguồn chứng cứ” của tác giả Trịnh Tiến Việt
và Trần Thị Quỳnh, tạp chí Kiểm sát, số 12/2005;
- “Hoàn thiện quy định về vật chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam” của tác giả Thái Chí Bình đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
17/2012.
…
Có thể thấy rằng số lượng các công trình khoa học nghiên cứu về chế định
vật chứng còn khá hạn chế. Về mặt nội dung các công trình nghiên cứu trên chỉ
mới dừng lại ở việc nghiên cứu một vấn đề cụ thể về vật chứng: hoặc là chỉ nghiên
cứu về lý luận hoặc là chỉ về nghiên cứu về thực tiễn thực hiện các quy định về vật
chứng; hoặc là chỉ nghiên cứu các vướng mắc về việc thu thập, bảo quản, xử lý vật
chứng trong một vài vụ án cụ thể… chưa có công trình nghiên cứu nào tổng hợp
các vướng mắc, bất cập về vật chứng cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Vì
vậy, việc tiếp tục nghiên cứu toàn diện vấn đề này không trùng lặp với các đề tài
sự;
5
+ Phân tích, đánh giá các quy định về vật chứng trong BLTTHS năm 2003,
chỉ ra các hạn chế, bất cập cần được hoàn thiện.
+ Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động thu thập, bảo quản, xử lý vật
chứng trong tố tụng hình sự, qua đó tìm ra những hạn chế, nguyên nhân của những
hạn chế về mặt lý luận và thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTHS năm
2003 về vật chứng.
+ Đưa ra giải pháp hoàn thiện quy định về vật chứng trong tố tụng hình sự.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vật chứng trong tố tụng
hình sự;
- Phân tích các quy định về vật chứng trong tố tụng hình sự, làm rõ thực
trạng hoạt động thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng, nguyên nhân của thực
trạng trên;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiệc quy định về vật chứng trong tố tụng hình
sự.
Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện quy
định về vật chứng trong tố tụng hình sự, góp phần nâng cao nhận thức và áp dụng
pháp luật của các cán bộ, cơ quan THTT trong việc thực hiện các quy định về vật
chứng trong tố tụng hình sự.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài được chia
làm 2 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về vật chứng trong tố tụng hình sự;
- Chương 2: Thực trạng hoạt động thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng
trong TTHS, nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về chế
giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội” [1], [2].
7
Theo quy định của Luật TTHS Liên Bang Nga thì “Vật chứng được coi là
bất kỳ vật nào: 1. Là công cụ phạm tội hoặc mang dấu vết tội phạm; 2. Là đối
tượng tác động của tội phạm; 3. Là những vật hoặc tài liệu khác có thể được coi
là phương tiện để phát hiện tội phạm và xác định những tình tiết của vụ án hình
sự” [3, Điều 81].
Có thể thấy rằng khái niệm vật chứng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
và Luật TTHS Liên Bang Nga có những điểm khá tương đồng đó là chỉ liệt kê các
loại vật chứng theo đó vật chứng là công cụ phạm tội hoặc mang dấu vết tội phạm;
là đối tượng tác động của tội phạm; những vật khác có thể phát hiện tội phạm và
những tình tiết của vụ án hình sự. Việc liệt kê các loại vật chứng dựa này trên
nhiều căn cứ bao gồm: căn cứ vào đặc điểm của việc xuất hiện và tham gia vào
quá trình xảy ra vụ án hình sự (vật chứng bao gồm vật là công cụ, phương tiện
phạm tội; vật là đối tượng của tội phạm; vật mang dấu vết tội phạm); căn cứ vào
giá trị chứng minh của vật chứng (vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và
người phạm tội); căn cứ vào tính chất đặc biệt của vật chứng (tiền bạc và vật
khác). Do cách quy định như trên dẫn đến việc quy định cách xử lý vật chứng có
nhiều bất cập, trùng lặp, chồng chéo… có những quy định về xử lý vật chứng
không rõ ràng gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng.
Khái niệm về vật chứng được đề cập đến trong BLTTHS 2003 của Việt
Nam và Luật TTHS Liên Bang Nga cũng đều có hạn chế đó là chỉ liệt kê các loại
vật chứng chứ chưa làm rõ được bản chất khái niệm vật chứng nghĩa là chưa làm
rõ được các đặc trưng cơ bản của vật chứng. Vì vậy cần thiết phải bổ sung nội
hàm khái niệm vật chứng bên cạnh việc liệt kê các loại vật chứng tại Điều 74
BLTTHS 2003.
quan THTT có thể chứng minh được sự việc hoặc định hướng điều tra vụ án. Vật
chứng có các đặc trưng cơ bản sau:
9
- Vật chứng tồn tại dưới dạng vật thể: Nói cách khác vật chứng là tất cả
những gì tồn tại bên ngoài thế giới khách quan có hình dáng, kích cỡ… có thể xác
định được bằng các giác quan như khứu giác, vị giác, thính giác, xúc giác… Vật
chứng tồn tại khách quan, nó chứa đựng các thông tin, hình ảnh, sự kiện thực tế
xảy ra trong hiện thực, bởi vậy nó không thể thay thế được bằng bất cứ thứ gì
khác. Nói cách khác, vật chứng là chứng cứ mang tính vật chất, nó tồn tại độc lập
và không bị chi phối bởi ý thức chủ quan của con người, nó phản ánh một cách
khách quan những gì tác động lên nó. Tuy nhiên, vật chứng tồn tại trong thế giới
khách quan, là một dạng vật chất nên có thể bị tác động từ môi trường bên ngoài
làm thay đổi hình dạng, kích thước, mùi vị… làm mất đi giá trị ban đầu của vật
chứng. Nó cũng có thể bị con người tác động như bị thay đổi, đánh tráo, làm giả…
Do vậy, vật chứng cần được thu thập, bảo quản theo trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định tránh làm thay đổi, mất mát, hư hỏng làm mất đi giá trị chứng minh của
vật chứng, làm ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án.
- Vật chứng chứa đựng và phản ánh những thông tin, sự kiện thực tế liên
quan đến vụ án, sự liên quan này có thể ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp nhưng
quan trọng phải nằm trong mối liên hệ tổng thể giữa các nội dung, vấn đề của vụ
án hình sự và bao gồm những điển hình sau:
+ Vật chứng là vật dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội: khái niệm
công cụ, phương tiện phạm tội đã được đề cập nhiều trong BLHS. Tuy nhiên
BLTTHS chưa có điều luật cụ thể nào đưa ra định nghĩa pháp lý về nó. Hiện nay
trong các giáo trình Luật hình sự của các cơ sở đào tạo ngành Luật đều có định
nghĩa chung về công cụ, phương tiện phạm tội như sau: Công cụ phạm tội là đối
tượng vật chất mà người phạm tội sử dụng để tác động lên đối tượng tác động qua
+ Vật chứng là những vật mang dấu vết tội phạm: Dấu vết tội phạm là
những phản ánh vật chất do tội phạm gây ra được lưu giữ trên các đồ vật khác
nhau như quần áo dính máu trong vụ án giết người, cánh tủ mang dấu vân tay của
người cậy phá… Dấu vết tội phạm có thể tồn tại ở các dạng rắn, lỏng, khí, mùi vị,
11
âm thanh, ánh sáng, từ trường, điện trường. Tuy nhiên không phải bất kỳ hành vi
phạm tội nào cũng đều gây ra dấu vết trên các vật thể; có những “dấu vết” tuy nó
tồn tại trong môi trường xung quanh nhưng chúng không thể để lại dấu vết trên
các vật. Ví dụ như từ trường, điện trường, mùi vị, ánh sáng. Để thu được những
dấu vết này phải sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật và sau đó được
chuyển thành chứng cứ pháp lý thông qua các phương tiện khác. Ví dụ như máy
đo nồng độ cồn trong máu người gây tai nạn giao thông, dụng cụ hút và lưu giữ
mùi vị tại hiện trường vụ án, máy ghi âm cường độ âm thanh, máy đo cường độ
ánh sáng… Tuy những máy móc này lưu giữ các dấu vết của tội phạm nhưng
chúng ta không thể coi là vật chứng được. Trong trường hợp này để đảm bảo kết
quả thu lượm dấu vết tại hiện trường có giá trị chứng minh thì CQĐT phải chuyển
hóa thành các chứng cứ thông qua các dạng biên bản như: biên bản khám nghiệm
hiện trường, biên bản thu giữ mẫu vật, biên bản xác minh, biên bản giám định; các
loại biên bản này tuy có giá trị chứng minh nhưng cũng không được coi là vật
chứng.
+ Vật chứng là đối tượng của tội phạm: Đó là đồ vật, tài sản bị hành vi
phạm tội tác động tới gây nên sự biến đổi về vị trí, hình dáng, kích thước, tính
chất… Ví dụ như chiếc ti vi trong vụ trộm cắp là đối tượng của hành vi trộm cắp;
hàng cấm là đối tượng của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán hàng cấm;
tài sản bị hư hỏng là đối tượng của hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản; hàng hóa trong tội buôn lậu… Vật là đối tượng của tội phạm cũng có thể là
vật mang dấu vết của tội phạm; tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể và vai trò chứng
quá nhiều vật chứng thuộc loại này vì dễ gây nên sự mâu thuẫn, trùng lặp trong
việc đánh giá, sử dụng cũng như việc xử lý vật chứng.
- Vật chứng được các chủ thể có thẩm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định: Vật chứng là một trong những nguồn chứng cứ theo quy
định của pháp luật, do vậy, nó chỉ có thể được các chủ thể có thẩm quyền thu thập
theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nếu vật chứng được thu thập bởi các
13
chủ thể khác ngoài các chủ thể được quy định trong BLTTHS thì nó không đáp
ứng đặc điểm của chứng cứ đó là tính hợp pháp, nó sẽ không được công nhận là
chứng cứ và như vậy, vật chứng đó sẽ không được sử dụng trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự.
- Vật chứng có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội và các tình tiết
khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án: Vật chứng là một trong những
nguồn chứng cứ quan trọng, nó chứa đựng những thông tin có tác dụng làm rõ
việc có tội phạm xảy ra hay không, chỉ ra mối liên hệ giữa thủ phạm và nạn nhân
hay hiện trường vụ án, vật chứng cũng có thể được dùng để tìm ra những người có
liên quan đến vụ án, có thể minh oan cho người vô tội, dùng để kiểm tra tính trung
thực trong lời khai của người bị hại và những người khác… vì vậy vật chứng còn
được gọi là “nhân chứng câm” [14, tr. 96].
1.2. Vai trò của vật chứng trong tố tụng hình sự
- Đối với Cơ quan THTT: Vật chứng là căn cứ quan trọng, đáng tin cậy giúp
Cơ quan THTT nhận định, phán đoán về diễn biến, đánh giá tính chất của hành vi
phạm tội, âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của kẻ phạm tội, đề ra
phương hướng, kế hoạch điều tra, truy tố, xét xử vụ án.
- Đối với việc giải quyết vụ án: Vật chứng là một trong những nguồn chứng
cứ quan trọng có giá trị đặc biệt trong quá trình chứng minh vụ án hình sự. Thông
qua vật chứng có thể chứng minh có vụ án hình sự xảy ra hay không; thông qua
chia vật chứng thành các loại như: vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc dễ bị phân
hủy, vật chứng thuộc loại tài sản có thời hạn sử dụng ngắn…
15
* Căn cứ vào tính chất đặc biệt của vật chứng người ta chia vật chứng
thành vật chứng là tiền vàng, kim khí quý, đá quý… và vật chứng là tài sản thông
dụng.
Tóm lại, việc phân chia vật chứng theo căn cứ nào tùy thuộc vào mục đích
của việc phân chia để từ đó tìm kiếm biện pháp thu thập thích hợp, để bảo quản tốt
hoặc để đánh giá, xử lý vật chứng.
1.4. Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng theo quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003
1.4.1. Thu thập vật chứng
Thu thập vật chứng là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền phát hiện, thu
giữ các đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án theo trình tự, thủ tục mà pháp luật
TTHS quy định. Vật chứng tồn tại dưới dạng vật chất nên tính khách quan của nó
rất cao, vì vậy nó có giá trị đặc biệt trong việc chứng minh vụ án hình sự, tuy
nhiên vật chứng lại dễ bị tác động bởi các điều kiện tự nhiên làm thay đổi giá trị
chứng minh ban đầu của vật chứng, dễ bị mất mát, thất lạc, bị làm giả, làm sai
lệch…
Do các đặc điểm trên nên pháp luật TTHS quy định thủ tục thu thập, bảo
quản vật chứng rất chặt chẽ.
Về thẩm quyền thu thập vật chứng: Điều 56 BLTTHS 1988 và Điều 75
BLTTHS 2003 đều không quy định trực tiếp thẩm quyền thu thập vật chứng
nhưng có thể gián tiếp hiểu rằng vật chứng được coi là một nguồn của chứng cứ,
vì vậy, những chủ thể có thẩm quyền thu thập chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều
65 BLTTHS 2003 cũng có thẩm quyền thu thập vật chứng, theo đó, chủ thể có
thẩm quyền thu thập vật chứng là CQĐT, VKS, Tòa án.
Biên bản phải mô tả đúng thực trạng của vật chứng: tên vật, đặc điểm, màu
sắc, chủng loại, số lượng, trọng lượng, chất lượng… Đối với vật chứng là tài sản
(kể cả giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản) cần được thu thập kịp thời,
17
đầy đủ, mô tả đúng thực trạng vào biên bản về tên, mác, mã số, ký hiệu, số lượng,
trọng lượng, chất lượng, màu sắc, hình dáng vào biên bản thu giữ, tạm giữ và đưa
vào hồ sơ vụ án.
Nếu vật chứng do cơ quan, tổ chức, công dân mang đến nộp cho cơ quan
THTT thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản thu giữ và lấy lời khai của người đã
nộp (cần làm rõ việc họ phát hiện được ở đâu, vào thời gian nào, có ai biết, có thể
bị đổi tráo gì không…).
Các biện pháp thu thập vật chứng:
- Sao in dấu vết được áp dụng đối với loại dấu vết in trên bề mặt của vật;
- Đúc khuôn dấu vết dùng để thu dấu vết có hình khối;
- Bơm hút khí, hút chất lỏng dùng để thu các dấu vết là các chất lỏng, khí…
- Có thể chụp ảnh, ghi hình đối với những trường hợp vật chứng không thể
đưa vào hồ sơ vụ án. Đây là một điểm mới tiến bộ hơn so với BLTTHS 1988 (chỉ
có thể chụp ảnh vật chứng để đưa vào hồ sơ vụ án).
1.4.2. Bảo quản vật chứng
Để phục vụ tốt cho hoạt động giải quyết vụ án hình sự, vật chứng cần được
bảo quản theo đúng quy định của pháp luật TTHS. Bảo quản vật chứng là việc giữ
cho tính nguyên vẹn của vật chứng không bị mất mát, hư hỏng, biến dạng, sai
lệch, đổi tráo, sử dụng trái phép… Việc bảo quản vật chứng cần được quan tâm
ngay từ khi thu thập nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của vật chứng.
Trách nhiệm bảo quản vật chứng: Trách nhiệm bảo quản vật chứng được
quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 75 BLTTHS 2003, theo đó đối với vật chứng
đưa về cơ quan THTT bảo quản thì cơ quan Công an có trách nhiệm bảo quản vật
nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 300 của BLHS; nếu gây thiệt hại thì phải bồi
thường theo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc bảo quản: Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không
được làm mất mát, hư hỏng, không được đưa vật chứng ra sử dụng ngoài mục đích
giải quyết vụ án hình sự. Việc bảo quản vật chứng phải tuân theo quy định của
19
pháp luật. Vật chứng phải được để ở nơi có phương tiện bảo quản chắc chắn, tùy
thuộc vào đặc điểm của từng loại vật chứng.
Biện pháp bảo quản: Nếu như trước đây BLTTHS 1988 chỉ quy định chung
chung về bảo quản vật chứng đó là “vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn,
không để mất mát, lẫn lộn, hư hỏng… vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý,
đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ phải được giám định
ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại ngân hàng hoặc tại các
cơ quan chuyên trách khác” (khoản 2 Điều 57 BLTTHS 1988); thì BLTTHS 2003
đã quy định cụ thể cách bảo quản phù hợp với đặc điểm của từng loại vật chứng.
Cách quy định này sẽ đảm bảo cao nhất tính nguyên vẹn của vật chứng, đảm bảo
giá trị chứng minh của vật chứng nhằm giúp việc giải quyết vụ án một cách tốt
nhất. Theo quy định tại khoản 2 Điều 75 BLTTHS 2003 thì việc niêm phong, bảo
quản vật chứng được thực hiện như sau:
- Đối với vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi
thu thập. Việc niêm phong, mở niêm phong phải được tiến hành theo quy định của
pháp luật và phải lập biên bản để đưa vào hồ sơ vụ án;
- Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất
cháy, chất độc, chất phóng xạ phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải
chuyển ngay để bảo quản tại ngân hàng hoặc các cơ quan chuyên trách khác;
- Đối với vật chứng không thể đưa về cơ quan THTT để bảo quản thì cơ
quan THTT giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài
chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì Viện kiểm sát quyết định xử
lý vật chứng;
Tòa án hoặc Hội đồng xét xử quyết định xử lý vật chứng ở giai đoạn xét xử.
Phương thức xử lý vật chứng:
21
Phương thức xử lý vật chứng được quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 76 của
BLTTHS 2003. So với quy định của BLTTHS 1988 thì BLTTHS 2003 quy định
thêm cách xử lý đối với loại hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản.
- Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch
thu, sung quỹ Nhà nước hoặc bị tiêu hủy: Đối với loại vật chứng này, Luật chỉ quy
định chung chung biện pháp xử lý là tịch thu, sung quỹ nhà nước hoặc tiêu hủy mà
không quy định những loại vật chứng này thuộc sở hữu của ai? Trường hợp nào
thì vật chứng bị tịch thu, sung quỹ? Trường hợp nào thì vật chứng bị tịch thu, tiêu
hủy? Luật cũng không quy định rõ ràng thế nào là “vật cấm lưu hành” bởi liên
quan đến khái niệm này còn có các khái niệm khác gần nghĩa như “hàng cấm”,
“hàng cấm lưu thông”, “vật cấm lưu thông”. Vì vậy, cần thiết phải có hướng dẫn
cụ thể trường hợp nào thì phải tịch thu, sung quỹ nhà nước, trường hợp nào thì tịch
thu, tiêu hủy vật chứng; quy định rõ thế nào là “vật cấm lưu hành”.
- Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu Nhà nước, tổ chức, cá nhân
bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả
lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định
được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ nhà nước.
Đối với trường hợp này phát sinh các vấn đề sau:
Thứ nhất, điểm b khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2003 quy định việc trả lại
những vật chứng thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội
dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho họ nhưng không đề cập đến
lỗi của các chủ thể này trong việc để những vật chứng đó tham gia vào việc phạm
- Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu
hủy. Hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn thế nào là vật chứng không có giá trị hoặc
không sử dụng được nên dẫn đến cách xử lý còn tùy tiện, không thống nhất.
- Khoản 3 Điều 76 BLTTHS 2003 quy định trong quá trình điều tra, truy tố,
xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 76 BLTTHS có quyền