Những vấn đề pháp lý cơ bản về góp vốn thành lập doanh nghiệp - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ THỊ THÌN

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ GÓP VỐN
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Thị Dung

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến TS. Nguyễn
Thị Dung đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo, người
đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học
vừa qua.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học,
Khoa pháp luật kinh tế trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi
trong quá trình học tập.


MỞ ĐẦU

Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 6
1.1.

Khái niệm, bản chất của góp vốn và hành vi góp vốn

1.1.1.

Khái niệm vốn góp và hành vi góp vốn

1.1.1.1. Khái niệm vốn góp

6
6
6

1.1.1.2. Khái niệm hành vi góp vốn

10

1.1.2.

Bản chất pháp lý của góp vốn thành lập doanh nghiệp

12

1.2.


2.1.

Quy định hiện hành của pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp 23
ở Việt Nam

2.1.1.

Chủ thể góp vốn

23

2.1.2.

Tài sản góp vốn

27

2.1.2.1. Xác định loại tài sản được dùng để góp vốn vào công ty

27

2.1.2.2. Xác định giá trị của tài sản góp vốn vào công ty

29

2.1.3.

35

Hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp


48

2.1.4.2.1. Định giá tài sản góp vốn

48

2.1.4.2.2. Chuyển quyền sở hữu tài sản

49

2.1.4.2.3. Cấp giấy chứng nhận vốn góp

50

2.1.5.

Xử lý vi phạm nghĩa vụ góp vốn

51

2.2.

Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam về

54

góp vốn thành lập doanh nghiệp



Việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp
3.2.2. Các giải pháp thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam

66

về góp vốn thành lập doanh nghiệp
KẾT LUẬN

69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

72


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thành lập doanh nghiệp, góp vốn là khâu có ảnh hưởng lớn
không chỉ đến quyền lợi của các thành viên trong công ty mà còn ảnh hưởng tới
sự hoạt động của công ty sau khi thành lập. Vì vậy, để tạo môi trường pháp lý
lành mạnh, an toàn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, pháp luật doanh
nghiệp được chú trọng xây dựng và từng bước hoàn thiện, Luật doanh nghiệp
2005 đã có những quy định điều chỉnh quan hệ góp vốn thành lập doanh nghiệp.
Tuy nhiên, pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp hiện nay còn nhiều hạn
chế chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đời sống, chưa thật sự là hành lang pháp
lý an toàn khả thi cho các doanh nghiệp và người góp vốn. Mặt khác thực tiễn thi
hành pháp luật cũng còn rất nhiều vấn đề phải bàn. Để phát huy vai trò của pháp
luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu làm

nhiều vấn đề vẫn chưa được giải quyết một cách toàn diện. Mặt khác, thực tiễn
áp dụng pháp luật góp vốn thành lập doanh nghiệp hiện nay còn khá nhiều bất
cập vì pháp luật chưa hợp lý, đồng bộ phần vì thiếu kiến thức lý luận và thực
tiễn. Như vậy, có thể nói rằng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu
khoa học pháp lý nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống
những vấn đề pháp lý về góp vốn thành lập doanh nghiệp trong bối cảnh hiện
nay của Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và lý luận, dựa trên những chủ trương, đường
lối, chính sách xây dựng kinh tế - xã hội Việt Nam để nhằm tới mục tiêu "dân


3

giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", luận án đặt mục đích
nghiên cứu là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về góp vốn thành lập doanh
nghiệp, đánh giá đúng được thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về
góp vốn thành lập doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện chúng trong việc thành
lập các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, từ đó cũng tìm ra những tồn tại, hạn
chế và đề xuất những giải pháp hoàn thiện, thực hiện các quy định của pháp luật
về góp vốn thành lập doanh nghiệp.
Từ mục đích đó, luận án xác định các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về góp vốn thành lập
doanh nghiệp như khái niệm, bản chất vốn góp và hành vi góp vốn.
- Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập doanh
nghiệp, phân tích sự phát triển các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan
hệ góp vốn thành lập doanh nghiệp Việt Nam, phân tích các quy định pháp lý
hiện hành về góp vốn thành lập doanh nghiệp và nêu ra thực tiễn thực hiện các
quy định pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp. Đồng thời đưa ra các
nhận xét và đánh giá về thực trạng pháp luật góp vốn thành lập doanh nghiệp

sánh pháp luật, phương pháp đối chiếu, diễn giải, quy nạp… để thực hiện các
nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Với mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể, trong một phạm vi nhất định, luận án có
những điểm mới cơ bản sau:


5

- Luận án là công trình nghiên cứu một cách bao quát, có hệ thống lý luận cơ
bản về pháp luật góp vốn thành lập doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam.
- Luận án đã nhận xét và đánh giá một cách khái quát pháp luật hiện hành về
góp vốn thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam.
- Trong phần kiến nghị những phương hướng và giải pháp chủ yếu, luận án đã
đưa ra được những phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp
luật và thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập
doanh nghiệp.
- Luận án có những điểm đáng lưu ý nhất đã phân tích được hạn chế của các
quy định góp vốn thành lập doanh nghiệp hiện hành và những bất cập hiện
nay trong thực tiễn áp dụng pháp luật góp vốn thành lập doanh nghiệp.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận án
được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Khái luận về góp vốn thành lập doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp ở
Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện và thực hiện các quy định của
pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp



vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào
của quá trình sản xuất.
-

Trong cuốn kinh tế học của David Begg cho rằng “Vốn được phân

chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”. Như vậy ông đã
đồng nhất vốn với tài sản doanh nghiệp. Trong đó:
 Vốn hiện vật: là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất mà sử dụng để sản
xuất ra các hàng hóa khác.
 Vốn tài chính: là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp
Ngoài ra có nhiều quan niệm khác nhau về vốn nhưng mọi quá trình sản xuất
kinh doanh đều có thể khái quát thành:
T…….H (TLLĐ, TLSX) ……..SX……..H’……..T’
Để có các yếu tố đầu vào (TLLĐ, TLSX) phục vụ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền ứng
trước này gọi là vốn của doanh nghiệp. Vậy “vốn của doanh nghiệp biểu hiện
bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận.”
Ở Việt Nam, khái niệm vốn được nghiên cứu, tiếp cận dưới các góc độ
khác nhau.
- Dưới góc độ ngôn ngữ học, vốn là “tổng thể nói chung những tài sản bỏ
ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất kinh doanh, nói
chung trong hoạt động sinh lợi” [22, tr.1087]. Định nghĩa này đã cho ta hình
dung bước đầu về vốn, tuy chưa thật rõ ràng nhưng đã nêu được nguồn gốc của


8

vốn là tổng thể những tài sản bỏ ra ban đầu (thường là tiền) và có chức năng là

nhất định thì mới có thể sử dụng trong kinh doanh với tư cách là vốn. Đối với tài
sản nếu chỉ thuần túy có giá trị và giá trị sử dụng mà không có khả năng chuyển
đổi thành tiền và sử dụng trong kinh doanh thì cũng không có giá trị là vốn. Đối
với các quyền tài sản, nếu không có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt để hạch
toán trong kinh doanh thì không thể dùng để đầu tư cũng không được xem là vốn.
- Xét trên phương diện khoa học, thì quan điểm nêu trên đã nêu ra những
yếu tố cơ bản nhất của vốn góp. Tuy nhiên, nó mắc phải hạn chế là chỉ coi vốn
góp là tiền, tài sản và quyền tài sản trị giá được thành tiền mà quên mất rằng bên
cạnh đó còn có những thứ không phải là tài sản như kinh nghiệm quản lý, hệ
thống khách hàng, thương hiệu… Qua nghiên cứu cho thấy, khái niệm vốn góp
dưới góc độ pháp lý bao gồm các yếu tố sau:
+ Thứ nhất, vốn góp thành lập doanh nghiệp có trước khi diễn ra hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Một quá trình sản xuất kinh doanh sẽ được diễn ra khi có yếu tố: yếu tố vốn,
yếu tố lao động và yếu tố công nghệ. Trong ba yếu tố đó thì yếu tố vốn là điều
kiện tiền đề có vai trò rất quan trọng. Nó quyết định đầu tiên việc sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp có thành công hay không. Khi tiến hành sản xuất, doanh
nghiệp cần phải có một lượng vốn để mua nguyên liệu đầu vào, thuê công nhân,
mua thông tin trên thị trường, mua bằng phát minh sáng chế...Bởi vậy, có thể nói
vốn là điều kiện đầu tiên cho yếu tố cầu về lao động và công nghệ được đáp ứng
đầy đủ. Nếu thiếu vốn việc kinh doanh của doanh nghiệp rất dễ dẫn đến thất bại.


10

+

Thứ hai, vốn góp của doanh nghiệp là quỹ tiền tệ đặc biệt vì nó nhằm

phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và phải đạt đến mục tiêu sinh lời.

sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công
ty”. Định nghĩa này cho phép giải thích hành vi góp vốn theo nghĩa hẹp với nội
hàm là hoạt động có chủ ý của người có tài sản, trực tiếp chuyển tài sản của
mình sang cho công ty để sử dụng vào mục đích kinh doanh để trở thành chủ sở
hữu hoặc đồng sở hữu của công ty đó. Chủ sở hữu hoặc các đồng chủ sở hữu này
còn được gọi là thành viên công ty.
Như vậy, có thể hiểu hành vi góp vốn vào công ty là việc một cá nhân hay tổ
chức chuyển dịch tài sản của mình (tiền, tài sản và quyền tài sản) theo một trình
tự, thủ tục nhất định vào công ty và theo đó được hưởng các quyền và nghĩa vụ
phát sinh từ việc góp vốn.
“Bản chất của quan hệ góp vốn là “sự hùn vốn” giữa các thành viên với
nhau và dẫn đến sự chi phối, chia sẻ lợi ích giữa những người cùng góp vốn”
[6]. Việc góp vốn là cơ sở cho việc tạo lập một thực thể pháp lý mới là công ty.
Khi thực hiện góp vốn, các chủ sở hữu vốn chuyển giao quyền sở hữu của mình
cho công ty để trở thành để trở thành thành viên công ty và được nhận phần
quyền lực trong công ty. Mức độ quyền lực của họ tùy thuộc vào tỷ lệ phần vốn
góp, năng lực trình độ quản lý, khả năng kinh doanh và uy tín của họ trong công
ty. Như vậy, hành vi góp vốn đã làm thay đổi tình trạng pháp lý đối với tài sản
của chủ sở hữu. Tài sản thuộc sở hữu cá nhân hay tổ chức được góp vốn theo
những phương thức nhất định đã được chuyển dịch thành tài sản thuộc sở hữu


12

của công ty. Thực hiện xong hành vi góp vốn, họ được hưởng quyền thành viên
tương ứng với phần vốn mà họ góp vào công ty. Công ty với tư cách chủ sở hữu,
có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình. Là
một thực thể pháp lý độc lập, công ty là chủ thể quyền sở hữu tài sản của công ty.
Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật cũng ghi nhận hành vi “góp vốn” còn được
thực hiện theo cách thức khác, khi xảy ra sự kiện pháp lý khác làm hình thành tư


chuyển tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các đồng sở hữu công ty
tức là chuyển giao các quyền tài sản đối với tài sản là vốn góp để đổi lấy quyền
lợi trong công ty có giá trị tương ứng với phần vốn góp. Theo các quy định của
pháp luật, chủ sở hữu phần vốn góp (người góp vốn) có các quyền sau:
 Quyền tài chính: được phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp tương ứng
với tỷ lệ giá trị phần vốn góp; gánh chịu phần lỗ tương ứng với tỷ lệ giá trị phần
vốn góp nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ khi đang hoạt động cũng như khi
doanh nghiệp kết thúc hoạt động; nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ
phần vốn góp sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ của doanh nghiệp khi doanh
nghiệp bị giải thể, phá sản.
 Quyền phi tài chính như quyền biểu quyết trong doanh nghiệp khi có các
vấn đề cần lấy ý kiến biểu quyết, quyền thông tin các vấn đề liên quan đến hoạt
động kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp như xem sổ sách kế toán và hồ sơ
khác của doanh nghiệp.
Ngoài ra, phần vốn góp với tư cách là một tài sản có giá trị tiền tệ nên chủ
sở hữu được tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, việc chuyển
giao này bị hạn chế bởi một số quy định theo Luật Doanh nghiệp nhằm bảo đảm
sự hoạt động lành mạnh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.


14

Như vậy, phần vốn góp là một tài sản đặc biệt, được hình thành thông qua
việc góp vốn vào doanh nghiệp và tồn tại song song với sự tồn tại của doanh
nghiệp. Phần vốn góp không phải là tài sản cụ thể như những tài sản khi đem
góp vốn.
Trên thực tế, việc góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ tạo
nên quy chế pháp lý khác nhau đối với người góp vốn. Với vai trò là đạo luật ghi
nhận các mô hình kinh doanh, việc tạo lập nên sự phong phú của các mô hình là

động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh…và Điều 9 Luật
Doanh nghiệp quy định cụ thể nghĩa vụ công ty như hoạt động kinh doanh theo
đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm
điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề
kinh doanh có điều kiện, tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính
trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán…
Như vậy, việc góp vốn đã tạo ra một thực thể độc lập là công ty, nó có các
quyền và nghĩa vụ pháp lý độc lập với các thành viên góp vốn và tự chịu trách
nhiệm bằng chính tài sản của mình khi tham gia vào các quan hệ xã hội.
1.2.2 Hệ quả đối với những người góp vốn
Khi đã góp hoặc cam kết góp vốn thành lập doanh nghiệp các thành viên đã
tự ràng buộc mình vào các nghĩa vụ và quyền lợi nhất định từ việc góp vốn đó.
Hệ quả pháp lý của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp đối với những người
góp vốn có thể được xem xét dưới hai khía cạnh là quyền lợi và nghĩa vụ tương
ứng với phần vốn góp.


16

Trước pháp luật, danh sách thành viên công ty trong hồ sơ đăng ký kinh
doanh là văn bản pháp lý xác nhận tư cách thành viên công ty của người góp
vốn, không phụ thuộc vào thời điểm hoàn thành nghĩa vụ góp vốn của họ. Kể từ
thời điểm công ty được thành lập và hoạt động, quyền và nghĩa vụ của thành
viên công ty đã hình thành.
Xem xét dưới khía cạnh quyền lợi thì khi góp vốn thành lập doanh nghiệp,
người góp vốn được hưởng những quyền lợi nhất định từ việc góp vốn đó đó là
các quyền tài chính và quyền phi tài chính như đã nêu ở trên.
Xem xét dưới khía cạnh nghĩa vụ, khoản 1 Điều 39 Luật doanh nghiệp đã
quy định rõ nghĩa vụ góp vốn của thành viên công ty: “Thành viên phải góp vốn
đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản góp vốn như đã cam kết. Trường hợp thành

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam (tháng
06/1991) đã có một bước tiến đáng kể trong chủ trương phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần. Nghị quyết Đại hội đã chỉ rõ: “Mọi người được tự do kinh
doanh theo pháp luật, được bảo vệ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp”; “mọi
đơn vị kinh tế không phân biệt quan hệ sở hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ
kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật”; “kinh
tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động
trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”; “Nhà nước thực hiện nhất
quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối xử, không tước
đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hóa tư liệu sản xuất, không áp đặt
hình thức kinh doanh, khuyến khích các hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh”
[1, tr.36].


18

Đồng thời với những đổi mới tư duy về khuyến khích phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, về phương diện pháp lý, cuối năm 1990, tại kỳ họp thứ 2 Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII đã thông qua hai đạo
luật quan trọng, đó là Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân. Các đạo luật
này có hiệu lực từ ngày 15/04/1991 đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình
thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân trong
nước, thể hiện một số nội dung quan trọng sau đây.
Một là, luật định nghĩa doanh nghiệp theo nội dung về cơ bản phù hợp với
kinh tế thị trường.
Theo khoản 1,2 Điều 3 Luật công ty, doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh
được thành lập chủ yếu nhằm mục đích sinh lợi. Cũng tương tự như vậy đối với
“doanh nghiệp tư nhân”; “công ty trách nhiệm hữu hạn”; và “công ty cổ phần”.
Điều 2 Luật doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh
có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu

2000 doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân chỉ được thành lập khi Ủy
ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, nơi doanh nghiệp đóng trụ
sở chính, cho phép. Công việc xin phép thành lập doanh nghiệp rất phức tạp, tốn
kém cả thời gian và tiền bạc. Vào thời kỳ đó, hoàn thành thủ tục thành lập một
doanh nghiệp trung bình mất khoảng 6 tháng và tốn hơn 1.000 USD, bằng
khoảng 3 – 4 lần thu nhập bình quân đầu người. Sau khi thành lập, doanh nghiệp
cũng chỉ được quyền kinh doanh những gì mà cơ quan nhà nước cho phép. Vì
vậy, mọi sự thay đổi liên quan đến doanh nghiệp như thay đổi về vốn, ngành,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status