BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐINH ĐỒNG VANG
QUYỀN CỦA CHỦ SỞ HỮU NHÃN HIỆU
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Vũ Thị Hải Yến
HÀ NỘI – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu, thông tin nêu
trong Luận văn là trung thực. Những kết
luận khoa học của Luận văn không sao chép
từ bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đinh Đồng Vang
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ QUYỀN CỦA CHỦ
SỞ HỮU NHÃN HIỆU
1.1. Khái quát chung về nhãn hiệu…………………………………...
5
1.1.1. Khái niệm và điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu……………
5
1.1.2. Các loại nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam…………………
6
1.1.3. Chức năng cơ bản của nhãn hiệu……………………………...
7
1.2. Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu…………………………………………………………………….
8
1.2.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu……
10
1.2.2. Đặc điểm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu……..
11
19
2.1.2. Quyền cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu......................
20
2.1.3. Quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu.....................
23
2.1.4. Quyền định đoạt nhãn hiệu.......................................................
33
2.2. Quy định của pháp luật về giới hạn quyền của chủ sở hữu
nhãn hiệu...............................................................................................
34
2.2.1. Nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu.....................................................
34
2.2.2. Hành vi sử dụng nhãn hiệu một cách trung thực không bị
coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu…………………………...
37
2.2.3. Hết quyền đối với nhãn hiệu…………………………………..
3.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của chủ sở hữu
nhãn hiệu................................................................................................
55
3.1.2.1. Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu...............................................................................................
56
3.1.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về các biện pháp bảo vệ quyền
của chủ sở hữu nhãn hiệu…………………………………………….
59
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng
cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định pháp luật về quyền
của chủ sở hữu nhãn hiệu......................................................................
65
3.2.1. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về
quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu..........................................................
65
3.2.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng
pháp luật về quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu...................................
hữu trí tuệ rất lớn và không ngừng tăng trong những năm gần đây. Tuy nhiên, cần phải
nhìn nhận một thực tế rằng, mặc dù các doanh nghiệp của chúng ta đã bắt đầu quan tâm
đến các vấn đề về sở hữu trí tuệ mà cụ thể là các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu, song,
kiến thức và sự hiểu biết của họ liên quan đến quyền sở hữu nhãn hiệu còn vô cùng hạn
chế. Hầu hết các doanh nghiệp chưa hiểu hết được rằng việc Nhà nước ghi nhận quyền sở
hữu đối với nhãn hiệu sẽ đồng nghĩa với việc họ được trao những quyền năng gì? Phạm
vi từng quyền năng cụ thể của họ đến đâu và họ có quyền làm gì để bảo vệ những quyền
năng đó của mình? Chính sự thiếu hiểu biết này dẫn đến việc nhiều chủ thể dù nắm quyền
2
sở hữu nhãn hiệu trong tay nhưng lại không dám khai thác triệt để quyền năng đó, ảnh
hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, đánh mất lợi thế cạnh tranh với đối
thủ. Trong khi đó, các chủ thể sản xuất, kinh doanh khác vì thiếu hiểu biết quyền hạn của
chủ thể khác đã vô tình có những hành vi xâm phạm những quyền năng đó dẫn đến việc
phải gánh chịu những hậu quả pháp lý không đáng có. Còn các cơ quan thực thi pháp luật
không thể tiến hành xử lý hành vi xâm phạm một cách triệt để, ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu, cản trở sự phát triển chung của nền kinh tế, xã
hội.
Xuất phát từ những lý do trên, thiết nghĩ việc đi sâu nghiên cứu đề tài “Quyền của
chủ sở hữu nhãn hiệu theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam” là vấn đề
cấp thiết, nhằm phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành
về những quyền năng pháp luật cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu được tiến hành, phạm vi
giới hạn các quyền năng đó cũng như các biện pháp bảo vệ quyền của chủ sở hữu nhãn
hiệu. Thông qua đó, giúp các chủ thể sản xuất, kinh doanh có được cái nhìn rõ hơn về
những vấn đề này, vận dụng chúng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách hợp
pháp và hợp lý, tăng hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tránh được những hậu quả
pháp lý đáng tiếc, nâng cao được vị thế, sức cạnh tranh trên thị trường, đồng thời góp
phần tạo ra một thị trường phát triển lành mạnh, bền vững.
pháp sưu tầm, phân tích, đánh giá số liệu, nghiên cứu, tìm hiểu thực tế và từ đó rút ra các
nhận xét, đánh giá.
5. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn nghiên cứu đề tài này, tác giả nhằm mục đích:
- Giúp cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, đặc biệt là các chủ thể quyền sở hữu nhãn
hiệu có được cái nhìn tổng quát và rõ ràng về nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, phạm vi giới hạn quyền
mà các chủ thể được phép tiến hành cũng như các biện pháp pháp lý pháp luật quy định
để bảo vệ quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu.
- Có được cái nhìn tổng quan về thực trạng các quy định của pháp luật điểu chỉnh
các vấn đề liên quan đến quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu, bức tranh tổng thể về việc thực
hiện các quy định của pháp luật của các chủ thể quyền cũng như thực trạng việc xâm
4
phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay và công tác bảo
vệ các quyền năng đó.
- Đề ra một số giải pháp mang tính định hướng chung nhằm nâng cao hiệu quả của
việc áp dụng các quy định pháp luật về quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu. Cần lưu ý rằng
đây chỉ là những kiến nghị mang tính định hướng. Các giải pháp cụ thể cho từng vấn đề
thiết nghĩ cần phải có sự nghiên cứu, góp ý kỹ càng từ các bên liên quan mới mong đề ra
được những giải pháp mang tính thiết thực.
6. Cơ cấu của luận văn
Bên cạnh phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm
3 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về nhãn hiệu và quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu
- Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về quyền
của chủ sở hữu nhãn hiệu
- Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ về quyền
hiệu cho sản phẩm, dịch vụ của mình. Với khái niệm nêu trên, rất nhiều các chủ thể hiểu
rằng họ có thể tùy nghi đăng ký những dấu hiệu bất kỳ theo ý chí của họ. Điều này tạo
nên áp lực và khó khăn cho các cơ quan đăng ký khi phải xem xét, tra cứu, đánh giá
6
những dấu hiệu đó có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu hay không. Do đó, việc quy
định điều kiện để một nhãn hiệu được bảo hộ là vô cùng cần thiết và quan trọng. Điều 72
Luật sở hữu trí tuệ đã quy định cụ thể về vấn đề này. Theo đó: “Nhãn hiệu được bảo hộ
nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả
hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc;
2. Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng
hóa, dịch vụ của chủ thể khác”.
Như vậy, Điều 72 Luật sở hữu trí tuệ đã xác định cụ thể các điều kiện để một dấu
hiệu có thể được bảo hộ là nhãn hiệu. Đây là hành lang pháp lý để các nhà sản xuất, kinh
doanh tạo lập cho mình một nhãn hiệu phù hợp. Theo đó, không phải bất kỳ các dấu hiệu
nào cũng có thể được sử dụng và bảo hộ là nhãn hiệu mà pháp luật đặt ra những yêu cầu
cụ thể đối với chúng. Cụ thể, để được bảo hộ là nhãn hiệu thì trước tiên đó phải là dấu
hiệu nhìn thấy được. Điều này có nghĩa pháp luật Việt Nam chỉ bảo hộ những nhãn hiệu
có thể nhận biết được bằng thị giác. Tiếp đó, nó phải có khả năng phân biệt hàng hóa,
dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau.
1.1.2. Các loại nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam
Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ 2005, có thể thấy hiện nay, pháp luật Việt
Nam thừa nhận có những loại nhãn hiệu sau đây:
- Nhãn hiệu hàng hóa: là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của những người sản xuất
khác nhau.
- Nhãn hiệu dịch vụ: là dấu hiệu để phân biệt dịch vụ do các chủ thể kinh doanh
khác nhau cung cấp.
tín, càng dễ bị người khác lợi dụng để sản xuất hàng giả, hàng nhái. Vì thế nhãn hiệu
không chỉ giúp phân biệt hàng hóa dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau mà còn
giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hóa dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó với hàng giả
hàng nhái.
* Chức năng quảng cáo hoặc tiếp thị
Như đã trình bày ở phần chức năng phân biệt của nhãn hiệu, ngay từ khi hình
thành, nhãn hiệu đã được coi như một hình thức cô đọng và khái quát truyền đạt các
8
thông tin về hàng hóa, dịch vụ, chính bởi vậy, nhãn hiệu được coi như một công cụ
makerting quan trọng truyền đạt đến người tiêu dùng uy tín của hàng hóa, dịch vụ mang
nhãn hiệu. Nhãn hiệu truyền tải một thông điệp về hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất tới
người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng giảm chi phí tìm kiếm. Thông thường, nếu không
có những thông tin mà nhãn hiệu mang đến, người tiêu dùng sẽ phải bỏ ra chi phí cao hơn
để tìm kiếm hàng hóa, dịch vụ theo mong muốn. Song, với nhãn hiệu, người tiêu dùng
hoàn toàn có thể biết được hàng hóa, dịch vụ đó do doanh nghiệp nào cung cấp, chất
lượng ra sao,…mà không cần phải bỏ chi phí cho việc tìm kiếm thông tin cũng như công
sức để tìm hiểu những thông tin đó. Chính thông qua sự phổ biến của nhãn hiệu mà hàng
hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu sẽ ngày càng được quảng bá rộng rãi.
* Chức năng bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ
Do người tiêu dùng có xu hướng sử dụng nhãn hiệu để nhận biết loại hàng hóa,
dịch vụ sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ nên đã tạo ra động lực cho các nhà sản xuất và phân
phối nhằm đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người tiêu dùng về chất lượng sản
phẩm. Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, cách thức cổ điển, an toàn và phổ
biến nhất để giành được sự trung thành của người tiêu dùng đối với một nhãn hiệu cụ thể
thông qua việc duy trì chất lượng ổn định của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Do đó,
việc sử dụng nhãn hiệu có khuynh hướng khuyến khích chủ sở hữu nhãn hiệu duy trì chất
lượng ổn định cho hàng hóa và dịch vụ được chào bán dưới nhãn hiệu của họ. Nhãn hiệu
hữu công nghiệp nói chung không giống như quyền sở hữu đối với những tài sản hữu
hình khác và điều này đã khiến cho quyền sở hữu đối với các đối tượng này mang một
tên gọi riêng, đó là quyền sở hữu công nghiệp, đồng thời nó cũng đòi hỏi cần có những
chế định pháp lý riêng điều chỉnh. Hơn thế nữa, bản thân cách quy định của Luật sở hữu
trí tuệ Việt Nam hiện hành cũng đã nói lên một điều rằng, quan điểm của các nhà lập
pháp Việt Nam thừa nhận khi nhắc đến quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu là nhắc đến
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Cụ thể, Điều 123 của Luật sở hữu trí tuệ
Việt Nam có tiêu đề “Quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp”. Điều này lại
được kết cấu nằm trong Chương IX của Luật có tiêu đề “Chủ sở hữu, nội dung và giới
hạn quyền sở hữu công nghiệp”.
Chính vì những lý do trên đây, trong phạm vi bài nghiên cứu này, thuật ngữ “quyền
10
của chủ sở hữu nhãn hiệu” được hiểu là “quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
của chủ sở hữu nhãn hiệu”.
1.2.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Để hiểu được khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trước hết
phải xuất phát từ khái niệm quyền sở hữu công nghiệp nói chung. Hiện nay, khái niệm
quyền sở hữu công nghiệp có thể được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau và ở mỗi góc
độ lại cho chúng ta một cách hiểu riêng. Cụ thể:
- Hiểu theo nghĩa khách quan: Quyền sở hữu công nghiệp là một chế định pháp
luật bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sáng tạo, sử dụng,
định đoạt các sản phẩm do lao động trí tuệ làm ra trong lĩnh vực công nghiệp. Có thể
thấy, cách hiểu này chủ yếu đề cập và nhấn mạnh đến khía cạnh pháp lý của quyền sở
hữu công nghiệp chứ không quan tâm đề cập đến khía cạnh bản chất hành vi của chủ thể
quyền quyền này.
- Hiểu theo nghĩa chủ quan: Quyền sở hữu công nghiệp là một quyền dân sự cụ thể
nhà nước có thẩm quyền về quyền sở hữu công nghiệp.
Như vậy, từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra một cách hiểu chi tiết hơn về
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu như sau: “Quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu là quyền của tổ chức, cá nhân đối với nhãn hiệu, được xác lập theo những
căn cứ nhất định do pháp luật quy định và được đặc trưng bởi quyền độc quyền sử dụng
và quyền định đoạt đối với nhãn hiệu”.
1.2.2. Đặc điểm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có một số đặc điểm như sau:
- Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu chủ yếu hướng tới việc bảo hộ các
quyền tài sản. Việc khai thác giá trị quyền được thực hiện thông qua hành vi độc quyền
sử dụng nhãn hiệu cũng như ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu. Đây được coi là
quyền năng cơ bản nhất của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Bản thân nhãn
hiệu không tạo ra giá trị mà chúng phải được gắn vào những loại hàng hóa, dịch vụ,
phương tiện hữu hình cụ thể và phát sinh qua quá trình sử dụng, khái thác thương mại các
đối tượng hữu hình này.
12
- Để được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, bản thân nhãn hiệu
với tư cách là đối tượng quyền cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ nhất định. Không
phải bất cứ dấu hiệu nào doanh nghiệp sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ của mình đều là
nhãn hiệu. Trái lại, để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận bảo hộ như một
nhãn hiệu, dấu hiệu đó phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Điều 72 Luật sở hữu trí
tuệ hiện hành đã làm rõ về các dấu hiệu có thể được bảo hộ là nhãn hiệu.
- Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu phát sinh trên những cơ sở nhất
định và hiệu lực của nó được giới hạn trong một khoảng không gian, thời gian nhất định.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thông thường phát sinh trên cơ sở đăng ký.
Quyền này chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của nước nơi văn bằng bảo hộ được cơ
quan có thẩm quyền của nước đó cấp. Thời hạn hiệu lực của quyền sở hữu công nghiệp
trường hợp: (i) Đăng ký nhãn hiệu trong nước và (ii) Đăng ký quốc tế nhãn hiệu.
a, Đăng ký nhãn hiệu trong nước:
Khi nghiên cứu về hình thức xác lập quyền này, những vấn đề cần phải quan tâm
làm rõ đó là: (i) Quyền đăng ký nhãn hiệu; (ii) Cách thức nộp đơn đăng ký xác lập quyền;
(iii) Các nguyên tắc được áp dụng trong thủ tục xác lập quyền; (iv) Thủ tục xử lý đơn
đăng ký xác lập quyền.
* Thứ nhất, về quyền đăng ký nhãn hiệu: Điều 87 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành đã
liệt kê rất rõ các chủ thể có quyền đăng ký nhãn hiệu, theo đó, không phải mọi chủ thể
đều có quyền đăng ký nhãn hiệu. Chỉ những tổ chức, cá nhân được quy định trong Điều
87 Luật sở hữu trí tuệ mới có quyền đăng ký nhãn hiệu. Ngoài việc liệt kê các chủ thể có
quyền đăng ký nhãn hiệu, Điều 87 cũng quy định rõ các điều kiện để hai hay nhiều cá
nhân, tổ chức có thể cùng đăng ký để trở thành đồng chủ sở hữu nhãn hiệu, quyền chuyển
giao quyền đăng ký của các chủ thể quyền cũng như điều kiện đối với các cá nhân, tổ
chức nhận chuyển giao quyền đăng ký.
* Thứ hai, về cách thức nộp đơn đăng ký nhãn hiệu
- Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ
chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam có thể nộp đơn
đăng ký nhãn hiệu trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam4.
- Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài
không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng ký nhãn hiệu thông qua
đại diện hợp pháp tại Việt Nam5.
* Thứ ba, các nguyên tắc được áp dụng trong thủ tục xác lập quyền sở hữu nhãn
hiệu
- Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên: Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người
khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau
4
Khoản 1 Điều 89 Luật sở hữu trí tuệ
5
trí tuệ kiểm tra sơ bộ hồ sơ đơn. Nếu hồ sơ đơn có đủ các tài liệu tối thiểu theo quy định,
Cục sở hữu trí tuệ sẽ đóng dấu nhận đơn vào tờ khai đơn, trong đó ghi số đơn và ngày
nộp đơn.
Sau khi được tiếp nhận, đơn sẽ được thẩm định về mặt hình thức để khẳng định sự
phù hợp hình thức của các tài liệu đơn với các quy định của pháp luật. Thời hạn thẩm
6
Điều 90 Luật sở hữu trí tuệ
15
định về mặt hình thức của đơn là một tháng kể từ ngày đơn được tiếp nhận. Nếu đơn có
thiếu sót, Cục sở hữu trí tuệ sẽ thông báo cho người nộp đơn và trong thời hạn một tháng,
người nộp đơn phải có ý kiến hoặc bổ sung, sửa chữa thiếu sót của đơn. Nếu đơn hợp lệ,
Cục sở hữu trí tuệ sẽ ra thông báo chấp nhận đơn hợp lệ và đơn này sẽ được công bố trên
Công báo sở hữu công nghiệp (do Cục sở hữu trí tuệ phát hành hàng tháng) trong tháng
thứ hai kể từ ngày chấp nhận đơn hợp lệ.
Tất cả các đơn đăng ký nhãn hiệu nếu được công nhận là hợp lệ về mặt hình thức
đều được thẩm định về nội dung. Thời hạn thẩm định đơn nhãn hiệu là chín tháng tính từ
ngày công bố đơn. Căn cứ vào kết quả thẩm định nội dung đơn, nếu nhãn hiệu đáp ứng
điều kiện bảo hộ, Cục sở hữu trí tuệ sẽ cấp văn bằng bảo hộ, ghi nhận vào đăng bạ và
công bố quyết định cấp văn bằng bảo hộ trên Công báo sở hữu công nghiệp.
b, Đăng ký quốc tế nhãn hiệu:
Ngoài hình thức xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thông qua
hình thức nộp đơn đăng ký trực tiếp tại Cục sở hữu trí tuệ như trên, một chủ thể muốn
được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Việt Nam còn có thể tiến
hành đăng ký quốc tế nhãn hiệu thông qua hệ thống Madrid.
Hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu được áp dụng cho công dân của tất
Như vậy, nếu như quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thông thường được
xác lập trên cơ sở đăng ký thì quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng lại
được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó. Một nhãn hiệu được coi
là nổi tiếng thì mặc dù không đăng ký nhưng chủ sở hữu vẫn có quyền chống lại người
khác thực hiện các hành vi bị coi là xâm phạm quyền. Thay vì chứng minh nhãn hiệu
đang được bảo hộ tại Việt Nam bằng cách nộp cho Tòa án giấy chứng nhận đăng ký nhãn
hiệu hoặc quyết định công nhận nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam hay các chứng cứ
khác, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ cung cấp các chứng cứ chứng minh nhãn hiệu của mình là
nổi tiếng.
Để được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng, trước hết phải chứng minh nhãn hiệu
đó được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam7. Các tiêu chí để
xem xét một nhãn hiệu nổi tiếng hay không được quy định tại Điều 75 Luật sở hữu trí
tuệ. Một điều cần lưu ý khi xem xét để công nhận một nhãn hiệu nổi tiếng là: các tiêu chí
được quy định tại Điều 75 Luật sở hữu trí tuệ chỉ là căn cứ đánh giá, xem xét và không
giới hạn ở các tiêu chí đó. Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể sử dụng các tiêu chí khác để
chứng minh nhãn hiệu của mình là nổi tiếng. Hơn nữa, một nhãn hiệu không phải đáp
ứng tất cả các tiêu chí quy định tại Điều 75 mới được coi là nổi tiếng. Tùy từng trường
7
Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ
17
hợp, có thể chỉ cần thỏa mãn một tiêu chí trong số đó cũng có thể coi một nhãn hiệu là
nổi tiếng. Ngoài ra, cũng cần lưu ý, việc công nhận một nhãn hiệu nổi tiếng chỉ được thực
hiện cho từng mục đích và vụ việc cụ thể. Không phải sau khi được công nhận nhãn hiệu
nổi tiếng (để xử lý một vụ việc cụ thể), chủ sở hữu nhãn hiệu có thể sử dụng căn cứ này
cho các mục đích và vụ việc khác.
nhất định liên quan đến nhãn hiệu đó. Về vấn đề nội dung quyền sở hữu công nghiệp nói
chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng, có thể nói, hiện nay,
pháp luật Việt Nam về cơ bản đã có những quy định tương đối đầy đủ và phù hợp với các
quy định của các Điều ước quốc tế. Cụ thể, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành đã
dành cả nội dung Chương IX và Chương X để đề cập các vấn đề liên quan đến nội dung
quyền sở hữu công nghiệp nói chung, trong đó có các vấn đề cụ thể về nội dung quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
Khoản 1 Điều 123 Luật sở hữu trí tuệ quy định:
“1. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có các quyền tài sản sau đây:
a) Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy
định tại Điều 124 và Chương X của Luật này;
b) Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại
Điều 125 của Luật này;
c) Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Chương X của Luật
này”.
Quy định này chỉ liệt kê ra những quyền tài sản của chủ sở hữu đối tượng sở hữu
công nghiệp nói chung mà không quy định cụ thể những quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu.
Tuy nhiên, nhãn hiệu, với tư cách là một đối tượng sở hữu công nghiệp quan trọng, do
đó, có thể hiểu, chủ sở hữu nhãn hiệu có đầy đủ quyền năng quy định tại khoản 1 Điều
123 Luật sở hữu trí tuệ như đã kể trên. Như vậy, từ quy định này, có thể thấy, chủ sở hữu
nhãn hiệu có những quyền năng cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, quyền sử dụng nhãn hiệu;
19
- Thứ hai, quyền cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu;
- Thứ ba, quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu;
- Thứ tư, quyền định đoạt nhãn hiệu.
2.1.1. Quyền sử dụng nhãn hiệu
hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Đây là nhóm quyền năng vô cùng quan trọng của chủ sở
hữu nhãn hiệu bởi như chúng ta đều biết, quyền sở hữu công nghiệp nói chung và quyền
sở hữu nhãn hiệu nói riêng có sự khác biệt cơ bản về thuộc tính của đối tượng sở hữu. Do
đặc tính của các sáng tạo trí tuệ là khi chúng được bộc lộ công khai thì không thể kiểm
soát, chi phối, chiếm giữ được nên trên thực tế, quyền chiếm hữu không có ý nghĩa đối
với quyền sở hữu công nghiệp nói chung và quyền sở hữu nhãn hiệu nói riêng. Mặc dù
không thể chiếm hữu như các tài sản thông thường nhưng khi được sử dụng bằng cách
gắn lên các sản phẩm, dịch vụ hay xuất hiện trên các giấy tờ, phương tiện quảng cáo,…nó
luôn mang đến cho người sử dụng một lợi ích kinh tế rất lớn bởi người tiêu dùng sẽ nhận
biết được nguồn gốc, xuất xứ và thậm chí là chất lượng của những hàng hóa, dịch vụ đó.
Những hàng hóa, dịch vụ có gắn nhãn hiệu luôn được đánh giá cao hơn về giá trị so với
hàng hóa, dịch vụ không có nhãn hiệu, đặc biệt là nếu gắn với những nhãn hiệu có uy tín
thì giá trị hàng hóa lại càng được tăng lên. Chính vì vậy, bảo vệ sự độc quyền sử dụng
nhãn hiệu cũng chính là bảo vệ quyền lợi thiết thực nhất của chủ sở hữu nhãn hiệu. Chỉ
có chủ sở hữu mới là người có quyền khai thác hoặc cho phép người khác khai thác tính
năng, công dụng và những giá trị vật chất từ nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu của mình.
- Nhóm thứ hai: Bao gồm các quyền liên quan đến các hàng hóa, dịch vụ mang
nhãn hiệu đã được bảo hộ. Theo đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền “Lưu thông, chào
bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo hộ; nhập
khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ”. Ở đây, có thể thấy, quy định về
nhóm quyền năng này của chủ sở hữu nhãn hiệu đã khá rõ ràng và dễ hiểu. Chúng ta có
thể hiểu một cách khái quát về nhóm quyền năng này của chủ sở hữu nhãn hiệu đó là:
Một khi nhãn hiệu đã được bảo hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ có độc quyền sản xuất, đưa
hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được bảo hộ ra thị trường nội địa, nhập khẩu hàng
hóa mang nhãn hiệu vào thị trường.
2.1.2. Quyền cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu
Đồng thời với việc trao cho chủ sở hữu nhãn hiệu quyền năng được sử dụng nhãn
hiệu như đã đề cập ở trên, pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành còn trao cho họ khả năng có
thể cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu. Xét cho đến cùng, việc cho phép chủ thể