Xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM THỊ THƢƠNG

XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN: TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành Luận văn này, tác giả đã nhận đƣợc sự giúp
đỡ, cung cấp tài liệu, sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hƣớng dẫn là TS.
Nguyễn Văn Tuyến, các anh chị và bạn bè đồng nghiệp, các cán bộ Trung tâm
Thƣ viện Trƣờng Đại học Luật Hà Nội. em xin gửi lời cảm ơn chân thành
nhất vì sự giúp đỡ quý báu này.
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong việc thu thập tài liệu và tìm tòi, nghiên
cứu nhƣng do thời gian nghiên cứu và nguồn tài liệu có hạn, cùng với những


: NHNNg

Dự phòng rủi ro

: DPRR

Tài sản bảo dảm

: TSBĐ

Xử lý nợ xấu

: XLNX


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu .......................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................................2
3. Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài ...................................3
4. Những đóng góp mới của đề tài luận văn ...............................................................4
5. Kết cấu của Luận văn ..............................................................................................4
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI .........6
1.1. Khái luận về nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM ............................6
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thƣơng mại ..............................................................................................................6
1.1.2. Các nguyên nhân dẫn đến nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng

2.2.3. Một số nhận xét, bình luận và đánh giá ......................................................49
Kết luận chƣơng II ..................................................................................................51
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁP LÝ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ
LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢỢNG
MẠI Ở VIỆT NAM ...................................................................................................52
3.1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luật trong xử lý nợ xấu của ngân hàng
thƣơng mại ở Việt Nam.............................................................................................52
3.2. Nhóm giải pháp về tổ chức thực thi pháp luật trong xử lý nợ xấu của ngân hàng
thương mại ở Việt Nam .............................................................................................55
3.2.1. Cải cách bộ máy tổ chức, quản trị, điều hành của ngân hàng thƣơng mại .55
3.2.2. Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của
nguồn nhân lực trong các ngân hàng thƣơng mại .................................................57
3.2.3. Hoàn thiện quy trình nghiệp vụ về quản trị rủi ro trong xử lý nợ xấu của
ngân hàng thƣơng mại ...........................................................................................58
Kết luận chƣơng III ................................................................................................60
KẾT LUẬN CHUNG ..............................................................................................61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................62


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau một thời gian gia nhập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới – WTO, nền
kinh tế Việt Nam đã có đƣợc nhiều cơ hội cũng nhƣ gặp vô vàn thách thức từ
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế vĩ mô Việt Nam còn nhiều bất ổn
vì lạm phát còn ở mức cao, thâm hụt ngân sách chƣa giảm, tỷ lệ nợ công vẫn
chƣa đƣợc kiểm soát hiệu quả, hệ thống tài chính ngân hàng kém bền vững và
không thể hỗ trợ tốt cho nền kinh tế. Những bất ổn này không những xuất
phát từ các yếu tố bên ngoài nhƣ nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn mà

hàng đang tìm mọi biện pháp hữu hiệu để có thể hạn chế và XLNX một cách
tối đa. Tuy đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về xử lý nợ xấu nhƣng
chừng đó là chƣa đủ để giải mã mọi khía cạnh của vấn đề xử lý nợ xấu trong
hoạt động cho vay của NHTM ở Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ nhận thức nhƣ vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Xử lý nợ
xấu trong hoạt động cho vay của NHTM theo pháp luật Việt Nam” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về XLNX theo pháp luật Việt
Nam nhƣ các đề tài cấp bộ, cấp cơ sở và các cơ quan chức năng đã tổ chức
những hội thảo đề cập hoặc nghiên cứu một số khía cạnh của pháp luật về giải
quyết nợ xấu cũng nhƣ thực trạng áp dụng pháp luật về xử lý nợ xấu trong
hoạt động kinh doanh của NHTM.
Ở mỗi đề tài, mỗi tác giả đều có cách tiếp cận khác nhau. Ví dụ nhƣ:
- Bài viết: “Trao đổi về giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM
Việt Nam” của TS. Lê Quốc Lý, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ.
- Bài viết: “Giải quyết nợ xấu và ngăn chặn nợ xấu phát sinh” của Trần
Đình Định, Phó TGĐ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam;


3

- Bài viết: “Cần gắn việc xử lý nợ xấu tồn đọng trong quá trình tái cơ cấu
NHTM Việt Nam với tổng thể xử lý công nợ dây dƣa của nền kinh tế quốc
dân” của TS. Nguyễn Viết Hồng, Giám đốc Công ty AMC – Ngân hàng Đầu
tƣ và Phát triển Việt Nam.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu nói trên chỉ khảo sát, bình luận,
nghiên cứu về mặt lý luận và đƣa ra các giải pháp mang tính chuyên ngành
kinh tế tài chính chứ chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về các

và nhân văn nhƣ: Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp; phƣơng pháp khảo sát,
thống kê; phƣơng pháp so sánh, đối chiếu pháp luật; phƣơng pháp khái quát
hóa; phƣơng pháp diễn dịch, quy nạp… Tùy theo từng nội dung cụ thể của đề
tài mà tác giả sử dụng những phƣơng pháp khác nhau theo nguyên tắc sử
dụng độc lập hoặc phối hợp giữa các phƣơng pháp nghiên cứu, nhằm đạt đƣợc
mục tiêu cuối cùng là giải quyết tốt các yêu cầu đặt ra của đề tài.
4. Những đóng góp mới của đề tài luận văn
Dự kiến kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn sẽ thể hiện những đóng
góp mới sau đây:
Về phương diện lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm rõ hơn
những vấn đề lý luận về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của
NHTM nói chung và NHTM ở Việt Nam nói riêng trong bối cảnh hội nhập
quốc tế nhƣ hiện nay.
Về phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ chỉ ra những
hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong hoạt
động cho vay của NHTM ở Việt Nam; đồng thời, luận văn cung chỉ rõ những
khó khăn, vƣớng mắc phát sinh trong quá trình xử lý nợ xấu của NHTM nhằm
tạo tiền đề, cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu
quả trong xử lý nợ xấu của NHTM.
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
sẽ đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng nhƣ sau:


5

Chƣơng I: Những vấn đề lý luận về nợ xấu và XLNX trong hoạt động
cho vay của ngân hàng thƣơng mại.
Chƣơng II: Thực trạng pháp luật về XLNX trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng.

hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc
gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để
hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp”.
Theo định nghĩa của Ngân hàng Trung ƣơng Châu Âu (ECB), nợ xấu


7

trong các NHTM bao gồm:
(i) Những khoản nợ không thể thu hồi được: Những khoản nợ đã hết hiệu
lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thƣờng từ nợ; ngƣời mắc
nợ trốn hoặc mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ; những khoản nợ
mà ngân hàng không thể liên lạc đƣợc với ngƣời mắc nợ hoặc không thể tìm
đƣợc ngƣời mắc nợ; những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh
doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ
để trả nợ;
(ii) Nợ có thể không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng: Là những khoản
nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ; ngƣời mắc
nợ không liên lạc với ngân hàng để trả lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán,
hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi đầy đủ.
Theo định nghĩa về nợ xấu của Phòng Thống kê – Liên hợp quốc: “Về
cơ bản một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên
90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái
cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã
quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng
khoản vay sẽ đƣợc thanh toán đầy đủ”. Nhƣ vậy, nợ xấu theo tiêu chuẩn quốc
tế về cơ bản đƣợc xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii)
khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây đƣợc coi là định nghĩa của IAS đang đƣợc áp
dụng phổ biến trên thế giới.
Còn theo định nghĩa về nợ xấu trong pháp luật thực định ở Việt Nam,

con nợ chấm dứt tồn tại trong khi tài sản còn lại không đủ thanh toán nợ. Đôi
khi, sự chậm trễ bất thƣờng và không có lý do trong việc cung cấp các báo
cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thỏa thuận hoặc chậm trễ trong việc liên
lạc với cán bộ tín dụng cũng đƣợc xem là có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng
trả nợ của con nợ.
Ngoài ra, theo một số tác giả thì khi có một trong các hiện tƣợng nhƣ liệt
kê dƣới đây thì cũng đƣợc xem là có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ
của con nợ, chẳng hạn nhƣ2:
- Sự thay đổi bất thƣờng trong khấu hao, kế hoạch trả lƣơng và phụ cấp,
2

Xem thêm: PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống kê, Hà Nội
năm 2009, tr. 408-409.


9

giá trị hàng tồn kho, tài khoản thuế và thu nhập;
- Cơ cấu lại nợ hay hạn chế thanh toán cổ tức, hoặc có sự thay đổi vị trí
xếp hạng tín nhiệm; giá cổ phiếu của công ty thay đổi bất lợi;
- Thu nhập ròng giảm một hay nhiều năm, đặc biệt là các chỉ tiêu nhƣ tỷ
lệ sinh lời trên tổng tài sản, tỷ lệ sinh lời trên vốn cổ phần hay lợi tức trƣớc
thuế và lãi suất;
- Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu nguồn vốn (chỉ tiêu vốn cổ phần
trên nợ vay), thanh khoản (chỉ tiêu thanh khoản tạm thời), hay mức độ hoạt
động (chỉ tiêu doanh thu trên hàng tồn kho);
- Độ lệch của doanh thu hay lƣu chuyển tiền tệ so với kế hoạch khi mà
tín dụng đã đƣợc cấp;
- Những thay đổi bất ngờ, không dự kiến và không có lý do đối với số dƣ
tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng.

mạnh khi bong bóng tài sản xì hơi hoặc đƣợc định giá quá cao hoặc rủi ro
chính sách. Một số ngân hàng chƣa thực hiện tốt việc kiểm tra, kiểm soát vốn
cho vay. Một bộ phận cán bộ ngân hàng không tuân thủ đúng quy định của
pháp luật về cho vay dẫn đến vốn vay sử dụng không đúng mục đích (cho vay
tín dụng đen), sai về thủ tục pháp lý (sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất giả để vay vốn), nhiều doanh nghiệp khó khăn về hoạt động sản xuất, kinh
doanh và khả năng tài chính trong thời gian dài nhƣng chậm phát hiện, nên
chƣa có biện pháp kịp thời để thu hồi nợ.
Thứ ba, các ngân hàng chƣa áp dụng đầy đủ các chuẩn mực phân loại nợ
theo tiêu chuẩn quốc tế, có thể tạo tâm lý xem nhẹ nợ xấu và các rủi ro kèm
theo. Có rất nhiều dấu hiệu về tình trạng chƣa thực sự bền vững của các

3

Xem thêm: Võ Trí Thành và Lê Xuân Sang – Tái cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam: Vấn đề và định
hƣớng những giải pháp cơ bản, tr 6.


11

NHTM. Sự mất cân đối giữa huy động vốn chủ yếu là ngắn hạn (80% tổng
nguồn vốn) và cho vay chủ yếu là trung và dài hạn (70% tổng dƣ nợ) là đặc
điểm rủi ro của các NHTM Việt Nam hiện nay. Các ngân hàng cần xem lại
việc cơ cấu kỳ hạn và cơ cấu đồng tiền trong bảng cân đối tài chính. Tình
trạng sai lệch quá mức về cơ cấu thời hạn có thể thấy ở việc nguồn vốn huy
động không kỳ hạn và ngắn hạn vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn, khoảng 75%
song đƣợc các NHTM sử dụng một tỷ trọng quá mức để cho vay trung và dài
hạn. Tình trạng này gây rủi ro lớn, đặc biệt khi nguồn vốn cho vay các dự án
có hiệu quả thấp, thiếu sự thẩm định cần thiết. Mức sai lệch về cơ cấu đồng
tiền rất nhạy cảm với biến động tỷ giá, lãi suất, nhất là trong bối cảnh tình

ngƣời lãnh đạo và nhân viên ngân hàng gây ra.
Khi đánh giá về các nguyên nhân dẫn đến nợ xấu trong hoạt động cho
vay của ngân hàng Việt Nam hiện nay, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh cho rằng:
“Theo tôi th ngân hàng lãnh ít nhất là 50

trách nhiệm trong vấn đề nợ xấu

này, trong nhiều trường hợp có l là trên 50 . T nh trạng ngân hàng phải
cấp tín dụng theo mệnh lệnh của một ai đó, đối với các ngân hàng thuộc
thành phần kinh t nhà nước là không ít.

h ng ta đều bi t, là Vinashin đã

nhận được rất nhiều các khoản vay mà hồ sơ c ng như dự án h t sức là sơ
sài. hông có sự giải thích r ràng về hiệu quả, không có quá tr nh thẩm định
khách quan”.
Nguyên nhân khách quan
Các nguyên nhân khách quan đƣợc hiểu là nguyên nhân tác động từ bên
ngoài mỗi ngân hàng và hệ thống ngân hàng. Các nguyên nhân này có thể bắt
nguồn từ chủ thể quản lý vĩ mô là Nhà nƣớc, hoặc từ phía khách hàng vay vốn
là tổ chức, cá nhân. Cụ thể nhƣ sau:
Nhóm nguyên nhân từ phía chủ thể quản lý vĩ mô là Nhà nước
Một là, do sự không hợp lý trong việc ban hành và tổ chức thực thi chính
sách vĩ mô, các quy định pháp luật của Nhà nƣớc liên quan đến lĩnh vực kinh
doanh ngân hàng. Chỉ tính riêng trong 3 năm từ năm 2008 đến 2010 cũng cho


13

thấy sự thiếu bền vững trong các chính sách vĩ mô của Nhà nƣớc liên quan


các khoản chi xuất hiện dƣới dạng đầu tƣ, đồng thời tỷ lệ chi ngoài ngân sách
hiện đang rất cao, có thể nói là Bộ Tài chính chƣa kiểm soát tốt chính sách
ngân sách. Về phía NHNN, cơ quan này không đƣợc phép quyết định lƣợng
cung tiền và cung tín dụng nhƣ “thiên chức” vốn có của các ngân hàng trung
ƣơng trên thế giới mà chỉ có thể sử dụng một số ít các công cụ (nhƣ tỷ lệ dự
trữ bắt buộc và các quyết định và chỉ thị có tính hành chính) không thực sự
hữu hiệu khi phải đối diện với nguy cơ lạm phát. Kết quả là lãi suất thấp hơn
mức lạm phát khiến cho lãi suất thực trở nên âm. Lãi suất thực âm làm cho
các tài sản tài chính trở nên kém hấp dẫn và do vậy khuyến khích các nhà đầu
tƣ chuyển từ tài sản tài chính sang bất động sản và vàng.
Mặt khác, các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô chƣa có sự
định hƣớng nguồn vốn tín dụng tới những khu vực kinh tế thực sự có hiệu quả
trung và dài hạn, thả lỏng tăng trƣởng tín dụng để các NHTM trở thành trung
gian tích cực của việc đầu cơ lợi ích ngắn hạn nhƣ chứng khoán, bất động sản,
ngoại tệ mạnh đã tạo ra cơn sốt thị trƣờng ảo và gia tăng nợ xấu đáng kể.
Ba là, CSTT đƣợc nới lỏng một thời gian dài nhằm thúc đẩy tăng trƣởng
nhanh, làm gia tăng áp lực lạm phát. Điều này phần nào xuất phát từ sự nhận
thức không đầy đủ về những đánh đổi giữa mục tiêu tăng trƣởng và ổn định
kinh tế vĩ mô. Đây cũng là lý do gia tăng đầu tƣ, nhập khẩu, lạm phát và nợ
xấu. Công tác điều hành CSTT quốc gia chƣa nhận đƣợc sự hỗ trợ của hệ
thống thông tin, đặc biệt là hệ thống số liệu thống kê cho phân tích và dự báo
diễn biến kinh tế thế giới và trong nƣớc. Mặt khác, khả năng xử lý thông tin
của ngành Ngân hàng vẫn còn thiếu và yếu, khiến những đánh giá, nhận định
dựa trên những thông tin đã có của hệ thống ngân hàng (về tăng trƣởng tín
dụng, lãi suất…) chƣa có nhiều ý nghĩa cho công tác điều hành CSTT.


15




16

quan thanh tra giám sát còn hạn chế, trên cả phƣơng diện kỹ thuật lẫn nguồn
nhân lực. Đến nay, công nghệ thu thập, xử lý thông tin để phục vụ cho hoạt
động giám sát từ xa còn lạc hậu. Ngoài ra, hoạt động giám sát các định chế tài
chính ngày càng trở nên khó khăn do sự gia tăng các sáng tạo tài chính và
công nghệ thông tin - truyền thông, tự do hóa kinh tế - tài chính, các bộ phận
của hệ thống tài chính ngày càng đan xen chặt chẽ và các Ngân hàng cũng
ngày trở nên đa năng, đa quốc gia. Điều này đòi hỏi các cơ quan giám sát phải
có tầm nhìn toàn cầu, khu vực và sự phối hợp chặt chẽ từ việc lập chiến lƣợc
phát triển tổng thể hệ thống tài chính, vừa hợp tác thƣờng xuyên trong việc
quản lý, xử lý những vấn đề của thị trƣờng và giám sát một cách có hiệu quả
các đối tƣợng tham gia và hoạt động đan xen trên thị trƣờng.
Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
Một là, do khách hàng vay không coi trọng uy tín của mình trong quan
hệ hợp đồng, sẵn sàng vi phạm cam kết với ngân hàng khi có dấu hiệu khó
khăn về tài chính. Điều này đặc biệt hay xảy ra đối với khách hàng vay là cá
nhân, hộ gia đình hoặc tổ hợp tác, thậm chí là doanh nghiệp tƣ nhân.
Hai là, do khả năng quản trị yếu kém của khách hàng vay là chủ thể kinh
doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nƣớc. Hầu hết các
doanh nghiệp Việt Nam đều không đƣợc đào tạo đầy đủ, cơ bản kiến thức về
kinh tế thị trƣờng và quản trị doanh nghiệp. Sự yếu kém về quản trị thể hiện
trong quản trị nguồn vốn, quản trị kinh doanh, quản trị rủi ro và quản trị sự
thay đổi trong thị trƣờng hội nhập quốc tế hiện nay. Việc thiếu kiến thức, ít
kinh nghiệm và không có khả năng chịu đựng các va đập trong kinh doanh đã
dẫn đến hậu quả là gánh chịu rủi ro về tài chính nặng nề. Từ đó dẫn đến việc
không có khả năng trả nợ vốn vay cho ngân hàng.
Ba là, do khách hàng vay để kinh doanh và đầu tƣ dàn trải, không có sự

việc xử lý tài sản để thu hồi nợ.
1.1.3. Tác hại của nợ xấu đối với ngân hàng và nền kinh tế - xã hội
Tác hại của nợ xấu đối với ngân hàng
Thứ nhất, nợ xấu càng lớn thì khả năng thu hồi các khoản nợ của ngân


18

hàng càng thấp. Do đó ngân hàng phải dùng vốn để trang trải cho các khoản
nợ xấu thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực hiện việc xóa sổ
những khoản thất thoát này, ngân hàng có thể rơi vào tình trạng mất khả năng
thanh toán cho ngƣời gửi tiền.
Thứ hai, nợ xấu làm giảm uy tín của Ngân hàng: Khi Ngân hàng xuất
hiện nhiều và gia tăng nợ xấu, điều đó đồng nghĩa với Chất lƣợng tín dụng
thấp, quá trình thẩm định hồ sơ, thẩm định khách hàng yếu kém, khả năng
thanh khoản giảm sút và sự an toàn tài chính của Ngân hàng luôn đặt trong
tình trạng báo động. Những biểu hiện trên đã gây mất lòng tin của khách
hàng, đối tác kinh doanh.
Thứ ba, nợ xấu làm giảm lợi nhuận và có khả năng khiến ngân hàng phá
sản: Gia tăng nợ xấu sẽ kéo theo việc ngân hàng phải tăng cƣờng sử dụng dự
phòng rủi ro cho các khoản nợ này khiến lợi nhuận giảm và ảnh hƣởng tới khả
năng thanh toán của ngân hàng. Điều này sẽ kéo theo rủi ro vỡ thanh khoản,
vỡ cơ cấu kỳ hạn của ngân hàng trong trƣờng hợp không thu hồi đƣợc nợ.
Ngoài ra, những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao thì cũng sẽ bị ảnh hƣởng
không nhỏ đến uy tín và danh tiếng, đồng thời, khi những ngân hàng này gặp
khó khăn nhất định thì khả năng xảy ra đổ vỡ cũng cao hơn những ngân hàng
khác. Và khi không đảm bảo đƣợc tính thanh khoản thì việc đối mặt với nguy
cơ phá sản chỉ là sớm muộn. Do những mối liên hệ trên thị trƣờng tài chính
nói chung và thị trƣờng vay mƣợn tiền giữa các ngân hàng nói riêng, khi bất
kỳ một ngân hàng nào gặp những rủi ro trên cũng đều có thể ảnh hƣởng tới cả

ứng không đƣợc quay vòng. Dòng tiền trong nền kinh tế không lƣu thông
đƣợc và hệ thống ngân hàng sẽ gặp khó khăn về thanh khoản chi phí phát sinh
do nợ xấu là rất lớn;
Hai là, nợ xấu hạn chế khả năng mở rộng và tăng trƣởng tín dụng, khả
năng kinh doanh và khả năng đảm bảo quyền lợi ngƣời ngƣời tiền của các tổ
chức tín dụng. Nợ xấu ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và ảnh
hƣởng đến sự phát triển của nền kinh tế bởi khả năng khai thác và đáp ứng
vốn, dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế.


20

Ba là, nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng tạo ra trào lƣu suy
thoái của nền kinh tế trong nƣớc, từ đó sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của
nền kinh tế quốc gia, xét trong mối tƣơng quan với các nền kinh tế khác trong
và ngoài khu vực.
1.2. Khái luận về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của xử lý nợ xấu trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại
Khái niệm xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn chứa đựng các rủi ro tiềm ẩn.
Thực tế cho thấy có nhiều trƣờng hợp khách hàng vay vốn nhƣng không có
tiền trả nợ hoặc không chủ động trả nợ khi đến hạn. Một số con nợ khác tuy
có tiền nhƣng vẫn muốn lợi dụng vốn ngân hàng mà tìm cách chây ỳ để chiếm
dụng vốn ngân hàng. Mặc dù đó là những hiện tƣợng không mong muốn
nhƣng là những tình huống mà Nhà nƣớc nói chung và các ngân hàng nói
riêng đều phải lƣờng trƣớc và đặt ra các phƣơng án xử lý những khoản nợ trên
để phần nào hạn chế tổn thất. Hoạt động này gọi là XLNX ngân hàng.
Trong khoa học pháp lý cũng nhƣ trong pháp luật thực định, không dễ để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status