ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
NGUYỄN NGỌC DŨNG
XÁC MINH TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN
KINH DOANH, THƢƠNG MẠI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838 01 07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2017
50
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thị Hải Yến
Phản biện 1: ........................................:..........................
Phản biện 2: ...................................................................
Luận văn sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Trƣờng Đại học Luật
Vào lúc...........giờ...........ngày...........tháng .......... năm...........
5
1.1.2. Đặc điểm của xác minh tài sản trong thi hành án kinh doanh thƣơng mại
thi hành án kinh doanh thƣơng mại. 6
1.1.3. Ý nghĩa của xác minh tài sản trong thi hành án kinh doanh thƣơng mại 6
1.2. Cơ sở lý luận của pháp luật về xác minh tài sản trong thi hành án kinh
doanh, thƣơng mại 6
1.2.1. Cơ sở lý luận của pháp luật thi hành án dân sự quy định về xác minh xác
minh tài sản trong THAKDTM 6
1.2.2. Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật thi hành án dân sự quy định về xác
minh tài sản trong thi hành án kinh doanh thƣơng mại
6
1.3. Sơ lƣợc hình thành và phát triển các quy định của pháp luật về xác minh tài
sản trong thi hành án kinh doanh thƣơng mại 7
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 7
1.3.2. Giai đoạn từ năm 2008 đến nay 7
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2008 7
1.4. Quy định pháp luật về xác minh tài sản trong thi hành án kinh doanh,
thƣơng mại 7
1.4.1. Quy định pháp luật về nghĩa vụ xác minh tài sản trong thi hành án kinh
doanh thƣơng mại 7
1.4.1.1. Quy định pháp luật về chủ thể có nghĩa vụ xác minh tài sản trong
THAKDTM 7
1.4.1.2. Quy định pháp luật về uỷ quyền xác minh tài sản THAKDTM 7
1.4.2. Quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin để xác minh tài sản
trong thi hành án kinh doanh thƣơng mại
7
2.2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách
nhiệm kê khai tài sản của ngƣời phải thi hành án trong THA KDTM 12
2.2.1.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật
12
2.2.1.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật 13
2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách
nhiệm cung cấp thông tin của các chủ thể không phải là ngƣời phải thi hành án
14
2.2.2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật
14
2.2.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật 15
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 17
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Thi hành án dân sự (THADS) có vai trò quan trọng trong hoạt động tƣ
pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Bản án, quyết định của
Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi đƣợc thi hành trên thực tế. Hoạt động
THADS bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án đƣợc chấp hành, góp
phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cƣờng pháp chế xã hội
chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và lợi ích
của Nhà nƣớc, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cƣờng hiệu
lực, hiệu quả của bộ máy nhà nƣớc. Chính vì vậy, Điều 106 Hiến pháp năm
2013 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Bản án,
định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Tuy vậy, trong quá trình thực hiện pháp luật về xác minh điều kiện thi
hành án nói chung và xác minh tài sản trong thi hành án kinh doanh thƣơng
mại nói riêng còn có những bất cập, vƣớng mắc từ thể chế và trong thực tiễn
tổ chức thi hành án. Xuất phát từ lý do đó, học viên đã chọn đề tài “Xác minh
tài sản trong thi hành án kinh doanh, thƣơng mại theo pháp luật Việt Nam”
nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, đã và đang có những công trình
nghiên cứu liên quan đến đề tài những năm gần đây. Trƣớc những đòi hỏi
khách quan của công tác thi hành án dân sự, đã có một số công trình khoa học
nghiên cứu về vấn đề thi hành án dân sự, cụ thể là:
Đề tài cấp Nhà nƣớc“Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và
hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mớí” mã số đề tài: 200058-198 do TS. Nguyễn Đình Lộc làm Chủ nhiệm; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ:
"Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án", mã số 96-98- 027/ĐT do
Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tƣ pháp chủ trì thực hiện; Đề tài: "Thi hành án
dân sự, thực trạng và hƣớng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001" do Bộ Tƣ
pháp chủ trì thực hiện dự án.
Một số luận án và công trình nghiên cứu khác nhƣ: Luận án tiến sĩ
"Hiệu quả áp dụng pháp luật trong thi hành án dân sự Việt Nam" của tác giả
Đặng Đình Quyền (năm 2012); Luận án Tiến sỹ luật học "Pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay"(năm 2008)
của TS. Nguyễn Quang Thái; Luận văn thạc sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật
thi hành án dân sự tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy (năm
2008); Luận văn thạc sỹ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2005
của tác giả Nguyễn Đức Nghĩa, với đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn khắc
phục án tồn đọng trong thi hành án dân sự ở Việt nam hiện nay”; Luận văn
thạc sĩ luật học "Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xác minh tài sản trong thi
hành án kinh doanh, thƣơng mại nói riêng và thi hành án dân sự nói chung.
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về xác minh tài sản trong
THAKDTM nhƣ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở của việc quy định pháp
luật về xác minh tài sản trong THAKDTM;
- Nghiên cứu, làm rõ quy định của pháp luật hiện hành về xác minh tài
sản trong THAKDTM; đánh giá thực trạng ban hành pháp luật về vấn đề này;
- Đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng các quy định về xác minh tài
sản trong thi hành án kinh doanh, thƣơng mại;
- Phân tích những khó khăn, vƣớng mắc trong thực tiễn áp dụng các
quy định về xác minh tài sản trong thi hành án kinh doanh, thƣơng mại qua
một số vụ việc cụ thể.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cƣờng hiệu quả thực
hiện pháp luật về thi hành án kinh doanh, thƣơng mại.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là pháp luật Việt Nam và thực tiễn
áp dụng về xác minh tài sản trong thi hành án dân sự kinh doanh, thƣơng
mại.
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành về xác
minh tài sản trong thi hành án dân sự kinh doanh, thƣơng mại và thực tiễn áp
dụng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Các vụ
việc cụ thể sẽ đƣợc phân tích, bình luận trong luận văn là những vụ việc đƣợc
thụ lý từ năm 2014 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện trên phƣơng pháp luận khoa học xã hội ở Việt
1.1.1. Khái niệm xác minh tài sản trong thi hành án kinh doanh thƣơng
mại
Xác minh tài sản trong THAKDTM là việc Chấp hành viên, Thừa phát
lại hoặc ngƣời đƣợc THA tiến hành thu thập các chứng cứ, tài liệu về tài sản,
thu nhập của ngƣời phải THA, ngƣời có nghĩa vụ liên quan để làm căn cứ tổ
chức THADS theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của xác minh tài sản trong thi hành án kinh doanh
thƣơng mại thi hành án kinh doanh thƣơng mại.
- Xác minh tài sản trong THAKDTM đƣợc thực hiện bởi các chủ thể là
Chấp hành viên, Thừa phát lại, ngƣời đƣợc thi hành án hoặc ngƣời đƣợc thi
hành án ủy quyền.
- Xác minh tài sản chủ yếu là làm rõ thông tin về thu nhập, tài sản của
ngƣời phải THA.
- Việc xác minh tài sản phải đƣợc thực hiện một cách đầy đủ, chính xác
theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật thi hành án dân sự và các quy định
pháp luật khác có liên quan.
1.1.3. Ý nghĩa của xác minh tài sản trong thi hành án kinh doanh thƣơng
mại
- Giúp cho việc phân loại án đƣợc chính xác, góp phần nâng cao chất
lƣợng và hiệu quả công tác THA, giảm bớt áp lực đối với cơ quan THADS vì
không mất nhiều thời gian, công sức để giải quyết những việc THADS chƣa
có điều kiện thi hành.
- Góp phần bảo đảm quyền của đƣơng sự.
- Xác minh tài sản trong THAKDTM còn góp phần nâng cao ý thức của
ngƣời dân trong việc THA.
1.2. Cơ sở lý luận của pháp luật về xác minh tài sản trong thi hành án kinh
doanh, thƣơng mại
1.2.1. Cơ sở lý luận của pháp luật thi hành án dân sự quy định về xác
dân sự nơi doanh nghiệp có tài sản, cƣ trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác
minh tài sản thi hành án.
- Trƣờng hợp cần làm rõ thông tin về tài sản, nơi cƣ trú, nơi làm việc,
trụ sở của ngƣời phải thi hành án hoặc các thông tin khác liên quan đến việc
thi hành án thì Thủ trƣởng cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền xác
minh cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có thông tin trên.
1.4.2. Quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin để xác minh
tài sản trong thi hành án kinh doanh thƣơng mại
1.4.2.1. Quy định pháp luật về trách nhiệm kê khai tài sản của ngƣời phải
thi hành án trong THAKDTM
- Ngƣời phải thi hành án có nghĩa vụ kê khai trung thực tài sản, điều
kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của
mình khi có yêu cầu của ngƣời có thẩm quyền và chịu trách nhiệm trƣớc pháp
luật về nội dung kê khai đó.
1.4.2.2. Quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của các
chủ thể không phải là ngƣời phải thi hành án
- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp thông tin cho
Chấp hành viên trong thời hạn nhất định và phải chịu trách nhiệm về việc
cung cấp thông tin đó.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Xác minh tài sản trong THAKDTM là việc Chấp hành viên, Thừa phát
lại hoặc ngƣời đƣợc THA tiến hành thu thập các chứng cứ, tài liệu về tài sản,
thu nhập của ngƣời phải THA để làm căn cứ tổ chức THA theo quy định của
pháp luật. Xác minh tài sản trong THAKDTM là một thủ tục có tính chất
quyết định đến kết quả của các hoạt động tiếp theo của quá trình THA nên có
nhiều ý nghĩa quan trọng, giúp cho việc phân loại án đƣợc chính xác, góp
phần bảo đảm quyền của ngƣời đƣợc THA, nâng cao ý thức của ngƣời dân và
nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của công tác THA. Với yêu cầu bảo đảm hiệu
từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, trong đó nội dung về xác minh điều kiện thi
hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung một cách tƣơng đối toàn diện. Quy định
xác minh điều kiện thi hành án đƣợc cụ thể bởi Điều 9 Nghị định số
62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết
và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực từ
ngày 01 tháng 9 năm 2015. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn tồn
tại những hạn chế, bất cập cần đƣợc bổ sung, sửa đổi trong tổng thể với các
ngành luật khác. Nhiệm vụ hoàn thiện các quy định của pháp luật thi hành án
dân sự là một đòi hỏi khách quan và phải đƣợc tiến hành thƣờng xuyên.
CHƢƠNG 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƢƠNG MẠI
VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa
vụ xác minh tài sản trong thi hành án kinh doanh thƣơng mại
2.1.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
chủ thể có nghĩa vụ xác minh tài sản trong THAKDTM
2.1.1.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật
- Xác minh tài sản trong THAKDTM là một trong những công việc
phức tạp nhất, khó thực hiện. Các tài sản thế chấp phải xử lý trong các vụ án
KDTM thƣờng là quyền sử dụng đất, nhà ở và dây chuyền sản xuất…hơn
nữa, khi doanh nghiệp phải thi hành án thì họ thƣờng tìm cách tẩu tán tài sản,
họ có thể thay đổi tên doanh nghiệp, thay đổi trụ sở, tạo lập nhiều tài khoản
khác để giao dịch, có những trƣờng hợp tài sản của doanh nghiệp vẫn còn trên
sổ sách, vẫn đang đứng tên của doanh nghiệp nhƣng Chấp hành viên không
thể xác định tài sản đó đang ở đâu để xử lý.
- Hệ thống quản lý đăng ký tài sản, cơ chế kiểm soát tình trạng vốn, tài
sản, thu nhập của doanh nghiệp và cá nhân có đăng ký kinh doanh của nƣớc ta
quan thi hành án tổ chức thi hành án, ngƣời phải thi hành án đã trực tiếp nộp
một phần tiền cho ngân hàng nhƣng khi cơ quan thi hành án mời đến để xác
nhận việc đó thì ngân hàng không đến làm việc).
- Cơ quan thi hành án gặp khó khăn từ cách tuyên xử lý tài sản thế chấp
của Tòa án. Cũng là tuyên xử lý tài sản thế châp, tài sản đảm bảo nhƣng có
bản án, quyết định tuyên “Trong trƣờng hợp doanh nghiệp không trả nợ thì xử
lý tài sản thế chấp”, có bản án, quyết định lại tuyên “ Trong trƣờng hợp doanh
nghiệp không có khả năng thi hành hoặc thi hành không đủ thì xử lý tài sản
thế chấp” hoặc “Trong trƣờng hợp doanh nghiệp không trả đủ thì xử lý tài sản
thế chấp”.
2.1.1.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật
Cần sửa đổi khoản 5 Điều 44 Luật THADS năm 2014 nhƣ sau:
“5. Ngƣời đƣợc thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho ngƣời
khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập,
điều kiện thi hành án của ngƣời phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân
sự. Trừ những trƣờng hợp ngƣời đƣợc thi hành án trong các bản án, quyết
định về kinh doanh thƣơng mại, tranh chấp dân sự, bồi thƣờng thiệt hại thì
ngƣời đƣợc thi hành án phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin về tài sản của
ngƣời phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự khi có yêu cầu.
Trƣờng hợp Chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của
Chấp hành viên và ngƣời đƣợc thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân thì phải xác minh lại. Việc xác minh lại đƣợc tiến
hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đƣợc kết quả xác minh
do đƣơng sự cung cấp hoặc nhận đƣợc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân
dân”.
2.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
uỷ quyền xác minh tài sản THAKDTM
2.1.2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật
- Để giảm bớt thủ tục trong biên bản xác minh tài sản cần sửa đổi
khoản 1, Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của
Chính phủ, theo hƣớng thay đổi hình thức cung cấp thông tin, không nên quy
định bắt buộc trong biên bản xác minh phải có nội dung kê khai của ngƣời
phải thi hành án mà nên ấn định thời hạn cho ngƣời phải thi hành án tự kê
khai bằng một văn bản riêng cho Chấp hành viên.
- Bổ sung trách nhiệm của ngƣời phải thi hành án khi cung cấp thông
tin về tài sản sai sự thật dẫn đến việc Chấp hành viên ban hành quyết định trái
pháp luật, làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của công dân, các tổ chức thì phải
chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trƣờng hợp
gây ra thiệt hại thì phải bồi thƣờng. Cụ thể là:
Khoản 1, Điều 9 “Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày hết hạn tự nguyện
thi hành án, ngƣời phải thi hành án phải cung cấp cho Chấp hành viên bản tự
kê khai tài sản. Việc kê khai phải trung thực, cung cấp thông tin về tài sản, thu
nhập, điều kiện thi hành án. Nội dung kê khai phải nêu rõ loại, số lƣợng tiền,
tải sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay,
mƣợn; giá trị ƣớc tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định
kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập; địa chỉ, nơi cƣ trú của ngƣời chƣa thành
niên đƣợc giao cho ngƣời khác nuôi dƣỡng; khả năng và điều kiện thực hiện
nghĩa vụ thi hành án.
Hết thời hạn trên nếu ngƣời phải thi hành án không kê khai hoặc phát
hiện việc kê khai không trƣng thực thì tùy theo mức độ vi phạm, Chấp hành
viên có thể bị xử phạt hoặc đề nghị ngƣời có thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính theo quy định của pháp luật.
Trƣờng hợp Chấp hành viên căn cứ thông tin của ngƣời phải thi hành
án mà ban hành quyết định trái pháp luật, làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của
công dân, các tổ chức thì ngƣời phải thi hành án phải chịu trách nhiệm trƣớc
pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trƣờng hợp gây ra thiệt hại thì phải
+ Chấp hành viên tiến hành xác minh thông tin về tài khoản, thực hiện
các biện pháp phong toả tài khoản, tài sản, khấu trừ tiền trong tài khoản của
ngƣời phải thi hành án có tại ngân hàng, tổ chức tín dụng hay kho bạc, thì vẫn
còn tình trạng các cơ quan, đơn vị này né tránh, hay cung cấp thông tin về tài
khoản chậm, tạo kẽ hở để ngƣời phải thi hành án có thể rút tiền, tẩu tán tài sản
trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
+ Cơ quan nhà nƣớc, ban ngành hữu quan chƣa phối hợp chặt chẽ trong
công tác thi hành án dân sự. Một số tổ chức chính trị - xã hội còn chƣa thấy rõ
trách nhiệm phải phối hợp với cơ quan thi hành án trong việc thực thi pháp
luật.
- Để nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác thi hành án dân sự, cần
có sự xem xét, quy định các biện pháp chế tài cụ thể để xử lý đối với những
hành vi cố tình không cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về tài sản, tài
khoản, cố tình tạo điều kiện cho ngƣời phải thi hành án tẩu tán tiền, tài sản để
trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ thi hành án.
2.2.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật
- Bổ sung quy định của các luật, Nghị định liên quan trong nghĩa vụ
cung cấp thông tin cho cơ quan thi hành án trong việc xác minh tài sản (Luật
THADS năm 2014, Luật Quản lý thuế, Nghị định 62/2015/NĐ-CP, Nghị định
67/2015/NĐ-CP)
Bổ sung vào khoản 2 Điều 73 Luật quản lý thuế quy định cơ quan quản
lý thuế có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan thi hành án dân.
Khoản 2 Điều 3: “ 2. Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm cung cấp
thông tin của ngƣời nộp thuế cho các cơ quan sau đây:
a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự;
- Bổ sung vào điểm a khoản 2 Điều 52 Nghị định 67/NĐ-CP của Chính
phủ về xử phạt hành chính đối với hành vi cung cấp không đảm bảo thời hạn
theo quy định...cụ thể là:
trƣớc pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trƣờng hợp gây ra thiệt hại
thì phải bồi thƣờng”.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Xác minh tài sản trong THAKDTM là một trong những công việc phức
tạp nhất, khó thực hiện, đối tƣợng phải thi hành án thƣờng là các doanh
nghiệp, tài sản đảm bảo của ngƣời thứ ba. Thông thƣờng khi họ là ngƣời phải
thi hành án họ thƣờng tìm cách tẩu tán tài sản hoặc không hợp tác với cơ quan
thi hành án, mặc khác hệ thống quản lý đăng ký tài sản, cơ chế kiểm soát tình
trạng vốn, tài sản, thu nhập của doanh nghiệp và cá nhân có đăng ký kinh
doanh của nƣớc ta còn rất yếu, chƣa thực hiện đƣợc chức năng giám sát hoạt
động của các loại hình doanh nghiệp thông qua hệ thống tài khoản ở ngân
hàng. Ngoài ra, lực lƣợng Chấp hành viên còn thiếu, am hiểu các lĩnh vực
chuyên môn sâu của chấp hành viên chƣa thể đáp ứng yêu cầu, trong khi đó
giữa các tổ chức tín dụng, ngân hàng và doanh nghiệp thƣờng có mối quan hệ
mật thiết với nhau hoặc quen biết nhau, các tổ chức tín dụng ngân hàng
thƣờng hiểu rõ tình hình tài sản, điều kiện THA của doanh nghiệp. Hơn nữa,
nếu xét về khía cạnh tâm lý, ngƣời đƣợc THA là những ngƣời có quyền lợi
trực tiếp nên họ sẽ bằng mọi cách có đƣợc thông tin về tài sản của doanh
nghiệp, chính vì thế những vụ việc mà các tổ chức tín dụng, ngân hàng quan
tâm phối hợp cung cấp thông tin về tài sản thì kêt quả thi hành án đạt hiệu quả
hơn. Để việc xác minh tài sản trong THAKDTM có hiệu quả, pháp luật cần
quy định việc phối hợp cung cấp thông tin của ngƣời đƣợc thi hành án phải
mang tính bắt buộc, nên cần sửa đổi khoản 5 Điều 44 Luật THADS năm
2014 theo hƣớng ngƣời đƣợc thi hành án phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin
về tài sản của ngƣời phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự khi có
yêu cầu.
Uỷ thác xác minh tài sản theo Luật Thi hành án dân sự là quy định
mang lại nhiều thuân lợi cho các cơ quan thi hành án trong thi hành án
nói chung và quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin nói riêng đã đạt
đƣợc những kết quả nhất định, bƣớc đầu khẳng định vai trò và hiệu quả hoạt
động THADS trong việc bảo đảm hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa án
đƣợc thi hành; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đƣơng sự. Tuy
nhiên, qua kết quả tổng kết, đánh giá thực hiện các quy định này trên thực tế
cho thấy, các quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin còn gặp một số bất
cập, vƣớng mắc, hạn chế cần phải khẩn trƣơng nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung
để hoàn thiện. Có hai loại giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về
trách nhiệm cung cấp thông tin, đó là kiến nghị bổ sung khoản 2 Điều 73 Luật
quản lý thuế về việc cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan đƣợc cơ quan quản
lý thuế cung cấp thông tin; bổ sung vào điểm a khoản 2 Điều 52 Nghị định
67/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt hành chính đối với hành vi cung cấp
không đảm bảo thời hạn theo quy định; bổ sung thêm đối tƣợng (Ngƣời có
nghĩa vụ liên quan) mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp
thông tin về tài sản cho Chấp hành viên vào điểm b, c khoản 6, khoản 7 Điều
44 Luật THADS năm 2014. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động THADS
và để việc cung cấp thông tin đƣợc chính xác, hiệu quả thì cần khắc phục
những hạn chế hiện nay và thực hiện sớm những kiến nghị đã đƣợc nêu qua
việc phân tích các quy định của pháp luật và trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết
quả thực hiện trên thực tế.