BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN HẢI YẾN
PHÒNG NGỪA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60 38 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. LÊ THỊ SƠN
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
nêu trong Luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của Luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác.
Tác giả
Nguyễn Hải Yến
7. Cơ cấu của luận văn .................................................................................. 4
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2008 - 2012 ........................................... 5
1. Thực trạng của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai
đoạn 2008 -2012............................................................................................ 5
2. Diễn biến của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn
2008 -2012. ................................................................................................. 13
3. Cơ cấu và tính chất của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội
giai đoạn 2008 -2012. .................................................................................. 20
3.1. Cơ cấu của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn
2008 -2012. ................................................................................................. 20
3.2. Tính chất của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai
đoạn 2008 -2012. ......................................................................................... 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ............................................................................ 37
CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ......................................................................... 38
2.1. Nhóm nguyên nhân về kinh tế, xã hội................................................... 38
2.2. Nhóm nguyên nhân liên quan đến giáo dục và tuyên truyền, phổ biến
pháp luật...................................................................................................... 42
2.3. Nhóm nguyên nhân liên quan đến công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh
vực trật tự, an toàn xã hội ............................................................................ 46
2.4. Nguyên nhân liên quan đến hoạt động của các cơ quan tiến hành
tố tụng ........................................................................................................ 48
2.5. Nhóm nguyên nhân từ phía người phạm tội .......................................... 49
2.6. Nhóm nguyên nhân về phía nạn nhân của tội phạm .............................. 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ............................................................................ 51
CHƯƠNG 3: DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN VÀ CÁC
BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA TỘI CƯỚP GIẬT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông
Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02'
kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà
Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa
Bình cùng Phú Thọ phía Tây. Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km.
Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện
tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu
bên hữu ngạn.
So với các tỉnh, thành phố khác của Việt Nam, Hà Nội là một thành phố
có tiềm năng để phát triển du lịch. Trong nội đô, cùng với các công trình kiến
trúc, Hà Nội còn sở hữu một hệ thống bảo tàng đa dạng bậc nhất Việt Nam.
Thành phố cũng có nhiều lợi thế trong việc giới thiệu văn hóa Việt Nam với du
khách nước ngoài thông qua các nhà hát sân khấu dân gian, các làng nghề
truyền thống...
Bên cạnh các thuận lợi, Hà Nội cũng gặp phải nhiều khó khăn, thách thức
không nhỏ. Cùng với những khó khăn chung của cả nước như kinh tế phát triển
chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, phân
hóa giàu nghèo tăng lên, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống
chưa được ngăn chặn đẩy lùi, Hà Nội còn gặp những khó khăn thách thức riêng
như số lượng người từ nhiều nơi đổ về kiếm việc làm đông, tập trung chủ yếu ở
khu vực thành thị nhưng việc giải quyết việc làm cho người lao động vẫn chưa
được bảo đảm. Xuất phát từ những khó khăn, hạn chế về kinh tế - xã hội cùng
với các nguyên nhân khác như giáo dục, tuyên truyền pháp luật nên Hà Nội còn
gặp phải nhiều khó khăn trong lĩnh vực giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Trong thời gian vừa qua, mặc dù các cơ quan chức năng đã có nhiều cố gắng
trong lĩnh vực phòng ngừa tội phạm và đã có những thành tựu đáng khích lệ, tuy
là mang tính cấp bách, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành
phố Hà Nội giai đoạn 2008 - 2012, nguyên nhân của tội cướp giật tài sản trên
địa bàn thành phố Hà Nội, biện pháp phòng ngừa tội cướp giật tài sản trên địa
bàn thành phố Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu dưới góc độ Tội phạm học tội
cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2012.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Việc nghiên cứu đề tài là nhằm đưa ra được các
biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành
phố Hà Nội
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nói trên, cần thực hiện những nhiệm vụ cơ bản
sau:
- Đánh giá tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội
trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012
- Làm sáng tỏ nguyên nhân của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành
phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012;
- Dự báo tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội
trong thời gian tới
- Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội cướp giật tài
sản trên địa bàn thành phố Hà Nội
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
“Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm
(hoặc nhóm tội phạm hoặc một loại tội phạm) đã xảy ra trong một đơn vị
không gian và thời gian nhất định”.[7, Tr 203] . Để làm rõ tình hình tội cướp
giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội, ta cần làm rõ các nội dung sau: thực
trạng, diễn biến, cơ cấu và tính chất của tội phạm này.
Trong quá trình nghiên cứu tình hình tội cướp giật tài sản, tác giả sử
dụng số liệu thống kê chính thức của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà
Nội. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng số liệu thống kê từ 151 bản án hình sự sơ
thẩm xét xử về tội cướp giật tài sản của Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn
thành phố Hà Nội mà được lựa chọn ngẫu nhiên từ tất cả các bản án về tội
phạm này trong phạm vi nghiên cứu.
1. Thực trạng của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà
Nội giai đoạn 2008 -2012
* Về tội phạm rõ
Căn cứ theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà
Nội thì số vụ và số người phạm tội bị xét xử sơ thẩm về tội cướp giật tài sản
trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian 5 năm như sau:
Bảng 1: Số vụ và số người phạm tội cướp giật tài sản trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 -2012
Năm
Số vụ
Số người phạm tội
2008
166
267
196
306
TB/năm
( Nguồn:Phòng thống kê Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội )
6
Trên cơ sở số liệu thống kê của Bảng 1, ta có biểu đồ về số vụ và số
người phạm tội bị xét xử về tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội
giai đoạn 2008 -2012 như sau:
Biểu đồ 1: Số vụ và số người phạm tội cướp giật tài sản trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 -2012
350
335
318
312
299
300
267
250
216
208
cướp giật tài sản bị xét xử trong thời gian 05 năm qua trên địa bàn thành phố
Hà Nội để tính trung bình năm, thì mỗi năm có 196 vụ cướp giật tài sản xảy ra
với 306 người phạm tội.
Tội cướp giật tài sản là một tội phạm thuộc chương các tội xâm phạm sở
hữu (thuộc chương XIV- BLHS). Do đó, nếu so sánh số vụ cướp giật tài sản bị
xét xử với tổng số vụ bị xét xử về các tội xâm phạm sở hữu giai đoạn 2008 2012 trên địa bàn thành phố Hà Nội sẽ cho thấy được mối tương quan giữa
7
“bức tranh” về tội cướp giật tài sản trong tổng thể chung của “ bức tranh” về
các tội xâm phạm sở hữu.
Dưới đây là bảng số liệu về số vụ cướp giật tài sản so với tổng số vụ bị
xét xử về các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn
2008 - 2012
Bảng 2: Số vụ, số người phạm tội cướp giật tài sản so với số vụ, số
người phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội
trong giai đoạn 2008 -2012
Tội cướp giật tài sản
Năm
Các tội xâm phạm sở hữu
Tỷ lệ %
Số vụ
(1)
Số người
(2)
2608
3842
7.9%
8.1%
2010
216
335
2110
3234
10.2%
10.3%
2011
195
318
2248
8%
8.2%
( Nguồn:Phòng thống kê Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội )
Biểu đồ 2: So sánh số vụ phạm tội cướp giật tài sản với số vụ phạm các
tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 -2012
3000
2763
2608
2509
2500
2248
2110
2000
1500
1000
500
166
208
4500
4000
3500
3000
2500
2000
1500
1000
500
0
4370
3842
3472
3627
3234
267
312
335
318
299
2008
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội xâm phạm sở hữu khác
Số vụ
7233
1458
1430
Tỷ lệ % số vụ
59 %
12 %
11.7%
Cướp tài sản
1136
9.3%
Cướp giật tài sản
981
8%
12238
100%
Tổng số
( Nguồn: Phòng thống kê Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội )
Biểu đồ 4: Số vụ các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố
60
80
100
120
( Nguồn:Phòng thống kê Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội)
Qua bảng số liệu và biểu đồ ta thấy trong thời gian 05 năm giai đoạn
2008 - 2012, tội phạm phổ biến nhất trong nhóm tội xâm phạm sở hữu trên toàn
thành phố Hà Nội là tội trộm cắp tài sản (59%). Mức độ phổ biến của tội cướp
giật tài sản là 8%. Như vậy, trong vòng 05 năm tội phạm này chiếm tỷ lệ đáng
kể so với các tội trong nhóm tội xâm phạm sở hữu
Việc mô tả và đánh giá về thực trạng của tội cướp giật tài sản trên địa
bàn thành phố Hà Nội còn có thể được thực hiện thông qua việc xác định và so
10
sánh chỉ số tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội với chỉ số tội phạm trên
toàn quốc.
Chỉ số tội phạm được xác định để tìm hiểu mức độ phổ biến của tội
phạm trong dân cư. Khi đánh giá thực trạng của tội cướp giật tài sản trên địa
bàn thành phố Hà Nội không thể bỏ qua chỉ số tội phạm [ 10, Tr 207].
Dưới đây là bảng chỉ số tội phạm ở Hà Nội và toàn quốc giai đoạn 2008 2012
Bảng 4: Chỉ số tội phạm và số người phạm tội cướp giật tài sản trên
địa bàn thành phố Hà Nội (tính trên 100.000 dân)
Hệ số vụ
4.36
2009
208
312
6.472.200
3.21
4.82
2010
216
335
6.561.900
3.29
5.10
2011
195
4.64
( Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội)
11
Bảng 5: Chỉ số tội phạm và số người phạm tội cướp giật tài sản trên
cả nước (tính trên 100.000 dân)
Năm
Số vụ
Số người
Số dân cư
phạm tội
(triệu người)
Hệ số vụ
Hệ số người
phạm tội /
phạm tội /
2651
4348
86.927.000
3.04
5
2011
2671
4348
87.840.000
3.04
4.95
2012
2716
4507
89.000.000
Hà Nội
Toàn quốc
(Nguồn: Phòng thống kê Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội)
12
Biểu đồ 6: Chỉ số người phạm tội cướp giật tài sản trên địa bàn
thành phố Hà Nội và toàn quốc giai đoạn 2008 -2012
5.23
5.4
5.2
5
4.8
4.64
4.6
4.4
4.2
Hà Nội
Toàn quốc
(Nguồn: Phòng thống kê Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội)
Từ bảng số liệu và biểu đồ ta nhận thấy, chỉ số tội phạm và chỉ số người
phạm ẩn để có được cái nhìn tổng quát đầy đủ về thực trạng của tội cướp giật
tài sản để từ đó đề ra được biện pháp phòng ngừa tội phạm đạt hiệu quả.
2. Diễn biến của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội
giai đoạn 2008 -2012.
Nghiên cứu diễn biến của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà
Nội giai đoạn 2008 -2012 giúp chúng ta nhận diện được rõ nét hơn “ bức tranh”
về tội cướp giật tài sản và nó còn giúp cho việc xác định xu hướng vận động
của tội này trong thời gian tiếp theo, từ đó giúp cho việc xây dựng các biện
pháp phòng ngừa của cơ quan chức năng sát với thực tiễn.
Để xác định diễn biến của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà
Nội giai đoạn giai đoạn 2008 -2012, tác giả lấy số liệu về số vụ và số người
phạm tội cướp giật tài sản của năm 2008 là gốc và coi là 100% để tính mức độ
tăng, giảm của tội phạm cho những năm tiếp theo. Ta có bảng số liệu sau:
14
Bảng 6: Mức độ tăng, giảm hàng năm của tội cướp giật tài sản trên
địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 -2012
Năm
Số vụ bị xét xử
Số người bị xét xử
2008
156
100%
318
119 % ( tăng 19 % )
2012
196
125,6% (tăng 25,6%)
299
112 % (tăng 12%)
(Nguồn:Phòng thống kê Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội)
Từ bảng số liệu trên, ta có biểu đồ về xu hướng vận động của tội cướp
giật tài sản như sau:
Biểu đồ 7: Diễn biến của số vụ phạm tội cướp giật tài sản trên địa
bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 -2012
160
140
120
100
80
60
40
20
0
120
116.8
100
125.4
119
112
100
80
60
40
20
0
2008
2009
2010
2011
2012
Số người phạm tội cướp giật tài sản
Số vụ phạm tội cướp giật
Số vụ các tội xâm phạm
tài sản
sở hữu
2008
156
100%
2509
100%
2009
208
133,3% ( tăng 33,3%)
2608
104% (tăng 4%)
2010
vụ phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội giai
đoạn 2008 -2012
160
140
120
100
80
60
40
20
0
138.4
133.3
100
104
84
2008
2009
125.6
110
112
2010
267 100%
3472
100%
2009
312 116,8 ( tăng 16,8%)
3824
110% (tăng 10%)
2010
335 125,4% ( tăng 25,4%)
3234
93% (giảm 7%)
2011
318 119 % ( tăng 19 % )
3627
104,5% (tăng 4,5%)
93
80
60
40
20
0
2008
2009
Số người phạm tội cướp giật tài sản
2010
2011
2012
Số người phạm tội xâm phạm sở hữu
( Nguồn: Phòng thống kê Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội)
Qua bảng số liệu và biểu đồ ta thấy, so với năm 2008 thì số vụ phạm tội
cướp giật tài sản có xu hướng tăng, trong khi số vụ các tội xâm phạm sở hữu
lúc tăng lúc giảm, năm 2009 và năm 2012 là tăng còn năm 2010 và năm 2011
18
giảm. Số người phạm tội cướp giật tài sản và số người phạm các tội trong nhóm
2009
208
133,3% ( tăng 33,3%)
6614
101,4% ( tăng 1,4% )
2010
216
138,4% ( tăng 38,4%)
6249
95,8% ( giảm 4,2%)
2011
175
112% ( tăng 12%)
7196
110% ( tăng 10% )
2009
95.8
2010
Số vụ cướp giật tài sản
110
2011
125.6
134.7
2012
Số vụ phạm tội nói chung
(Nguồn: Phòng thống kê Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội )
19
Bảng 10: So sánh mức độ tăng, giảm hàng năm về số người phạm tội
cướp giật tài sản và số người phạm tội nói chung trên địa bàn thành phố
Hà Nội giai đoạn 2008 -2012
Năm
Số người phạm tội cướp giật
13198 124,4% ( tăng 24,4% )
2012
299 112 % (tăng 12%)
16211 152,8% (tăng 52,8%)
Biểu đồ 12: So sánh diễn biến số người phạm tội cướp giật tài sản và
số người phạm tội nói chung trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2008
-2012
180
160
140
120
100
80
60
40
20
0
125.4
116.8
100 100
2008
102.4