Một số vấn đề pháp lý về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế ở việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN PHÚ VINH

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ ĐẶNG HẢI YẾN

HÀ NỘI, 2011


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...................................................................................................................... 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ
NGUỒN LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TÊ .......... 5
1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế........................................................... 5
1.1.1 Quan điểm của một số nước và các điều ước quốc tế hữu quan về hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế ........................................................................................................ 5
1.1.2 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam ......... 8
1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.................................................... 10

Chương 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC
TẾ ...................................................................................................................................... 59
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế ......................................................................................................................... 59
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế dựa trên thực trạng pháp luật Việt Nam ..................................................................... 59
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam .................................... 60
3.2 Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam vê giao kết và thực hiện
hợp đồng mua bán hàng hóa ............................................................................................. 61
3.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể của Luật Thương mại 2005 liên quan đến
trình tự giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế............................... 61
3.2.2 Gia nhập công ước Viên 1980 và coi Công ước là nguồn bổ trợ cho pháp luật
trong nước về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ....................................................... 62
3.2.3 Thừa nhận án lệ với tư cách là nguồn luật có giá trị tham khảo trong lĩnh vực
pháp luật về hợp đồng ..................................................................................................... 65
KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 71


BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.

Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005

:BLDSVN 2005

2.


Viện thống nhất tư pháp quốc tế

:UNIDROIT


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau
như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ, thương mại trong lĩnh vực đầu tư... Trong đó, mua bán hàng hóa có lúc
là hình thức chủ yếu của hoạt động thương mại quốc tế. Hiện nay, mặc dù đã có
thêm nhiều hình thức thương mại mới song mua bán hàng hóa vẫn chiếm vị trí
trung tâm, có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng
như trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tại Việt Nam, sự phát triển của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế trong
những năm gần đây đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng vào
nền kinh tế thế giới; góp phần tăng tích lũy nội bộ nền kinh tế nhờ sử dụng hiệu quả
lợi thế so sánh trong trao đổi quốc tế; là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng
cao trình độ công nghệ và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nước, tạo việc làm,
tăng thu nhập, cải thiệu đời sống cho người lao động... Theo thống kê, kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 đạt 47,7 tỷ USD và đạt 65 tỷ USD trong năm
2008, tương đương với 73% GDP của cả nước.
Cùng với việc tham gia Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA), sự gia
nhập của Việt Nam vào Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) là một bước ngoặt lớn
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra cơ hội lớn cho nước ta trong hoạt
động ngoại thương, đặc biệt là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Hiện tại, các hoạt động giao dịch, mua bán hàng hóa với những cá nhân, tổ
chức kinh tế của quốc gia khác được các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành tích cực

Dưới góc độ pháp lý, các nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
tương đối phong phú, đáng chú ý có Đề tài khoa học cấp trường: “Pháp luật về mua
bán hàng hóa quốc tế của Việt nam – Sự phát triển và hoàn thiện trong xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế” (Trường Đại học Luật Hà Nội – 2002) do Thạc sỹ Nông
Quốc Bình chủ nhiệm đề tài; Luận văn thạc sỹ luật học “Một số vấn đề pháp lý về
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của
học viên Phạm Lê Vân Hà bảo vệ năm 2002 tại Đại học Luật Hà Nội; bài viết “Sự
cần thiết của việc Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật số 11/2008.... Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu trước đây đều dựa trên mối
tương quan của Luật Thương mai 1997 và pháp luật quốc tế , thêm nữa, chưa có


3

một nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế, vì vậy việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành liên
quan đến vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cần
thiết.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định hiện hành của luật thương mại
trong nước trong mối tương quan với Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế và tập quán thương mại quốc tế liên quan đến quan hệ giao kết và
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn vận dụng các nguyên tắc, phương pháp luận triết học duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, kết hợp với các phương pháp
phân tích, diễn dịch, quy nạp, so sánh, thống kê...
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nhằm làm rõ những khía cạnh pháp lý

UNIDROIT với tư cách là nguồn bổ trợ cho pháp luật trong nước về hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
7. Cơ cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn bao gồm:
Lời mở đầu
Chương 1: Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và nguồn luật điều
chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế tại Việt Nam
Chương 3: Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam
Kết luận


5

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ
NGUỒN LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TÊ
1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.1 Quan điểm của một số nước và các điều ước quốc tế hữu quan về hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Nhìn chung, pháp luật các nước đều khẳng định hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế mang những đặc trưng của hợp đồng mua bán tài sản. Ở đó, có sự thỏa
thuận giữa bên bán và bên mua, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ mua
bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản là đối tượng của hợp
đồng cho bên mua, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán cho bên bán
theo thỏa thuận. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng song vụ, có đền
bù.

“tính quốc gia” của pháp nhân. Có ba cách xác định “tính quốc gia” của pháp nhân:
Một là, theo nơi đăng ký của pháp nhân (thuyết nơi đăng ký) (Anh, Hoa Kỳ, các
quốc gia thuộc Liên Xô cũ). Hai là, theo địa chỉ thường trú của pháp nhân tức là
nói cơ quan quản lý thực tế của pháp nhân (thuyết địa điểm thường trú của pháp
nhân). Ba là, thuyết giám sát, theo cách này, “tính quốc gia” của pháp nhân được
xác định dựa trên cơ sở vốn của chủ thể thuộc quốc gia nào ảnh hưởng đến việc
giám sát hoạt động của pháp nhân. Như vậy, có thể thấy rằng việc xác định tính
quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch trên
thực tế là một việc không dễ dàng và trong một số trường hợp sẽ gây khó khăn
trong việc xác định luật áp dụng cho hợp đồng.
Công ước La Haye 1964 về luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế các động sản hữu hình cũng đưa ra một cách xác định tính quốc tế
của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo đó, một hợp đồng được coi là hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế chỉ khi nó thỏa mãn hai điều kiện: Thứ nhất, trụ sở thương
mại chính của các bên ký kết hợp đồng phải nằm trên lãnh thổ của các quốc gia
khác nhau, đây được coi là yếu tố lãnh thổ; Thứ hai, nó phải thỏa mãn một trong ba
yếu tố phụ sau: (i) Hợp đồng liên quan đến vật mà trong thời gian ký kết hợp đồng
vật đó được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này
đến lãnh thổ của quốc gia khác; (ii)Hành vi chào hàng và hành vi chấp nhận chào


7

hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau; (iii)Việc giao hàng
được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi tiến hành hành
vi chào hàng hoặc hành vi chấp nhận chào hàng (Điều 1, Công ước La Haye năm
1964)[4].
Mặc dù được thông qua và đã có hiệu lực, nhưng Công ước La Haye năm
1964 không được áp dụng rộng rãi cũng như không gây ảnh hưởng trong thực tiễn
ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (ngay cả khi Công ước

quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa dựa trên dấu hiệu lãnh thổ sẽ gặp khó khăn
khi các bên có nhiều trụ sở thương mại. Để giải quyết vấn đề này, Điều 10 Công
ước Viên 1980 quy định, trong trường hợp nếu một trong các bên hay tất cả các bên
có nhiều hơn một trụ sở thương mại thì cần phải chú ý đến trụ sở nào có mối liên hệ
mật thiết với hợp đồng và với việc thực hiện hợp đồng xuất phát từ những hoàn
cảnh mà các bên đã biết trước và đã có dự liệu trước khi hay trong thời điểm ký kết
hợp đồng, còn nếu các bên không có trụ sở thương mại thì cần xác định địa điểm
thường trú của họ.
Hiện nay, nhiều quốc gia đã tham gia Công ước Viên 1980 về mua bán hàng
hóa quốc tế, vì vậy có thể nói rằng pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới
xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu
lãnh thổ của các bên ký kết hợp đồng. Trên thực tế, việc xác định trụ sở thương mại
của thương nhân là một việc đơn giản hơn nhiều so với xác định “tính quốc gia”
(quốc tịch) của họ trong nhiều trường hợp như đã đề cập ở trên.
1.1.2 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật Việt
Nam
Đối với Việt Nam, khái niệm “hợp đồng mua bán ngoại thương” được ghi
nhận lần đầu trong Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK về hướng dẫn việc ký kết
hợp đồng mua bán ngoại thương do Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Công Thương)
ban hành ngày 31/07/1991, theo đó “hợp đồng mua bán ngoại thương là hợp đồng
mua bán có tính chất quốc tế” với ba tính chất sau: thứ nhất, chủ thể của hợp đồng
là những pháp nhân có quốc tịch khác nhau; thứ hai, hàng hóa là đối tượng của hợp
đồng được dịch chuyển từ nước này sang nước khác; thứ ba, đồng tiền thanh toán
trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng. [32]
Đến thời kỳ ra đời và vận hành Luật Thương mại năm 1997 (LTMVN 1997),
thì lại xuất hiện tên gọi “hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài”
theo đó “hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua


9

hợp đồng có yếu tố nước ngoài nói chung để điều chỉnh.


10

Tự những phân tích trên, ta có thể rút ra kết luận hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế còn gọi là hợp đồng xuất, nhập khẩu hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương
là sự thỏa thuận giữa những đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau,
theo đó bên bán (bên xuất khẩu) có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu cho bên
mua (bên nhập khẩu) một tài sản nhất định gọi là hàng hóa; Bên mua có nghĩa vụ
nhận hàng và trả tiền hàng.

1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.2.1 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các chủ thể có hoạt động
kinh doanh quốc tế, có thể là các thể nhân, pháp nhân, trong một số trường hợp
nhất định, Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quan hệ này. Tính quốc tế của các chủ
thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế căn cứ vào dấu hiệu quốc tịch, nơi cư
trú hoặc nơi đặt trụ sở thương mại trong từng trường hợp. Việc các bên có quốc
tịch, có nơi cư trú hoặc có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau được xét là một
trong những căn cứ xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng. Sự khác quốc tịch,
nơi cư trú hoặc trụ sở của một bên được coi là yếu tố nước ngoài đối với bên kia và
ngược lại. Trong một số trường hợp, một trong các bên hoặc các bên có nhiều quốc
tịch, nhiều nơi cư trú hoặc nhiều nơi đặt trụ sở thương mại, thì trước tiên, căn cứ
vào sự lựa chọn của các bên trước hoặc tại thời điểm ký kết hợp đồng. Nếu các bên
không chọn thì quốc tịch, nơi cư trú và trụ sở thương mại của các bên được xác
định khi có căn cứ hợp lý cho rằng quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở thương mại mà
phía đối tác đã biết hoặc có thể biết và đồng ý xác lập trước hoặc tại thời điểm ký
kết hợp đồng, hoặc đó là quốc tịch, nơi cư trú và trụ sở thương mại có mối quan hệ
gần gũi nhất với hợp đồng và thực hiện hợp đồng.

nhóm hàng bị hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu (được quản lý theo hạn ngạch (quota),
hoặc phải đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật, điều kiện chất lượng, vệ sinh an toàn
thực phẩm...
1.2.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được quy định rất
khác nhau trong pháp luật của các quốc gia và pháp luật quốc tế. Có hệ thống pháp
luật yêu cầu bắt buộc hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được
lập thành văn bản, nhưng cũng có hệ thống pháp luật không có bất kỳ một yêu cầu
nào về hình thức hợp đồng. Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể
được xác lập và chứng minh dưới mọi hình thức, kể cả bằng lời khai của nhân


12

chứng. Bên cạnh đó, một điểm cần lưu ý ngay cả trong khái niệm “văn bản” giữa
các quốc gia cũng có cách quan niệm rộng hẹp khác nhau về những dạng vật chất
chứa đựng thông tin nào được coi là “văn bản”. Vì vậy các bên khi tiến hành giao
kết hợp đồng phải thận trọng trong việc tìm hiểu các quy định của luật có khả năng
được áp dụng cho quan hệ hợp đồng, nhằm cố gắng tránh được tối đa các hậu quả
pháp lý bất lợi và các thiệt hại có thể xảy ra.
1.2.4 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là tổng hợp các quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng (bên mua và bên bán), được hình thành trong
quá trình các bên thương lượng, thỏa thuận và đi đến ký kết hợp đồng. Nội dung
của hợp đồng phải hợp pháp, thể hiện ý chí của các bên. Trong thực tiễn, các bên
thỏa thuận nội dụng hợp đồng càng chi tiết thì càng thuận lợi cho việc thực hiện
hợp đồng. Việc đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng phải tuân thủ các nguyên
tắc cơ bản, các quy định trong pháp luật của các quốc gia và pháp luật quốc tế trong
lĩnh vực hợp đồng.
1.2.5 Luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

này, việc áp dụng Điều ước quốc tế phải tuân thủ các nguyên tắc của việc áp dụng
tập quán thương mại, nghĩa là nếu quy định nào đó của Điều ước trái với luật Việt
nam thì phải áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, điều ước quốc tế
cũng có thể được áp dụng trong trường hợp nếu chỉ có quốc gia của một trong hai
chủ thể tham gia điều ước quốc tế nhưng các chủ thể của hợp đồng thỏa thuận áp
dụng luật của nước là thành viên công ước.
Vai trò của điều ước quốc tế thể hiện ở chỗ, nó là công cụ pháp lý hữu hiệu để
giải quyết xung đột pháp luật và sự có mặt của điều ước quốc tế hạn chế việc áp
dụng các quy phạm của pháp luật nước ngoài.

* Pháp luật quốc gia
Luật quốc gia trong thương mại quốc tế là tổng hợp các quy định điều chỉnh
các hoạt động của các chủ thể trong hoạt động thương mại quốc tế. Với tư cách là
nguồn luật của thương mại quốc tế, luật quốc gia có thể được thể hiện dưới hình
thức văn bản hoặc không được thể hiện dưới hình thức văn bản. Nguồn luật này
được thể hiện dưới hình thức nào hoàn toàn phụ thuộc vào từng hệ thống pháp luật
nhất định.
Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, quyền và nghĩa vụ của các bên
được điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia trong lĩnh vực dân sự, thương mại. Các quy


14

phạm pháp luật quốc gia trong điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
được chia thành hai nhóm: Một là, các quy phạm bắt buộc, (ví dụ, các quy phạm về
chủ thể ký kết hợp đồng, hình thức của hợp đồng, đối tượng của hợp đồng...). Các
quy phạm loại này có hiệu lực pháp lý trong mọi trường hợp, không phụ thuộc vào
việc luật áp dụng cho hợp đồng là luật quốc gia nào, điều ước quốc tế hay tập quán
thương mại quốc tế. Hai là, các quy phạm nội dung, tức là các quy phạm quy định
quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Việc áp dụng các quy phạm này

trong nước quy định áp dụng; thứ tư, cơ quan xét xử cho rằng các bên chủ thể đã
mặc nhiên áp dụng tập quán thương mại quốc tế trong giao dịch thương mại của họ.
Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, ngoài tập quán thương mại, trong
nhiều trường hợp, hợp đồng mẫu cũng được sử dụng như là nguồn áp dụng của hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Mặc dù về bản chất, hợp đồng mẫu hạn chế tự do
của các bên trong việc xác định điều kiện của hợp đồng, nhưng chính sự tự do của
các bên trong việc xác định điều kiện của hợp đồng là cơ sở để xây dựng các hợp
đồng mẫu. Trên phiếu ghi hợp đồng mẫu có văn bản của hợp đồng và có một số
điều khoản đã được điền vào (tên gọi, địa chỉ của các bên, giá, thời hạn giao hàng,
mô tả hàng hóa....) và hợp đồng này có hiệu lực khi các bên ký lên phiếu.
Thông thường, hợp đồng mẫu được soạn thảo bởi những chủ thể có uy tín
trong hoạt động thương mại quốc tế, hay bởi những hiệp hội chuyên nghiệp của các
chủ thể luật thương mại quốc tế (Ủy ban thương mại hay hiệp hội nghề nghiệp)
hoặc bởi những tổ chức quốc tế, ví dụ, những hợp đồng mẫu được London Cor
Trade Association soạn thảo.

* Án lệ
Án lệ được hiểu là trường hợp các quyết định xét xử của tòa án hoặc cơ quan
hành chính được sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra
sau đó. Đặc trưng cơ bản của án lệ là việc tòa án tham gia tích cực vào hoạt động
xây dựng pháp luật. Sở dĩ như vậy là vì bản án của tòa trong trường hợp này có giá
trị như một căn cứ pháp lý – vốn là chỗ dựa để các quan tòa đưa ra các bản án. Nói
cách khác, án lệ là cách thức giải thích và áp dụng pháp luật của tòa án về một,
hoặc một số vấn đề nhất định, lâu dần cách áp dụng này trở thành một tiền lệ, một
chuẩn mực để thẩm phán dựa vào đó mà xử lý các trường hợp tương tự về sau. Như
vậy, án lệ ra đời thường là do pháp luật chưa đủ để điều chính các quan hệ xã hội
hoặc bản thân các quy định của pháp luật còn thiếu sót, hoặc không thể giải thích.
Pháp luật Anh, Mỹ thừa nhận án lệ là một trong những nguồn luật cơ bản điều
chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo đó, tòa án không chỉ can thiệp vào


đặc thù của các nước thuộc hệ thống luật Anh – Mỹ. Tuy nhiên, tại các nước vốn có
truyền thống dân luật như Pháp, Đức, Nhật cũng đã xem các bản án của tòa phúc
thẩm có giá trị như một nguồn luật thông qua việc công bố các bản án của tòa cấp


17

phúc thẩm để làm tài liệu cho thẩm phán các cấp tham chiếu khi xét xử các vụ việc
tương tự.
Trong thương mại quốc tế, đặc biệt là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, từ
lâu án lệ luôn được sử dụng như là một cách thức để tòa án, trọng tài thương mại
dựa vào để giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trên cơ sở hợp đồng giữa các bên
chủ thể. Song cũng cần lưu ý rằng mức độ thừa nhận và vận dụng án lệ là không
giống nhau ở các quốc gia và các hệ thống tài phán. Chẳng hạn, trong tài phán quốc
tế về thương mại, WTO không công nhận nguyên tắc án lệ; tuy nhiên trong thực
tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế, các ban hội thẩm thường dựa rất nhiều vào việc
tham khảo cách thức giải quyết của các ban hội thẩm trước đó qua những vụ việc
tương tự. Điểm khác là các bản án xét xử này chỉ có giá trị tham khảo chứ không
trở thành các quy định có tính bắt buộc như ở hệ thống các quốc gia theo thông
luật.


18

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
2.1 Các quy định về hiệu lực pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế
2.1.1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

thể, đối với chủ thể là cá nhân, pháp luật Việt Nam quy định công dân Việt Nam từ
đủ 18 tuổi trở lên được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu không thuộc
các trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
quy định tại Điều 22 và 23 BLDSVN 2005. Đối với chủ thể là pháp nhân, Điều 86
BLDSVN 2005 chỉ rõ “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời
điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân”.
Ngoài yêu cầu về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của chủ thể,
pháp luật về thương mại của Viêt Nam còn quy định chủ thể của hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế phải là thương nhân, nghĩa là bao gồm các tổ chức kinh tế được
thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên
và có đăng ký kinh doanh (Điều 6 LTMVN 2005).
Thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (gồm
có: các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh
nghiệp, Luật Hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể được thành lập và đăng ký kinh
doanh theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2004 của Chính
phủ về đăng ký kinh doanh) được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc
vào ngành nghề đăng ký kinh doanh, chỉ trừ các hàng hóa thuộc Danh mục cấm
xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm
ngừng nhập khẩu. Chi nhánh của thương nhân cũng được xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hóa theo ủy quyền của thương nhân [19].
Đối với thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài, công ty và chi nhánh công ty
nước ngoài tại Việt Nam thì khi tiến hành ký kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế ngoài việc phải thực hiện các quy định tại Nghị định 12/2006/NĐ-CP
còn phải tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan (ví dụ Luật Đầu tư
Việt Nam năm 2006) và các cam kết của Việt Nam trong các Điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên (ví dụ các Hiệp định bảo hộ và khuyến khích đầu tư giữa
Việt Nam với các nước). Cụ thể là có hai trường hợp mua bán hàng hóa quốc tế của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Trường hợp thứ nhất, doanh nghiệp có vốn



Đối với các nước Đông Âu, người ta căn cứ vào luật nơi ký kết hoặc luật nơi
thực hiện hợp đồng, trên cơ sở ưu tiên áp dụng luật nơi ký kết hợp đồng để giải
quyết xung đột pháp luật về hình thức của hợp đồng. Còn với đa số các nước Bắc


21

Âu, Tây Âu và châu Mỹ, khi giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của hợp
đồng thì luật nơi ký kết hợp đồng được ưu tiên áp dụng.
BLDSVN 2005 quy định hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của
nước nơi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước
ngoài mà vi phạm quy định về hinh thức hợp đồng theo pháp luật của nước đó
nhưng không trái với quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đồng được giao kết ở nước ngoài đó vẫn
được công nhận tại Việt Nam.
Công ước Viên 1980 không yêu cầu các bên phải ký, xác nhận bằng văn bản
hoặc phải tuân thủ bất kỳ yêu cầu nào về mặt hình thức của hợp đồng mua bán. Các
bên có thể dùng bất kỳ phương tiện nào, kể cả lời khai nhân chứng, để chứng minh
về sự tồn tại của hợp đồng. Tuy vậy, Điều 96 của Công ước cũng quy định: “nếu
nước thành viên mà trong pháp luật nước đó đòi hỏi hợp đồng phải được ký kết
hoặc phê chuẩn dưới hình thức văn bản thì điều quy định này của pháp luật nước
thành viên đó phải được tôn trọng”.
Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) của UNIDROIT không
bắt buộc hợp đồng, tuyên bố hay bất kỳ một hành vi nào khác phải được giao kết
hay chứng minh bằng một hình thức đặc biệt. Chúng có thể được chứng minh bằng
bất kỳ cách thức nào, kể cả bằng nhân chứng. Tuy nhiên, Bộ nguyên tắc này không
hạn chế việc áp dụng những quy phạm bắt buộc, có nguồn gốc quốc gia, quốc tế
phù hợp với các quy phạm có liên quan của Tư pháp quốc tế, tức là nguyên tắc tự
do về hình thức hợp đồng có thể bị hạn chế bởi các quy định riêng của pháp luật
quốc gia hoặc pháp luật quốc tế. Theo đó, nếu trong pháp luật quốc gia, pháp luật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status