BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ NHÀN
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
CỦA TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN:
TS PHAN CHÍ HIẾU
HÀ NỘI - 2011
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn
sự giúp đỡ quý báu của các thầy, cô giáo cũng như các bạn đồng nghiệp, đặc
biệt là sự giúp đỡ tận tình và chu đáo của Tiến sĩ Phan Chí Hiếu.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa sau
đại học của Trường, Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tác giả.
Tác giả luận văn
: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
WTO
: Tổ chức thương mại thế giới
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU...…………………………………….………………...……...1
1.Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………………..1
2.Tình hình nghiên cứu đề tài…………………………………………………3
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài…………………………………………….. 3
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài…………………3
5. Nhiệm vụ, mục đích của việc nghiên cứu đề tài…………………………....4
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn………………………………5
7. Cơ cấu của luận văn………………………………………………………..5
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI…………...6
1.1 Khái luận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại..6
1.1.1 Trọng tài thương mại - một phương thức giải quyết tranh chấp thương
mại phổ biến trong nền kinh tế thị trường……………………………………6
1.1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại và vai trò của trọng tài trong việc giải
quyết tranh chấp thương mại………………………………………………….6
1.1.1.2 Lược sử quá trình hình thành và phát triển của phương thức giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài ở Việt Nam……………………………………….11
1.1.2 Thẩm quyền và các căn cứ xác định thẩm quyền của trọng tài thương
mại…………………………………………………………………………...17
1.2 Pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương
3.1.1 Xuất phát từ thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của trọng tài thương mại……………………………………………….59
3.1.2 Xuất phát từ vị trí của trọng tài trong các phương thức giải quyết tranh
chấp thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế…………………..62
3.2 Những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả áp dụng các quy
định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại………..63
3.3 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại………………………69
3.3.1 Giải pháp về mặt thể chế………………………………………………69
3.3.2 Giải pháp về mặt thiết chế có liên quan đến trọng tài thương mại…….70
3.3.3 Các giải pháp khác có liên quan đến trọng tài thương mại……………72
KẾT LUẬN…………………………………………………………………75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.…………………………………77
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Có thể nói đặc trưng quan trọng, cơ bản, nổi bật nhất của kinh tế thế
giới hiện nay là xu hướng toàn cầu hóa trong đó quan hệ hợp tác kinh tế quốc
tế giữa các quốc gia luôn được củng cố và phát triển. Trong điều kiện hội
nhập quốc tế diễn ra hết sức mạnh mẽ đó thì cũng phát sinh ngày càng nhiều
những tranh chấp thương mại không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về số lượng
mà độ phức tạp của các tranh chấp cũng ngày một nâng cao. Hơn lúc nào hết
tranh chấp và giải quyết tranh chấp đang là một vấn đề “nổi cộm” của nền
kinh tế thế giới hiện nay. Điều đó cũng giúp định hướng tư duy của các chủ
thể khi tham gia vào các quan hệ kinh tế có phát sinh tranh chấp các phương
mại là một tất yếu khách quan. Sự ra đời của Luật Trọng tài thương mại với
nhiều quy định mới về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế góp
phần tạo niềm tin cho các cá nhân, tổ chức khi lựa chọn phương thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài. Một trong những điểm mới của Luật Trọng
tài thương mại thu hút được nhiều nhất sự quan tâm của các chuyên gia pháp
lý trong và ngoài nước, các nhà hoạt động thực tiễn và của các nhà làm luật là
quy định về mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài. Đây
được coi như quy định mang tính đột phá, là cơ sở để trọng tài tiếp cận gần
hơn với các doanh nghiệp đồng thời cũng là cách biểu hiện sự tôn trọng quyền
tự do định đoạt của các cá nhân, tổ chức trong đó có quyền tự do lựa chọn
phương thức giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên để các quy định này không chỉ
có hiệu lực trên giấy thì cần có sự đánh giá khách quan, chính xác những cơ
sở lý luận và thực tiễn của việc ban hành các quy định về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp của trọng tài để thực tiễn hóa các quy định này vào đời sống
kinh tế của các cá nhân, tổ chức. Với mong muốn được luận bàn chuyên sâu,
góp phần hoàn thiện pháp luật trọng tài ở Việt Nam, tác giả chọn đề tài :
3
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
trọng tài thương mại” .
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu ở cấp độ khác nhau về
phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, có thể nêu một số công
trình như: “Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong
điều kiện hội nhập quốc tế” (Luận án Tiến sỹ Luật học của tác giả Nguyễn
Đình Thơ – Đại học Luật Hà Nội năm 2007); “Pháp luật giải quyết tranh chấp
bằng hình thức trọng tài” (Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Phạm Thị
Phương Thủy – Đại học Luật Hà Nội năm 2004); “Những vấn đề pháp lý về
giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại vào đời sống pháp luật của các
cá nhân, tổ chức nhằm hoàn thiện hơn những quy định về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp của trọng tài nói riêng và của pháp luật về trọng tài thương
mại nói chung, góp phần nâng cao hiệu quả của phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài trên thực tế.
5.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra các nghiên cứu:
- Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các quy định về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại.
- Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật trọng tài thương mại về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài; đánh giá thực trạng áp dụng của các
quy định đó trong thực tiễn từ đó chỉ ra các khó khăn, vướng mắc đang và sẽ
gặp phải liên quan đến việc áp dụng quy định về thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của trọng tài thương mại.
- Dự báo những vấn đề đặt ra khi mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp
của trọng tài thương mại và đưa ra những giải pháp nhằm thực tiễn hóa một
cách hiệu quả các quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
của trọng tài thương mại trong thực tiễn.
5
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp của trọng tài thương mại, Luận văn dự kiến sẽ có những
đóng góp mới sau đây:
- Thứ nhất: Luận văn đã giải quyết những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp của trọng tài thương mại, nghiên cứu một cách khái quát về
quá trình hình thành và phát triển của phương thức trọng tài nói chung và chế
định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài thương mại nói riêng
thƣơng mại phổ biến trong nền kinh tế thị trƣờng
1.1.1.1. Khái niệm trọng tài thương mại và vai trò của trọng tài trong việc
giải quyết tranh chấp thương mại
Trong cơ chế kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của các quan hệ
kinh tế cũng kéo theo các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế ngày càng
gia tăng về số lượng và độ phức tap của các tranh chấp. Để giải quyết các
tranh chấp, pháp luật cho phép các cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ
kinh tế có quyền lựa chọn một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh một thiết chế giải quyết
tranh chấp truyền thống mang tính quyền lực nhà nước là Tòa án (tài phán
công) thì còn tồn tại một cơ chế giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR) bao
gồm thương lượng, hòa giải và trọng tài. Và trọng tài thương mại với tư cách
là một cơ quan tài phán tư không mang tính quyền lực nhà nước đã xuất hiện
khá lâu, cách đây hơn một thế kỷ ngày càng trở lên phổ biến và được ưa
chuộng trong đời sống thương mại quốc tế cũng như trong đời sống thương
mại của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Thực tiễn giải quyết tranh chấp
thương mại trên thế giới hiện nay chứng tỏ trọng tài là một phương thức hữu
hiệu để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại. Vậy, trọng tài là gì?
Theo Từ điển Tiếng Việt, trọng tài được hiểu là “Người được cử ra để
phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp ”[37]. Còn theo cuốn Đại từ điển
7
kinh tế thị trường định nghĩa trọng tài như sau “Trọng tài là phương pháp giải
quyết hòa bình các vụ tranh chấp. Là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem
những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư cách
công bằng, chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực
ràng buộc cả hai bên ”. Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA) có quan điểm tương
tự về trọng tài, theo đó “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng
thuận lựa chọn và có sự tham gia của bên thứ ba như hòa giải và thương
lượng nhưng chỉ có trọng tài là có quyền phán xét và ra quyết định có hiệu lực
bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp (tính chất tài phán). Từ lâu trọng
tài đã trở thành một phương thức phổ biến để giải quyết các tranh chấp trong
kinh doanh. Thực tế trên xuất phát từ những lợi thế to lớn mà trọng tài mang
lại cho các nhà kinh doanh khi họ lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp
đã phát sinh giữa họ với nhau. Xét trong quan hệ so sánh với các phương thức
khác thì trọng tài có những ưu thế sau:
Thứ nhất: trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo,
nhanh chóng, thuận lợi cho các bên.
Khi xét xử tại tòa án, các bên hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của
tòa án về thủ tục, thời gian, địa điểm, cách thức xét xử. Theo quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với một vụ án kinh doanh
thương mại là hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, còn đối với vụ án có tính chất
phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì có thể gia hạn thêm một tháng (Điều
179) [2]. Trong khi đó với nguyên tắc xét xử một lần và thủ tục trọng tài
không mang tính hình thức nặng nề, các bên thông thường được tự do lựa
chọn thủ tục, thời gian, địa điểm, phương thức giải quyết tranh chấp theo
phương thức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn
khổ pháp luật cho phép. Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng
hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp. Yếu tố thời gian luôn đồng hành
9
cùng những cơ hội kinh doanh hấp dẫn và việc theo đuổi thủ tục tố tụng phức
tạp tại tòa án có thể đặt các nhà kinh doanh trước nguy cơ bỏ lỡ cơ hội kinh
doanh. Vì vậy, trọng tài ra đời chính từ yêu cầu giải quyết tranh chấp nhanh
chóng, kịp thời và cũng chính từ yêu cầu này mà trọng tài thường chỉ thích
hợp để giải quyết các tranh chấp phát sinh chủ yếu từ hoạt động thương mại.
quan giải quyết tranh chấp phải hoàn toàn mang tính trung lập. Tuy nhiên, hệ
thống tòa án nhiều khi không đáp ứng được điều này hoặc ít ra là theo cảm
nhận của các bên là như vậy. Ví dụ trong cùng một quốc gia, việc tòa án tỉnh
của nơi đương sự sống và làm việc thụ lý vụ án cũng có thể khiến cho bên
đương sự kia có cảm giác sẽ bị “bất lợi”. Điều này thể hiện rõ nhất khi tranh
chấp giữa các bên đến từ các quốc gia khác nhau. Nếu tranh chấp giữa các
bên là nhà đầu tư nước ngoài và một bên Việt Nam được xét xử tại tòa án Việt
Nam, do các thẩm phán Việt Nam xét xử thì chắc chắn bên nước ngoài sẽ có
những cảm nhận về sự không trung lập của tòa án cho dù điều này có trên
thực tế hay không. Cảm nhận này sẽ khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài
không muốn mang tranh chấp ra tòa án Việt Nam xét xử và hệ quả là có thể
nhà đầu tư phải thỏa hiệp trong tranh chấp hoặc hơn nữa có thể là nhà đầu tư
ngay từ đầu đã quyết định không tham gia quan hệ thương mại với bên Việt
Nam vì khoan ngại rằng nếu có tranh chấp xảy ra sẽ không được xét xử công
bằng.
Nếu theo cơ chế trọng tài thì khoan ngại trên hoàn toàn được giải quyết.
Các bên có toàn quyền thỏa thuận thành lập một hội đồng trọng tài để giải
quyết tranh chấp trong đó thành phần hội đồng trọng tài, tiêu chuẩn trọng tài
viên, cách thức chỉ định trọng tài viên, quốc tịch trọng tài viên hoàn toàn do
các bên quyết định. Việc này sẽ đảm bảo tính trung lập, công bằng cao hơn,
tạo sự an tâm cho các bên tranh chấp.
11
Thứ sáu: trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mang tính chuyên
môn cao.
Khi mang một vụ tranh chấp ra xét xử tại tòa án, đặc biệt là các tranh chấp
kinh doanh thương mại mà đối tượng của tranh chấp thường liên quan đến
những lĩnh vực đặc thù đòi hỏi có trình độ chuyên môn cao như dầu khí, xây
của trọng tài thương mại ở Việt Nam như sau:
* Giai đoạn trƣớc Hiến pháp 1992.
Lịch sử phát triển của trọng tài thương mại ở Việt Nam bắt đầu năm
1960 cùng với sự hình thành của cơ chế hợp đồng kinh tế. Lần đầu tiên, một
tổ chức giải quyết tranh chấp kinh tế với tên gọi là trọng tài được thành lập
theo tinh thần của Nghị định số 04-TTg ngày 1/4/1960 của Thủ tướng nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngay sau đó Nghị định số 20/TTg ngày
14/1/1960 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức ngành Trọng tài kinh tế,
các cơ quan trọng tài kinh tế được thành lập ở các cấp trung ương, khu, tỉnh,
thành phố và ở các ngành kinh tế. Năm 1965, các hội đồng trọng tài được thay
thế bằng các hội đồng trọng tài kinh tế ở các cấp cụ thể là: Hội đồng trọng tài
kinh tế Nhà nước ở cấp trung ương, các hội đồng trọng tài kinh tế cấp tỉnh và
hội đồng trọng tài kinh tế cấp bộ. Bước cuối cùng trong quá trình phát triển
của trọng tài kinh tế Nhà nước ở Việt Nam là việc thành lập cơ quan trọng tài
kinh tế Nhà nước theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ban hành ngày 10 tháng 1
năm 1990.
Như vậy các cơ quan trọng tài kinh tế trước đây mặc dù được pháp luật
quy định có những chức năng độc lập. Tuy nhiên, nó vẫn chỉ là một bộ phận
thuộc thuộc cơ quan hành chính của mỗi cấp khác nhau. Về bản chất, nó là cơ
quan hành pháp nhưng có những nhiệm vụ mang tính chất tư pháp.
Bên cạnh hệ thống trọng tài kinh tế Nhà nước giải quyết các tranh chấp
hợp đồng trong nước, xuất phát từ thực tiễn hợp tác kinh tế quốc tế, từ đầu
13
những năm 1960, ở nước ta còn hình thành các cơ quan trọng tài để giải quyết
các tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
Hội đồng trọng tài ngoại thương được thành lập theo Nghị định số
59/CP ngày 30/4/1963. Và hơn một năm sau, Hội đồng trọng tài Hàng hải
pháp luật. Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh tế, các bên có quyền tự
do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp và Nhà nước có trách nhiệm
tạo lập hành lang pháp lý phù hợp cho sự phát triển các phương thức, các tổ
chức giải quyết tranh chấp đáp ứng được các yêu cầu của giới kinh doanh
trong và ngoài nước khi đầu tư vào Việt Nam.
Trước tiên, sự đổi mới diễn ra trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp phát
sinh từ các quan hệ kinh tế quốc tế. Đường lối “mở cửa” đã tạo điểu kiện cho
hoạt động thương mại nói chung, thương mại quốc tế nói riêng của Việt Nam
thật sự khởi sắc. Số lượng các hợp đồng kinh doanh được ký kết giữa các
doanh nhân Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế và các doanh nhân, nhà
đầu tư nước ngoài tăng nhanh dẫn đến điều không thể tránh khỏi là tăng các
số lượng và tính chất phức tạp của các tranh chấp thương mại quốc tế. Để đáp
ứng yêu cầu của thực tế, Thủ tướng Chính phủ quyết định hợp nhất Hội đồng
trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải để thành lập Trung tâm
Trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt
Nam (VIAC) theo quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993.
Sự cải cách cơ bản hệ thống trọng tài kinh tế trong nước diễn ra chậm
hơn. Cùng với việc thành lập hệ thống tài phán kinh tế chuyên trách tại các
tòa án nhân dân, hệ thống trọng tài kinh tế nhà nước đã bị bãi bỏ và chấm dứt
hoạt động. Trong khi đó, các quan hệ kinh tế, kinh doanh trong nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần ngày càng đa dạng, phong phú, các tranh chấp
phát sinh từ đó ngày càng nhiều về số lượng, đa dạng và phức tạp về tính chất
và nội dung. Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn, Chính phủ đã ban hành Nghị định
15
số 116/CP ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế Việt
Nam, theo đó trọng tài kinh tế đã thay đổi về bản chất không còn là cơ quan
nhà nước mà là một tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoạt động dưới hình thức
Nhận thức được sự cần thiết phải hoàn thiện các văn bản pháp luật về
trọng tài, ngày 24 tháng 2 năm 2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua
Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Sự ra đời của Pháp lệnh đã đánh dấu một
bước phát triển mới trong quá trình xây dựng pháp luật kinh tế ở Việt Nam
nói chung và pháp luật trọng tài nói riêng. Pháp lệnh đã khắc phục được
những điểm bất cập ,chồng chéo, mâu thuẫn của văn bản trước đây về trọng
tài, đồng thời đưa ra nhiều cơ chế, quy định mới có khả năng đáp ứng tốt hơn
các yêu cầu của quá trình hội nhập. So với các văn bản trước đây về trọng tài,
Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 có nhiều điểm mới cơ bản trong đó Pháp
lệnh đã mở rộng đáng kể thẩm quyền của trọng tài thương mại.
Tuy nhiên, qua hơn 6 năm thi hành, Pháp lệnh cũng bộc lộ nhiều hạn
chế mà hạn chế đầu tiên nằm ở giá trị pháp lý của Pháp lệnh trong bối cảnh
thủ tục tố tụng tại tòa án được điều chỉnh bằng một bộ luật thì tố tụng trọng
tài chỉ được điều chỉnh bằng một pháp lệnh chứa cả quy phạm nội dung và
quy phạm tố tụng, mặt khác Pháp lệnh cũng chưa đảm bảo được sự tương
thích với cả hệ thống pháp luật điều này dẫn đến tình trạng trọng tài chưa thực
sự thể hiện được vai trò của nó trong các phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại và thực tế là các doanh nghiệp cũng không “mặn mà” với phương
thức giải quyết tranh chấp tại trọng tài.
* Luật trọng tài thƣơng mại 2010 – Bƣớc đột phá thể hiện tham vọng “lột
xác” của trọng tài để trở thành một công cụ hữu hiệu trong việc giải
quyết các tranh chấp thƣơng mại.
PLTTTM 2003 về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế
trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của trọng tài như quy định về hiệu
17
lực của thỏa thuận trọng tài, điều kiện trở thành trọng tài viên, quy định về
trọng tài vụ việc, ghi nhận mối quan hệ giữa trọng tài và tòa án thông qua các
thuận của nguyên đơn thì thẩm quyền của trọng tài chỉ là thẩm quyền vụ việc
nếu được các bên có vụ việc lựa chọn đích danh. Thẩm quyền của trọng tài
không được phân định theo lãnh thổ vì thế các bên tranh chấp có quyền thỏa
thuận lựa chọn bất kỳ một tổ chức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp của
họ, không phụ thuộc vào nơi ở cũng như trụ sở của nguyên đơn hay bị đơn,
cũng không phân được theo cấp xét xử vì chỉ có một cấp trọng tài và lại càng
không phân định theo sự lựa chọn của nguyên đơn vì trọng tài chỉ có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp khi các bên đều thống nhất lựa chọn và có thỏa
thuận trọng tài. Vậy thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài là gì?
Theo từ điển Tiếng Việt “Thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và
định đoạt một số vấn đề theo pháp luật ” [32]. Định nghĩa này đã khái quát
một cách chung nhất về thẩm quyền. Tuy nhiên, xem xét để đưa ra một khái
niệm đầy đủ về thẩm quyền dưới góc độ pháp lý ở Việt Nam hiện nay cũng
còn khá nhiều ý kiến khác nhau. Có quan điểm cho rằng “thẩm quyền bao
gồm nhiệm vụ và quyền hạn”, nhưng quan điểm khác lại cho rằng, thẩm
quyền là phương tiện để các cơ quan, tổ chức thực hiện và duy trì chức trách
và nhiệm vụ của mình. Những quan điểm trên tuy tiếp cận vấn đề ở những
góc độ khác nhau nhưng nội dung cơ bản đều nhấn mạnh: thẩm quyền là khả
năng của chủ thể trong việc xem xét và giải quyết hay định đoạt công việc nào
đó trên cơ sở các chuẩn mực pháp lý đã định trước.
Vậy thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại theo
nghĩa rộng bao gồm quyền xem xét và quyền giải quyết vụ tranh chấp. Theo
đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại bao gồm hai
yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm
quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức là quyền xem xét và phạm vi
các loại việc trọng tài được quyền giải quyết. Thẩm quyền về nội dung là
19