BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN HOÀNG LONG
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ MÔ HÌNH NUÔI CÁ TRONG
RUỘNG LÚA TẠI TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2017
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN HOÀNG LONG
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ MÔ HÌNH NUÔI CÁ TRONG
RUỘNG LÚA TẠI TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành:
Nuôi trồng thủy sản
Mã số:
60620301
Quyết định giao đề tài:
LỜI CÁM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài, Tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, tạo
điều kiện của các quý phòng, ban của Trường Đại học Nha Trang, Khoa sau đại học,
Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1; Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản –Trường
Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản – Hải Phòng và các Thầy, Cô giáo kính
mến đã dạy bảo và dìu dắt giúp đỡ tôi có kiến thức và hoàn thiện đề tài nghiên cứu của
mình. Đặc biệt, xin trân trọng biết ơn sự quan tâm dạy dỗ và hướng dẫn, giúp đỡ của
thầy giáo TS. Nguyễn Lâm Anh đã định hướng và tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, hướng
dẫn cho tôi hoàn thành tốt đề tài này.Tôi xin bày tỏ sự biết ơn các Cơ quan, đơn vị Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên, Chi cục Thủy sản tỉnh Hưng
Yên, UBND các huyện, thành phố, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (phòng
Kinh tế) các huyện, thành phố, UBND các xã, phường thị trấn trong tỉnh Hưng Yên đã
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới các ông bà tham gia thực hiện mô hình nuôi cá trong
ruộng lúa tạo điều kiện thời gian và bố trí đầy đủ nguồn lực tài chính thực hiện nhiệm
vụ để có những thông tin chính xác và kịp thời giúp tôi hoàn thiện báo cáo nghiên cứu
đề tài.
Xin trân trọng cám ơn các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè xa gần đã quan tâm,
chia sẻ, đóng góp những ý kiến cũng như động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu luận văn
Tôi xin trân trọng cám ơn./.
Hưng Yên, ngày 8 tháng 7 năm 2017
Tác giả
Trần Hoàng Long
iv
2.4. Phương pháp xử lý số liệu ........................................................................................ 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................19
3.1. Kết quả nghiên cứu .................................................................................................19
3.1.1. Hiện trạng kinh tế xã hội của các hộ nuôi cá trong ruộng lúa ............................ 19
3.1.2. Hiện trạng kỹ thuật của các hộ nuôi cá trong ruộng lúa..........................................21
3.1.3. Hiện trạng kỹ thuật ở các hộ xây dựng mô hình nghiên cứu sâu ........................... 27
3.1.4. Chính sách quản lý và quy hoạch nuôi cá trong ruộng lúa của tỉnh........................ 35
3.2. Đánh giá thuận lợi, khó khăn..................................................................................36
3.2.1. Thuận lợi ..............................................................................................................36
3.2.2. Khó khăn..............................................................................................................37
3.3. Đề xuất một số giải pháp cơ bản phát triển nuôi cá trong ruộng lúa bền vững......37
3.3.1. Giải pháp về quy hoạch ....................................................................................... 37
3.3.2. Giải pháp về quản lý ............................................................................................ 37
3.3.3. Giải pháp về vốn ....................................................................................................38
3.3.4. Giải pháp về con giống ........................................................................................ 38
3.3.5. Giải pháp về thức ăn ............................................................................................ 38
3.3.6. Giải pháp về kỹ thuật ........................................................................................... 38
3.3.7. Giải pháp về quan trắc môi trường, cảnh báo phòng ngừa dịch bệnh thủy sản .....39
3.3.8. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực ..................................................................39
3.3.9. Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm .......................................................... 39
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ...................................................... 40
4.1. Kết luận...................................................................................................................40
4.2. Khuyến nghị ...........................................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 42
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BOD5
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
UBND
Ủy ban nhân dân
VietGap
Thực hành nuôi thủy sản tốt tại Việt Nam
VSV
Vi sinh vật
DT
Diện tích
n
Số lượng mẫu thu thập
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Hiện trạng nuôi cá trong ruộng lúa tại Hưng Yên ........................................14
Hình 3.1. Sơ đồ mặt cắt ngang ruộng lúa nuôi cá kết hợp .............................. 22
ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài được thực hiện với vấn đề nghiên cứu là “Hiệu quả mô hình nuôi cá
trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên”. Mục tiêu của đề tài cung cấp những thông tin
khoa học và thực tiễn về tình hình kinh tế - xã hội, hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh
tế xã hội nuôi cá trong ruộng lúa để làm cơ sở cho các nhà quản lý, hoạch định chính
sách để nghề nuôi cá trong ruộng lúa theo hướng hiệu quả kinh tế và bền vững.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 năm 2015 đến hết tháng 6 năm 2016 tại
tỉnh Hưng Yên.
Theo báo cáo tổng kết công tác phát triển thủy sản tỉnh Hưng Yên năm 2015 (Chi
cục Thủy sản Hưng Yên, 2015) của Chi cục Thủy sản Hưng Yên thì trên địa bàn toàn
tỉnh có 53 hộ nuôi cá trong ruộng lúa. Số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan quản
lý tại địa phương, số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn
trực tiếp toàn bộ 53 hộ nuôi cá trong ruộng lúa tại các huyện, thành phố và 10 phòng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (p. Kinh tế) các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh.
Cụ thể hơn, đề tài đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả
kinh tế 3 mô hình tại 9 hộ dân nuôi cá trong ruộng lúa trên địa bàn 9 xã thuộc 3 huyện
tại tỉnh Hưng Yên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chủ hộ nuôi cá trong ruộng lúa phần lớn đều là
nam giới, tuổi trung bình là 45. Các hộ nuôi không có trình độ chuyên môn chiếm tới
96,22%, nuôi chủ yếu theo quy mô từ 1 - 4 ha/hộ và không có sự liên kết; đối tượng
nuôi trong ruộng lúa là các loài cá: trắm cỏ, chép, rô phi, mè. Quan điểm các nhà quản
lý thủy sản các huyện, thành phố đều có chủ trương quy hoạch vùng nuôi cá trong
ruộng lúa, có hỗ trợ nông dân nuôi cá trong ruộng lúa qua các hình thức. Cho tập huấn
kỹ thuật, hỗ trợ bảo vệ đồng ruộng, tạo điều kiện về thủy lợi để nuôi cá.100% sản
phẩm thủy sản hiện nay đều do tư thương đảm nhiệm tiêu thụ, cá giống được nông dân
bình so mặt nước biển từ +3 đến +4m. Dân số 1.164.000 người, trong đó số sống ở nông
thôn là 1.012.418 người chiếm 86,7% dân số của tỉnh;
Diện tích tự nhiên là 930,22 km2có diện tích đất nông nghiệp trên 86.017 ha, trong
đó; diện tích ao, hồ, đầm nuôi cá trên 5.550 ha (theo niên giám thống kê năm 2015), ruộng
thấp trũng trên 4.400 ha phân bố hầu hết các huyện, thành phố, trong đó có trên 1.700 ha
có khả năng nuôi cá trong ruộng lúa, trên 760 ha ruộng đặc biệt thấp trũng trồng lúa hiệu
quả rất thấp, giá trị sản xuất không tương xứng với mức đầu tư, không đáp ứng yêu cầu
sản xuất lúa của nông dân. Trong mấy năm từ 2014 đến 2015 Hưng Yên đã đưa trên 65
ha ruộng thấp trũng (Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Hưng Yên, 2015) vào xây dựng
mô hình nuôi cá trong ruộng lúa (chiếm trên 1,47% so với tổng diện tích ruộng trũng;
chiếm 8,55% so với diện tích ruộng rất trũng của tỉnh). Với điều kiện nóng và ẩm của
khí hậu nhiệt đới gió mùa, có điều kiện phát triển nuôi tốt các loài cá; cá trắm cỏ
(Ctenopharyngodon edellus), cá rô phi đơn tính (Oreochromis niloticus), cá mè trắng
(Hypophthamichthys molitrix), cá chép V1 (cá chép lai 3 máu giữa cá chép Việt Nam
(V), Hungary (H), và Indonesia (I) ). Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nuôi cá trong
ruộng lúa tại Hưng Yên được phát triển theo hai hình thức; nuôi cá trong ruộng một vụ
lúa và nuôi cá trong ruộng 2 vụ lúa. Đây là kiểu hình sản xuất không mới trong nước ta
nhưng ở Hưng Yên là lần đầu tiên được quan tâm chỉ đạo xây dựng mô hình nuôi cá
trong ruộng lúa để khai thác mọi tiềm năng, lợi thế của tỉnh, thực hiện tái cơ cấu ngành
nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân. Cá nuôi trong
ruộng lúa ăn côn trùng, rầy nâu, cỏ dại, ốc v.v…là các tác nhân gây các bệnh hại lúa, cá
sục gốc và làm tơi xốp đất ruộng, lúa không bị bệnh nghẹt rễ phát triển tốt. Phân cá thải ra
làm phân bón trực tiếp cho cây lúa, tiết kiệm được lượng phân bón….kích thích cây
lúa sinh trưởng và tăng sản lượng cây trồng.
1
Cây lúa sinh trưởng, phát triển và nhất là sau thu hoạch lúa, liên tục có các thân
và bẹ lúa già cỗi, các hạt lúa rụng .... làm thức ăn xanh cho một số loài cá có phổ ăn
2
Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu đề tài góp phần cung cấp thêm các thông tin, số liệu khoa học về nuôi
cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên làm tài liệu tham khảo cho mục đích nghiên cứu,
giảng dạy và sản xuất.
Đề tài cũng giúp cho việc định hướng một số giải pháp nhằm khai thác thêm hiệu
quả của các ruộng thấp trũng cấy lúa tại Hưng Yên.
Đề tài “Nghiên cứu hiệu quả mô hình nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng
Yên” là rất cần thiết nhằm xác định công thức nuôi cá tốt nhất để nâng cao hiệu quả
kinh tế trên đơn vị diện tích ruộng thấp trũng, góp phần giúp nông dân vươn lên làm
giàu, sản xuất ra thủy sản sạch phục vụ nhân dân.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm sinh học một số loài cá nuôi trong ruộng lúa tại Hưng Yên
1.1.1. Cá trắm cỏ (Ctennopharyngodon)
Bộ cá chép: Cypriniformes
Họ cá chép: Cyprinidae
Phân họ cá trắm: Leuciscinae
Giống cá trắm cỏ: Ctenopharyngodon
Loài trắm cỏ: Ctenopharyngodon edellus.
Hình 1.1. Cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon edellus)
Cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá trắm cỏ
Bộ máy tiêu hoá của cá trắm cỏ gồm 4 phần: phần đầu, phần ruột trước, ruột giữa và
hợp, men này do tuyến tụy tiết ra. Trypsine ở đoạn ruột trước nhiều hơn đoạn ruột sau.
Men tiêu hoá lipid: Lipaza được tìm thấy ở tụy, manh tràng và ruột trước. Lipaza
phân giải triglyceride thành glycerol và các axid béo.
Men tiêu hoá carbohydrate: carbohydrate gồm nhiều thành phần khác nhau nhưng đối
với cá trắm cỏ thì tinh bột, dextrin và cellulose là được sử dụng phổ biến. Tinh bột được tiêu
hoá bởi men amylase tạo thành dextrin, maltose và glucose. Dextrin tiếp tục được thuỷ phân
bởi amylopectin tạo thành maltose và glucose. Sau khi được tiêu hoá, các đường đơn như:
glucose, fructose, galactose, maltose… được hấp thu qua thành ống tiêu hoá vào máu và
vận chuyển đến gan. Tỉ lệ tinh bột sử dụng tối đa trong thức ăn cho cá trắm cỏ từ 37 – 67%
(Guillaume et al., 2001).
Cá trắm cỏ là loài ăn thực vật, do vậy lượng cellulose đưa vào cơ thể là rất lớn. Ở đa số
các loài cá không có hệ thống men phân giải cellulose hoặc hoạt tính enzym celluloase trong
đường tiêu hoá hoạt động rất yếu. Cellulose được tiêu hoá chủ yếu do hệ vi khuẩn đường ruột.
5
Quá trình tiêu hoá thức ăn ở cá trắm cỏ được chia ra làm 2 giai đoạn: tiêu hoá cơ
học và tiêu hoá hoá học:
Quá trình tiêu hoá cơ học: bắt đầu từ lúc thức ăn được đưa vào trong khoang
miệng. Thức ăn của cá trắm cỏ chủ yếu là các loại thực vật, sau khi thức ăn đưa vào
miệng thức ăn được nhào trộn và nghiền nhỏ bởi răng hầu có dạng hình lược. Tiếp sau
đó thức ăn được đẩy xuống ruột qua thực quản và bắt đầu quá trình tiêu hoá hoá học.
Quá trình tiêu hoá hoá học: khi thức ăn tới phần ruột trước sẽ kích thích ruột tiết
ra men tiêu hoá và tiêu hoá một phần thức ăn. Quá trình tiêu hoá hoá học diễn ra chủ
yếu ở ruột giữa (ruột non), tại đây thức ăn tiếp tục được tiêu hoá bởi các dịch từ tuyến
gan và tụy qua ống dẫn đổ vào ruột. Thức ăn của cá trắm cỏ thường có hàm lượng
cellulose rất lớn nhưng hệ thống phân giải cellulose rất kém. Cellulose được tiêu hoá
bởi các vi sinh vật đường ruột và các vi sinh vật bám sẵn trên thức ăn ăn vào. Chất dinh
dưỡng được hấp thu qua thành ruột vào máu và đi nuôi cơ thể. Chất cặn bã thừa được
hấp thụ triệt để tại ruột sau rồi thải ra ngoài qua lỗ hậu môn (Kiều Minh Khuê, 2011).
gọi là con lai kép) giữa cá chép Việt Nam (V), Hungary (H), và Indonesia (I) tạo ra cá
dòng Hung, dòng Việt, dòng Indo là kết quả của đề tài “Nâng cao chất lượng giống cá
nuôi ở nước ngọt” do TS. Trần Mai Thiên chủ nhiệm cùng các đồng sự thuộc Viện
nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I tiến hành từ năm 1984 – 1995 (Trần Mai Thiên 19841995). Năm 1998, 2001, 2004 Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 nghiên cứu tái
tạo quần đàn (Trần Mai Thiên & Nguyễn Công Thắng 1990)
Về hình thái
- Thân ngắn và cao, đầu nhỏ, ngoại hình đẹp cùng tốc độ tăng trọng nhanh của cá
chép Hungary.
- Đẻ sớm và trứng ít dính của cá chép Indonesia.
- Cá chép V1 dòng Việt có ngoại hình thiên về hình dạng cá chép trắng Việt Nam do
trong hệ gen của chúng có 50% cơ cấu di truyền của cá chép trắng Việt Nam.
- Cá chép V1 dòng vàng (Indo) có ngoại hình thiên về cá chép Hung thuần vì
kiểu gen của chúng mang 50% cơ cấu di truyền của cá chép Indonesia.
- Cá chép V1 dòng Hung có ngoại hình thiên về cá chép Hung thuần vì chúng
mang 50% cơ cấu của cá chép dòng Hung.
7
- Cá chép V1 đã tập hợp được những đặc điểm di truyền quý của 3 loại cá thuần
chủng: chất lượng thịt thơm ngon, sức sống cao, khả năng chống chịu bệnh tốt của cá
chép Việt Nam. Cá có giá trị kinh tế cao, phù hợp với đặc điểm nuôi trồng tại Việt Nam.
Đặc điểm sinh học, sinh trưởng và sinh sản
Cá chép V1 là kết quả công trình nghiên cứu lai kinh tế của Phạm Mạnh Tưởng
(Phạm Mạnh Tưởng, 1976), cả lai ngược và lai xuôi ưu thế lai thể hiện rõ nhất ở thế hệ
F1 và thể hiện ở các mặt sau:
Tỉ lệ sống của cá hương lai từ 44 - 80% (trung bình 62%) còn cá chép trắng 49,1
– 51,6% (trung bình 50,35%) và cá chép Hung từ 22,3% – 41,3% (trung bình 31,8%) tỉ
lệ sống của cá giống lai (44,9% – 90%) (trung bình 67,45%), cá chép trắng 85,9% –
94% (trung bình 89,95%), cá chép Hung 38,6 -45,7 (trung bình 42,1%).
Luân trùng (rotifera), Chân chèo (copepoda)... cá bột 4-5 ngày tuổi dài 11 - 13mm,
thức ăn chính của cá trong giai đoạn này là Copepoda, bọ nước và một ít Rotifera. Cá
từ 8-12 ngày tuổi dài 18 - 23mm, ruột dài bằng 90 -100% chiều dài cơ thể và cuộn lại
thành từng cuộn. Thức ăn chủ yếu của cá trong giai đoạn này là Rotifera, bọ nước,
Copepoda, ngoài ra trong ruột còn tìm thấy một ít thực vật phù du.
Ở giai đoạn cá giống (dài hơn 30 mm) mang của cá bắt đầu hoàn thiện như cá
trưởng thành và có dạng như cái mành tre, có tác dụng như một lưới lọc.
9
Cá mè trắng trưởng thành có chiều dài ruột gấp 6,85 lần chiều dài cơ thể, thức ăn
chính của chúng trong giai đoạn này là thực vật phù du, sau đó là động vật phù du,
ngoài ra còn có cả mùn bã hữu cơ (detrix) đang trong quá trình phân hủy, thức ăn được
đưa vào miệng của cá cùng với nước và bị các tia mang giữ lại đưa vào ruột.
* Tốc độ tăng trưởng:
Cá mè có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, trong điều kiện được nuôi tốt thường sau
một năm nuôi cá có thể đạt khối lượng 1-1,5 kg/con, sau 2 năm nuôi đạt 2-3 kg/con, và
đạt 4-5 kg sau 3 năm nuôi. Sự tăng trọng của cá mè trắng liên quan chặt chẽ đến từng
giai đoạn phát triển.
1.1.4. Cá rô phi vằn dòng GIFT
Tên khoa học : Oreochromis niloticus
Cá rô phi vằn dòng GIFT: Được chọn giống bởi dự án GIFT do mạng lưới quốc
tế về di truyền trong nuôi trồng thủy sản (INGA) và Trung tâm quốc tế bảo vệ nguồn
lợi động vật thủy sản (ICLARM) tạo ra. Cá rô phi dòng GIFT là tổ hợp của 8 dòng cá
rô phi tự nhiên đã được chuẩn hóa gọi là rô phi vằn chọn giống dòng GIFT (Nguyễn
Công Dân và cộng sự, 1999).
Đặc điểm sinh học: Cá rô phi sinh trưởng phát triển trong nước ngọt, nước lợ, có
thể sinh trưởng và phát triển trong nước biển có độ mặn 32% cá sống ở tầng nước giữa
và đáy, có thể chịu được ở vùng nước nước có hàm lượng ô xy hòa tan thấp (1 mg/lít),
ngưỡng gây chết cho cá rô phi khi lượng ô xy hoà tan từ 0,3 – 0,1 mg/lít.
250 g/con, mỗi lần đẻ từ 1.000 đến 2.000 trứng/con
.
Hình 1.6. Cá rô phi (Oreochromis niloticus)
11
1.2. Tổng quan tình hình nuôi cá trong ruộng lúa
1.2.1. Tổng quan nghiên cứu tình hình nuôi cá trong ruộng lúa trên thế giới
Nghiên cứu của FAO (2000) cho rằng: Trên thế giới nghề nuôi thủy sản, đặc biệt là mô
hình nuôi kết hợp lúa - cá ở môi trường nước ngọt ngày càng được đầu tư nghiên cứu, phát
triển, nuôi ghép cá - lúa là một hình thức canh tác có từ lâu đời ở nhiều quốc gia vùng Đông
Nam Châu Á như: Nhật Bản, Ý, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a,
Ma-Lay-Xi-a, Băng-La-Đét, Phi-Líp-Pin, Hàn Quốc và Camphuchia (Dela Cruz et al., 1992).
Tại một số tỉnh miền đông bắc Ấn Độ, mô hình canh tác này được phổ biến rộng
rãi. Khi ruộng lúa ngập nước trong vài tháng, cá có thể phát triển với chi phí thấp bên
cạnh việc thu hoạch lúa. Hơn 80 triệu hec ta đất trồng cung cấp gạo cho cả thế giới, và
nếu điều kiện thời tiết thuận lợi thì những cánh đồng nuôi ghép cá –lúa sẽ đạt năng
suất từ 3 tạ/ha trở lên trong suốt thời gian ngập nước từ 3 đến 8 tháng. Mặc dù diện
tích tiềm năng cho phát triển mô hình cá – lúa tại Ấn Độ khoảng 23 triệu ha, song diện
tích canh tác cá – lúa hiện tại chỉ dưới 1 triệu ha.
Một số loài cá thường được nuôi ghép bao gồm cá chép (Cyprinus carpio), cá
chép vảy (Cyprinus carpio var communis), cá chép kính (Cyprinus carpio var
specularis), cá chép trơn (Cyprinus carpio var nudus), và các giống cá chép Ấn Độ
như cá Catla (catla catla), rôhu (Labeo rohita) and Mrigala (Cirrhinus mrigala).
Những giống này là những loài ăn tạp tầng đáy hoặc có đặc điểm tương tự, và đặc
trưng bởi mình dày và đầu ngắn ().
Ngoài nuôi cá trong ruộng lúa còn kết hợp nuôi các thủy sản khác như: nuôi cua
kết hợp cấy lúa, cá chạch kết hợp cấy lúa v.v… Qua những nghiên cứu thực tiễn cho
thấy việc nuôi cá kết hợp cấy lúa mang lại lợi ích lớn cho người nông dân bên cạnh
Hình 1.7. Bản đồ hành chính tỉnh Hưng Yên
13
Đến năm 2015, Hưng Yên có 62,5 ha ruộng trũng được đưa vào nuôi cá trong
ruộng lúa, năng suất cá bình quân đạt 0,7 - 1,0 tấn/ha. Còn rất nhiều ruộng thấp trũng
có thể nuôi cá trong ruộng lúa chưa được triển khai nuôi cá trong ruộng lúa để nâng
cao thu nhập cho nông dân. Một số nơi nông dân đã không mặn mà với cấy lúa, bỏ
ruộng, gây lãng phí tiềm năng nông nghiệp phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho bản
thân và gia đình, làm tăng nguy cơ bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở
địa phương trong tỉnh.
Bảng 1.1. Hiện trạng nuôi cá trong ruộng lúa tại Hưng Yên
Năm 2014 (ha)
Năm 2015 (ha)
Tổng cộng (ha)
Các huyện,
Năng suất
DT nuôi
Năng suất
DT nuôi
Năng suất
4,0
1,1
10,0
0,95
Huyện Ân Thi
5,5
0,7
8,5
0,9
14,0
0,8
Huyện Khoái Châu
3,5
0,8
6,5
5,5
0,8
Huyện Mỹ Hào
-
-
13,0
1,1
13
1,1
Huyện Tiên Lữ
-
-
4,0
1,0
4,0
nhiều khó khăn nhất là vào vụ thu đông khi rút nước để thu hoạch lúa.
14