LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng
dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Hữu Huế, và những ý kiến về chuyên môn quý báu của
các thầy cô giáo trong khoa Công trình, bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, các cán
bộ trong Viện kỹ thuật công trình – Trường Đại học Thủy lợi.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường Thủy lợi đã tận tình giảng
dạy tác giả trong suốt quá trình học tại trường và xin cảm ơn anh em bạn bè đồng nghiệp
trong cơ quan đã cung cấp số liệu, giúp đỡ tác giả có đủ tài liệu để thực hiện luận văn.
Do trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn
khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của
quý độc giả.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Minh Hà
BẢN CAM KẾT
Họ và tên học viên: Lê Thị Minh Hà
Lớp cao học: 20QLXD11
Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Tên đề tài luận văn: “Nghiên cứu hiệu quả của mô hình chủ đầu tư thuê tư vấn
quản lý dự án, áp dụng cho dự án nạo vét Hồ Tây – Hà Nội”
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn của tôi là do tôi làm. Những kết quả nghiên cứu
1.1.4. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình. 4 -
1.1.5. Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng. 5 -
1.2. Tổng quan về Quản lý dự án xây dựng công trình - 8 -
1.2.1. Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng 8 -
1.2.2. Người có thẩm quyền quyết định đầu tư 9 -
1.2.3. Chủ đầu tư 9 -
1.2.4. Tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng 10 -
1.2.5. Doanh nghiệp xây dựng 10 -
1.2.6. Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng. 10 -
1.2.7. Mối quan hệ của chủ đầu tư đối với các chủ thể liên quan. 10 -
1.2.8. Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng. 11 -
1.3. Tổng quan về các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý dự án xây dựng
công trình ở Việt Nam - 16 -
1.3.1. Hệ thống văn bản pháp quyền về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
qua các thời kỳ 16 -
1.3.2. Một số tồn tại trong hệ thống văn bản pháp quy hiện hành về quản lý đầu tư
xây dựng công trình. 20 -
Kết luận chương - 21 -
CHƯƠNG 2. HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH CHỦ ĐẦU TƯ THUÊ TƯ VẤN QUẢN
LÝ DỰ ÁN - 22 -
2.1. Các hình thức quản lý dự án xây dựng công trình - 22 -
2.1.1. Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Liên bang Nga 23 -
2.1.2. Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Mỹ 24 -
2.1.3. Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Singapore 24 -
2.1.4. Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Trung Quốc 25 -
2.1.5. Đánh giá chung về các mô hình quản lý dự án trên thế giới 25 - 2.1.6. Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam 26 -
2.2. Các tiêu chí đánh giá đối với một mô hình quản lý dự án - 28 -
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Các chủ thể tham gia quản lý dự án - 8 -
Hình 2.1. Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án - 26 -
Hình 2.2. Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án - 28 -
Hình 2.3. Các hoạt động của dự án cần phải được hình dung rõ và kết nối với các chi tiết
quan trọng. - 29 -
Hình 2.4. Quản lý dự án phải bắt buộc đúng deadline và có sự thúc giục về thời gian 30 -
Hình 2.5. Sơ đồ tổ chức theo chức năng chuyên trách - 35 -
Hình 3.1. Sơ đồ tổ chức của ban quản lý hồ tây - 39 -
Hình 3.2. Sơ đồ tổ chức của đơn vị tư vấn quản lý dự án theo chức năng - 48 -
Hình 3.3. Quy trình thực hiện giai đoạn chuẩn bị đầu tư - 50 -
Hình 3.4. Quy trình thực hiện giai đoạn đầu tư - 51 -
Hình 3.5. Quy trình thực hiện giai đoạn kết thúc dự án - 52 -
- 1 -
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng diễn biến lòng dẫn và đề xuất giải pháp công
trình chỉnh trị trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì vấn đề phát
triển cơ sở hạ tầng được đặt lên hàng đầu. Điều đó cho thấy, lĩnh vực xây dựng cơ
bản sẽ ngày càng được chính phủ chú trọng, đầu tư và phát triển. Song song với
việc thúc đẩy sự phát triển của ngành xây dựng thì vai trò của nhà nước trong việc
quản lý, định hướng lại càng quan trọng, mà hơn hết là ban hành các văn bản pháp
luật hướng dẫn các hình thức quản lý xây dựng công trình.
Hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại 2 mô hình quản lý dự án cơ bản, đó là: Mô
hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án và mô hình chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý
dự án. Tuy nhiên, phổ biến hơn cả ở nước ta vẫn là mô hình chủ đầu tư trực tiếp
quản lý dự án, trong khi đó, ở một số nước phát triển như Mỹ, Anh thì mô hình
trình quản lý dự án trong nước cũng như ngoài nước là rất cần thiết. Bên cạnh đó,
cần cập nhật thêm các văn bản pháp luật hiện hành.
Tiếp cận toàn diện, đa ngành đa lĩnh vực
Xem xét đầy đủ các yếu tố phát triển khi nghiên cứu đề tài bao gồm các lĩnh vực
kinh tế xã hội, môi trường sinh thái …;
2. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập các tài liệu liên quan: các tài liệu về dự án nạo vét Hồ Tây, tài liệu
về Ban quản lý Hồ Tây…
- Phương pháp chuyên gia: trao đổi với thầy hướng dẫn và các chuyên gia có
kinh nghiệm nhằm đánh giá và đưa ra giải pháp phù hợp nhất.
4. KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC
Đề xuất mô hình quản lý dự án phù hợp cho dự án nạo vét Hồ Tây.
- 3 -
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng diễn biến lòng dẫn và đề xuất giải pháp công
trình chỉnh trị trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
1.1. Khái quát về dự án xây dựng công trình
1.1.1. Khái niệm về đầu tư xây dựng
Đầu tư là việc bỏ vốn nhằm đạt được một hoặc một số mục đích cụ thể nào đó
của người sở hữu vốn (hoặc người được cấp có thẩm quyền giao quản lý vốn) với
những yêu cầu nhất định
1
.
Đầu tư xây dựng là việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những
công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công
trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.
1.1.2. Vị trí và vai trò của đầu tư xây dựng trong nền kinh tế.
Đầu tư xây dựng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của bất
kỳ hình thức kinh tế nào. Nó tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật, những nền tảng
vững chắc ban đầu cho sự phát triển của xã hội.
* Dự án có tính thay đổi: Dự án xây dựng không tồn tại một cách ổn định cứng,
hàng loạt phần tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực thi do nhiều
nguyên nhân như các tác nhân từ bên trong (nguồn nhân lực, tài chính, các hoạt
động sản xuất…) hay bên ngoài (như môi trường chính trị, kinh tế, công nghệ, kỹ
thuật …) và thậm chí cả điều kiện kinh tế xã hội.
* Dự án có tính duy nhất: Mỗi dự án đều có đặc trưng riêng biệt, lại được thực
hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và
môi trường luôn thay đổi.
* Dự án có hạn chế về thời gian và quy mô: Mỗi dự án đều có điểm khởi đầu, kết
thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn có liên quan. Có thể ngày hoàn thành được
ấn định một cách tuỳ ý, nhưng nó cũng trở thành điểm trọng tâm của dự án. Điểm
trọng tâm đó có thể là một trong những mục tiêu của người đầu tư. Mỗi dự án đều
được khống chế bởi một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó, trong quá trình
triển khai thực hiện, nó là cơ sở để phân bổ các nguồn lực sao cho hợp lý và có hiệu
quả nhất. Sự thành công của Quản lý dự án (QLDA) thường được đánh giá bằng
khả năng có đạt được đúng thời điểm kết thúc đã được định trước hay không?
Quy mô của mỗi dự án là khác nhau và được thể hiện một cách rõ ràng trong mỗi
dự án vì điều đó quyết định đến việc phân loại dự án và xác định chi phí của dự án.
- 5 -
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng diễn biến lòng dẫn và đề xuất giải pháp công
trình chỉnh trị trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội
* Dự án có liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau: Triển khai dự án là quá
trình thực hiện một chuỗi các đề xuất để thực hiện các mục đích cụ thể nhất định.
Chính vì vậy, để thực hiện được điều đó, chúng ta phải huy động nhiều nguồn lực
khác nhau. Việc kết hợp hài hoà các nguồn lực đó trong quá trình triển khai là một
trong những nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả dự án.
1.1.5. Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng.
Dự án đầu tư xây dựng và quá trình đầu tư xây dựng của bất kỳ dự án nào cũng
bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư; Thực hiện đầu tư; Kết thúc xây dựng và đưa
công trình vào khai thác sử dụng. Quá trình thực hiện dự án đầu tư có thể mô tả
tiếp theo - giai đoạn thực hiện đầu tư.
Vấn đề đầu tiên là lựa chọn đơn vị tư vấn, phải lựa chọn được những chuyên gia
tư vấn, thiết kế giỏi trong các tổ chức tư vấn, thiết kế giàu kinh nghiệm, có năng lực
thực thi việc nghiên cứu từ giai đoạn đầu, giai đoạn thiết kế đến giai đoạn quản lý
giám sát xây dựng - đây là nhiệm vụ quan trọng và phức tạp. Trong khi lựa chọn
đơn vị tư vấn, nhân tố quyết định là cơ quan tư vấn này phải có kinh nghiệm qua
những dự án đã được họ thực hiện trước đó. Một phương pháp thông thường dùng
để chọn là đòi hỏi các cơ quan tư vấn cung cấp các thông tin về kinh nghiệm, tổ
chức sau đó xem xét lựa chọn rồi tiến tới đấu thầu. Việc lựa chọn nhà thầu tư vấn
xây dựng công trình được thực hiện theo Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày
12/02/2009 của Chính phủ.
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thiết kế, trên cơ sở dự án được phê duyệt, nhà
thầu thiết kế tổ chức thực hiện các công việc tiếp theo của mình. Tuỳ theo quy mô,
tính chất công trình xây dựng, việc thiết kế có thể thực hiện theo một bước, hai
bước hay ba bước.
Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập
Báo cáo kinh tế kỹ thuật.
Thiết kế hai bước bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối
với công trình quy định phải lập dự án đầu tư.
Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi
công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc
biệt, cấp I và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp, do người quyết định đầu tư
quyết định.
Sau khi sản phẩm thiết kế được hình thành, chủ đầu tư tổ chức thẩm định hồ sơ
TKKT-TDT và trình lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cụ thể là người có thẩm
- 7 -
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng diễn biến lòng dẫn và đề xuất giải pháp công
trình chỉnh trị trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội
quyền ra quyết định đầu tư) phê duyệt. Trường hợp chủ đầu tư không đủ năng lực
thẩm định thì thuê các tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thẩm tra
1.2. Tổng quan về Quản lý dự án xây dựng công trình
Trong tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, nhu cầu về đầu tư
và xây dựng là rất lớn. Như vậy, đầu tư xây dựng là một trong những nhân tố quan
trọng trong quá trình phát triển xã hội. Với vị trí và tầm quan trọng của lĩnh vực đầu
tư xây dựng đối với nền kinh tế quốc dân thì vai trò quản lý nhà nước đối với lĩnh
vực này là hết sức to lớn. Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi và đang trong quá
trình thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề này càng mang tính cấp
bách và cần thiết hơn bao giờ hết.
1.2.1. Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng
Quá trình quản lý đầu tư và xây dựng của một dự án có sự tham gia của nhiều
chủ thể khác nhau. Khái quát mô hình các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư
như sau:
Hình 1.1. Các chủ thể tham gia quản lý dự án.
Trong cơ chế điều hành, quản lý dự án đầu tư và xây dựng nêu trên, mỗi cơ quan,
tổ chức có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được quy định cụ thể trong Luật
xây dựng Việt Nam.
CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG
Người có thẩm quyền
Quyết định đầu tư
đầu tư giao nhiệm vụ cho đơn vị sẽ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử
người tham gia với chủ đầu tư để quản lý đầu tư xây dựng công trình và tiếp nhận,
quản lý, sử dụng khi công trình hoàn thành.
Các dự án sử dụng vốn tín dụng thì người vay vốn là chủ đầu tư.
Các dự án sử dụng vốn khác thì chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại
diện theo quy định của pháp luật.
- 10 -
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng diễn biến lòng dẫn và đề xuất giải pháp công
trình chỉnh trị trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội
Đối với các dự án sử dụng vốn hỗn hợp thì chủ đầu tư do các thành viên góp vốn
thoả thuận cử ra hoặc là người có tỷ lệ góp vốn cao nhất.
1.2.4. Tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng
Là tổ chức nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn
đầu tư và xây dựng theo quy định của pháp luật. Tổ chức tư vấn chịu sự kiểm tra
thường xuyên của chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước.
1.2.5. Doanh nghiệp xây dựng
Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh
doanh về xây dựng. Doanh nghiệp xây dựng có mối quan hệ với rất nhiều đối tác
khác nhau nhưng trực tiếp nhất là chủ đầu tư. Doanh nghiệp chịu sự kiểm tra giám
sát thường xuyên về chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư, tổ chức thiết
kế, cơ quan giám định Nhà nước theo phân cấp quản lý.
1.2.6. Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng.
Các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng như: Bộ Kế hoạch Đầu tư;
Bộ Xây dựng; Bộ Tài chính; Ngân hàng Nhà nước Việt nam; các Bộ ngành khác có
liên quan: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương).
1.2.7. Mối quan hệ của chủ đầu tư đối với các chủ thể liên quan.
Chủ đầu tư là chủ thể chịu trách nhiệm xuyên suốt trong quá trình hình thành và
quản lý dự án đầu tư xây dựng, có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan tổ chức
tham gia quản lý và chịu sự quản lý của nhiều Bộ, ngành, các cơ quan liên quan mà
công chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện để đạt hiệu quả cao
nhất nhưng phải đảm bảo phù hợp tổng tiến độ đã được xác định của toàn dự án.
chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên có liên quan có
trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh
tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài
nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án.
- 12 -
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng diễn biến lòng dẫn và đề xuất giải pháp công
trình chỉnh trị trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội
(3) Quản lý chi phí dự án.
Quản lý chi phí dự án là quá trình quản lý tổng mức đầu tư, tổng dự toán (dự
toán); quản lý định mức dự toán và đơn giá xây dựng; quản lý thanh toán chi phí
đầu tư xây dựng công trình; hay nói cách khác, quản lý chi phí dự án là quản lý chi
phí, giá thành dự án nhằm đảm bảo hoàn thành dự án mà không vượt tổng mức đầu
tư. Nó bao gồm việc bố trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chi phí.
Chi phí đầu tư xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng mới
hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng công trình xây dựng. Chi phí đầu tư xây dựng công
trình được lập theo từng công trình cụ thể, phù hợp với giai đoạn đầu tư xây dựng
công trình, các bước thiết kế và các quy định của Nhà nước.
Việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo mục tiêu,
hiệu quả đầu tư, đồng thời phải đảm bảo tính khả thi của dự án đầu tư xây dựng
công trình, đảm bảo tính đúng, tính đủ, hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu
cầu khách quan của cơ chế thị trường và được quản lý theo Nghị định số
112/2009/NĐ-CP ngày 14/2/2009 của Chính phủ.
Khi lập dự án phải xác định tổng mức đầu tư để tính toán hiệu quả đầu tư và dự
trù vốn. Chi phí dự án được thể hiện thông qua tổng mức đầu tư.
Tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xây dựng công trình (TMĐT) là toàn bộ chi
Chủ đầu tư quyết định việc áp dụng, vận dụng định mức xây dựng được công bố
hoặc điều chỉnh để lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng xây dựng công trình.
Các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh định kỳ hàng năm gửi những định mức xây
dựng đã công bố trong năm về Bộ Xây dựng để theo dõi, quản lý.
(5) Quản lý giá xây dựng
Chủ đầu tư căn cứ tính chất, điều kiện đặc thù của công trình, hệ thống định mức
và phương pháp lập đơn giá xây dựng công trình để xây dựng và quyết định áp
dụng đơn giá của công trình làm cơ sở xác định dự toán, quản lý chi phí đầu tư xây
dựng công trình.
Chủ đầu tư xây dựng công trình được thuê các tổ chức, cá nhân tư vấn chuyên
môn có năng lực, kinh nghiệm thực hiện các công việc hoặc phần công việc liên
quan tới việc lập đơn giá xây dựng công trình. Tổ chức, cá nhân tư vấn chịu trách
- 14 -
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng diễn biến lòng dẫn và đề xuất giải pháp công
trình chỉnh trị trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội
nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật trong việc đảm bảo tính hợp lý, chính xác của
các đơn giá xây dựng công trình do mình lập.
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng lập và công bố hệ thống đơn giá
xây dựng, giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng, giá vật liệu, để tham khảo
trong quá trình xác định giá xây dựng công trình.
(6) Quản lý chỉ số giá xây dựng
Chỉ số giá xây dựng gồm: chỉ số giá tính cho một nhóm hoặc một loại công trình
xây dựng; chỉ số giá theo cơ cấu chi phí; chỉ số giá theo yếu tố vật liệu, nhân công,
máy thi công. Chỉ số giá xây dựng là một trong các căn cứ để xác định tổng mức
đầu tư của dự án đầu tư xây dựng công trình, dự toán xây dựng công trình, giá gói
thầu và giá thanh toán theo hợp đồng xây dựng.
Bộ Xây dựng công bố phương pháp xây dựng chỉ số giá xây dựng và định kỳ
công bố chỉ số giá xây dựng để chủ đầu tư tham khảo áp dụng. chủ đầu tư, nhà thầu
cũng có thể tham khảo áp dụng chỉ số giá xây dựng do các tổ chức tư vấn có năng
lực, kinh nghiệm công bố.
phế thải và thu dọn hiện trường. Đối với những công trình trong khu vực đô thị thì
phải thực hiện các biện pháp bao che, thu dọn phế thải đưa đến nơi quy định. Nhà
thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư phải có trách nhiệm giám sát việc thực hiện bảo
vệ môi trường xây dựng, đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý
nhà nước về môi trường. Trường hợp nhà thầu thi công xây dựng không tuân thủ
các các quy định về bảo vệ môi trường thì chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về
môi trường có quyền đình chỉ thi công xây dựng và yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng
biện pháp bảo vệ môi trường. Người để xảy ra các hành vi làm tổn hại đến môi
trường trong quá trình thi công xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
(10) Quản lý việc trao đổi thông tin dự án.
Là việc quản lý nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập trao đổi một cách hợp lý
các tin tức cần thiết cho việc thực hiện dự án cũng như việc truyền đạt thông tin,
báo cáo tiến độ dự án. - 16 -
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng diễn biến lòng dẫn và đề xuất giải pháp công
trình chỉnh trị trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội
(11) Quản lý rủi ro trong dự án
Khi thực hiện dự án sẽ gặp những nhân tố rủi ro mà chúng ta chưa lường trước
được, quản lý rủi ro nhằm tận dụng tối đa những nhân tố có lợi không xác định
giảm thiểu tối đa những nhân tố bất lợi không xác định cho dự án. Nó bao gồm việc
nhận biết, phân biệt rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng đối sách và khống
chế rủi ro.
(12) Quản lý việc thu mua của dự án.
Là việc quản lý nhằm sử dụng những hàng hoá, vật liệu thu mua được từ bên
ngoài tổ chức thực hiện dự án. Nó bao gồm việc lên kế hoạch thu mua, lựa chọn
việc thu mua và trưng thu các nguồn vật liệu.
1.3. Tổng quan về các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý dự án xây
2000 của Chính phủ.
C./. Luật xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003.
Luật xây dựng ra đời thể hiện quyết tâm đổi mới của Đảng và nhà nước Việt nam
trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực. Luật xây dựng đã tạo ra hành lang
pháp lý rõ ràng đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư và xây dựng.
Luật mang tính ổn định cao, qua đó các chủ thể tham gia phát huy tối đa quyền hạn
trách nhiệm của mình. Tuy nhiên nó lại mang tính chất bao quát, vĩ mô, do vậy cần
phải có các văn bản dưới Luật hướng dẫn thực hiện. Trên thực tế các văn bản
hướng dẫn dưới Luật ra đời lại chậm, thường xuyên thay đổi, tính cụ thể chưa cao,
do đó gây nhiều khó khăn cho chủ đầu tư cũng như các chủ thể tham gia vào công
tác dầu tư xây dựng trong quá trình triển khai thực hiện.
C.1. Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 7/2/2005 của Chính phủ về quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình.
Là văn bản dưới Luật, hướng dẫn thi hành Luật xây dựng về lập, thực hiện dự án
đầu tư xây dựng công trình; hợp đồng trong hoạt động xây dựng; điều kiện năng lực
của tổ chức, cá nhân lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát thiết kế, thi
công xây dựng và giám sát xây dựng công trình. Nội dung của Nghị định là khá rõ
ràng và chi tiết về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của từng chủ thể tham gia
- 18 -
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng diễn biến lòng dẫn và đề xuất giải pháp công
trình chỉnh trị trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội
vào hoạt động đầu tư và xây dựng, trình tự và các thủ tục cần thiết để thực hiện các
công việc trong quá trình tổ chức thực hiện và quản lý dự án đầu tư.
C.2. Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ.
Nghị định 112/2006/NĐ-CP điều chỉnh, bổ sung và sửa đổi một số Điều trong
Nghị định 16/2005/NĐ-CP cho phù hợp điều kiện thực tế trong quá trình triển khai
thực hiện.
C.3. Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ về quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình.
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ là sự thay thế Nghị
phí đầu tư xây dựng công trình.
Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc quản lý
chi phí đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước (Khuyến khích các tổ
chức, cá nhân liên quan đến việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình sử dụng
vốn khác áp dụng).
C.7. Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ về quản lý
chi phí đầu tư xây dựng công trình.
Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ thay thế nghị
định số 99/2007/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình tại các dự án
sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên.
D./. Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005.
Luật đấu thầu ban hành ngày 29/11/2005 quy định các hoạt động đấu thầu để lựa
chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp.
Với nội dung của Luật đấu thầu, đã có Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ban hành
ngày 29/9/2006 để hướng dẫn thi hành. Nội dung Nghị định số 111/2006/NĐ-CP đã
nêu cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục và các nội dung cần thiết trong việc mời thầu,
tổ chức đấu thầu và lựa chọn nhà thầu của chủ đầu tư. Với việc ban hành Nghị định
số 111/2006/NĐ-CP hướng dấn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây
dựng, công tác đấu thầu dần được đưa vào khuôn phép góp phần nâng cao hiệu quả
công tác đấu thầu, hạn chế các chi phí và thủ tục không cần thiết trong quá trình lựa
chọn nhà thầu.
- 20 -
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng diễn biến lòng dẫn và đề xuất giải pháp công
trình chỉnh trị trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội
Ngày 5/5/2008 Nghi định số 58/2008/NĐ-CP ra đời để thay thế nghị định số
111/2006/NĐ-CP và ngày 15/10/2009 nghị định số 85/2009/NĐ-CP ra đời thay thế
nghị định số 58/2008/NĐ-CP. Sự thay thế một cách thường xuyên các nghị định của
chính phủ trong việc hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu thể hiện sự chuyển biến
trong quá trình hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam, tuy nhiên điều đó
lại gây rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện của các chủ đầu tư.