1
11
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐH CNTT&TT: Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông
EFL: English as Foreign Language
ESP: English for Specific Purpose
M.A: Master
MC: Master of Ceremonies.
TPR: Total Physical Response
VNU: Viet Nam National University
1
2
22
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Pages
3
33
thể truyền đạt chính xác những gì chúng ta muốn nói đến người nghe. Là công cụ
giao tiếp được sử dụng trên toàn thế giới, việc sử dụng tiếng Anh đòi hỏi người nói
phải biết nhiều từ vựng. Theo các nhà ngôn ngữ học, trong giao tiếp thì từ vựng quan
trọng hơn ngữ pháp. Tuy nhiên nó vẫn chưa có được một vị trí xứng đáng trong lớp
học. “Phần lớn thời gian dạy học được dành cho việc giải thích và đưa ra định
nghĩa. Bảng đen thường được tô kín bởi một lượng lớn các mục từ vựng, và sinh viên
sưu tầm nhiều trang từ vựng mà họ hiếm khi có cơ hội được luyện tập” (Ruth Gairns
& Stuart Redman 1986).
Tại trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền Thông – Đại học Thái
nguyên – một trung tâm đào tạo các cử nhân, kỹ sư các ngành: công nghệ thông tin
5
và điện tử viễn thông, tự động hóa, truyền thông đa phương tiện…thực trạng dạy và
học từ vựng cũng không khác là mấy so với bức tranh chung của việc dạy từ vựng
trên toàn quốc. Sinh viên của trường thường cảm thấy buồn tẻ trong các giờ học từ
vựng bởi họ không thay đổi thói quen học như: viết từ vựng lên tờ giấy, cố gắng học
thuộc lòng hoặc học qua cách giải thích của giáo viên. Bên cạnh đó, sinh viên sau khi
ra trường có nhu cầu đọc và giao tiếp bằng tiếng Anh rất lớn. Để làm được điều này,
họ phải có được một lượng từ vựng nhất định và hơn nữa thì, họ phải biết cách sử
dụng đúng trong từng ngữ cảnh cụ thể. Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng, để nắm chắc
tiếng Anh, bên cạnh chiến lược học hợp lý của sinh viên thì vai trò và phương pháp
giảng dạy của giáo viên cũng rất quan trọng. Vậy bằng cách nào để dạy từ vựng một
cách hiệu quả?
Trong những năm gần đây, dạy học theo đường hướng giao tiếp được áp dụng
tại việt nam và nó cho thấy sự hiệu quả trong dạy và học ngôn ngữ “dạy học theo
hướng giao tiếp là một xu hướng giúp sinh viên thêm năng động trong các tình huống
thực của cuộc sống. nó khuyến khích sinh viên luyện tập ngôn ngữ mà họ học được
bằng những cách có ý nghĩa” (Nguyen Thi Thu Van & Khuat Thi Thu Nga, 2003 ).
Từ những điều này, câu hỏi "Liệu các hoạt động dạy học theo hướng giao
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này được thiết kế để tìm câu trả lời cho câu hỏi chính " Liệu các
hoạt động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp có hiệu quả hơn những hoạt động dạy
học truyền thống?" Do giới hạn của một đề tài nhỏ, trong thời gian hạn chế, chúng tôi
chỉ tiến hành một nghiên cứu bán thử nghiệm kéo dài trong 6 tuần dựa trên ba đơn vị
bài học đầu tiên (Module 1, 2 và 3) của giáo trình New Cutting Edge - Elemetary.
Đối tượng nghiên cứu là 40 sinh viên năm thứ nhất không chuyên và hai giáo viên
tiếng Anh, những người đồng chuẩn bị kế hoạch bài giảng và dạy hai lớp học – một
lớp bán thực nghiệm và và một lớp kiểm soát. Bản thân người viết không tham gia
dạy thực nghiệm để đảm bảo tính khách quan.
5. Câu hỏi nghiên cứu
1. Từ vựng có vai trò gì trong việc dạy và học ngoại ngữ?
2. Liệu các hoạt động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp có hiệu quả hơn các
hoạt động dạy từ vựng truyền thống không?
3. Những gợi ý giúp cho việc dạy và học từ vựng hiệu quả hơn?
7
6. Phương pháp nghiên cứu
Trước tiên, phần nền tảng lý luận liên quan đến đề tài được tiến hành thông qua
việc sưu tầm tài liệu, các nguồn thông tin từ internet…Trong Phần 2- Nghiên cứu,
chúng tôi đưa ra một cái nhìn tổng thể về việc dạy và học từ vựng tại Đại học
CNTT&TT trong đó chúng tôi đề cập đến giáo viên, sinh viên, giáo trình …nằm
trong bối cảnh nghiên cứu này.
Với sự cố gắng nhằm tìm ra hiệu quả của các hoạt động dạy từ vựng theo hướng
giao tiếp cho sinh viên năm thứ nhất không chuyên, một nghiên cứu bán thử nghiệm
được tiến hành. Nghiên cứu này chỉ dành cho sinh viên năm thứ nhất không chuyên
Anh của ĐH CNTT&TT. 40 sinh viên này thuộc về 2 lớp học không được lựa chọn
ngẫu nhiên. Một lớp được chỉ định ngẫu nhiên làm thử nghiệm và và lớp còn lại là
lớp kiểm soát. Tương tự, hai giáo viên tương đồng với nhau về trình độ học vấn, tuổi
PHẦN II: NGHIÊN CỨU CHÍNH
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1. Giới thiệu chung
Chương này tập trung vào việc cung cấp một cái nhìn tổng quan về kiến thức lý
luận liên quan đến nghiên cứu, bao gồm Từ vựng trong dạy và học tiếng Anh; Dạy
tiếng Anh; Phương pháp và đường hướng dạy từ vựng ở đại học; và nền tảng lý luận
về đường hướng dạy từ vựng
1.2. Từ vựng trong dạy và học tiếng Anh
1.2.1. Định nghĩa và phân loại Từ
Việc nắm bắt từ vựng bắt đầu từ đơn vị ‘Từ’. Vậy ‘Từ’ là gì? Theo Arnold I.B,
(1996), thuật ngữ ‘Từ’ biểu thị một đơn vị cơ bản của một ngôn ngữ có kết quả từ
mối quan hệ giữa một nét nghĩa cụ thể với một nhóm âm thanh cụ thể có chức năng
cú pháp. Từ là một tổng thể cấu trúc và ngữ nghĩa học trong hệ thống ngôn ngữ. Từ
điển American Heritage (1985) cho chúng ta biết rằng từ thường được ngăn cách bởi
khoảng cách trong văn viết, và được phân biệt về mặt âm vị học, chẳng hạn như về
trọng âm trong nhiều ngôn ngữ. Từ nếu là một đơn vị riêng lẻ không thể đóng tự
đóng vai trò giao tiếp: a man, I, like, good. Chúng chỉ có chức năng giao tiếp khi
được phối hợp theo một cách nhất định: I like a good man.
Charles Carpenter Fries, trong cuốn “The structure of English: An Introduction
to the construction of English tendencies” (1952) đã phân biệt bốn loại từ theo chức
năng trong câu và theo sự phối hợp của chúng với các từ khác:
- Các từ chức năng (tạo câu hỏi)
- Các từ thay thế: he, she, they…
- Các từ có chức năng ngữ pháp: some, any..
- Các từ chứa thông tin, tạo nên phần cốt lõi của từ vựng trong mỗi ngôn ngữ.
1.2.2. Định nghĩa và phân loại từ vựng
“Từ vựng là kiến thức về từ và nghĩa của từ” đó là định nghĩa của Fran Lehr và
cộng sự (2004) trong một nghiên cứu có tiêu đề “A Focus on Vocabulary. Hãy cùng
nhìn nhận thuật ngữ “kiến thức từ vựng” được hiểu như thế nào. Steven Stahl (1998)
1.3.3. Phương pháp và cách tiến hành dạy từ vựng ở đại học
Trong số rất nhiều yếu tố đo lường sự thành công hay thất bại trong việc học và
dạy, phương pháp được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Các phương
pháp được thực hiện nhằm cố định hệ thống giảng dạy với các kỹ thuật và các phần
thực hành theo quy định, và các cách tiếp cận là các triết lý về giảng dạy ngôn ngữ có
thể được hiểu và áp dụng bằng nhiều hình thức khác nhau trong lớp học. "Về lý
thuyết thì, một phương pháp liên quan đến một cách thức tiếp cận, được xác định
một cách có tổ chức của quyết định bởi một đề cương, và được thực hiện một cách
trình tự" (Richards và Rodges, 1996). Ngoài ra, theo Prator (1991: 17) "...trong tình
hình giảng dạy nó là phương pháp được sử dụng, nhiều hơn bất kỳ yếu tố nào khác ,
xác định các kết quả đạt được "
Phương pháp dạy/học từ vựng đã trải qua rất nhiều thay đổi. Đầu tiên, hãy nhìn
vào phương pháp dịch ngữ pháp. Ở phương pháp này, từ vựng được giảng dạy bởi
các phương tiện dịch khi sinh viên được giao danh sách các từ và học qua việc dịch.
Ngôn ngữ được coi là một tập hợp các từ riêng lẻ, độc lập và phải có một từ tương
ứng trong tiếng mẹ đẻ cho mỗi từ mà sinh viên được học. Phương pháp này thường
được áp dụng trong giảng dạy từ vựng cho sinh viên không chuyên tiếng Anh tại các
cơ sở đào tạo phía bắc của Việt Nam. Trong phương pháp âm thanh ngôn ngữ, việc
giảng dạy từ vựng cũng được điều chỉnh lên dạy ngữ pháp và từ đã được trình bày và
học trong cấu trúc. Ngoài ra, sự quan tâm lớn được dành cho phát âm.
Từ vựng theo phương pháp Phản ứng của toàn bộ cơ thể được nhấn mạnh trên
lĩnh vực ngôn ngữ khác bằng cách sử dụng các mệnh lệnh để chỉ đạo hành vi và sự
14
phối hợp hành động. Phương pháp này liên quan đến một số lượng đáng kể của việc
nghe và hiểu kết hợp với phản ứng cơ thể khác nhau. Giáo viên thường sử dụng cử
chỉ, ngôn ngữ cơ thể, nét mặt để minh họa các từ cho sinh viên. Đây được coi là
phương pháp thích hợp cho người mới bắt đầu học tiếng Anh đặc biệt là trẻ em, vì
vậy phương pháp trực tiếp tốt hơn cho những người rất giỏi trong việc sử dụng vốn
16
về việc học của mình. Giáo viên không chỉ đơn thuần là người truyền kiến thức; thay
vào đó, họ trở thành người hỗ trợ, người phân tích nhu cầu, tư vấn, là người quản lý
nhóm.
Các giáo viên vẫn thiết kế các bài tập và hướng dẫn vào lớp, nhưng các sinh
viên phải làm việc. Trách nhiệm tham gia giúp làm tăng sự tự tin trong việc sử dụng
ngôn ngữ. Trong dạy học theo hướng giao tiếp, sinh viên thực hành các tình huống
thực tế cuộc sống, ví dụ, mua thực phẩm tại chợ hoặc nhờ một ai đó hướng dẫn.
Trong bài tập này, mục tiêu là để sinh viên nói lên nhu cầu và suy nghĩ của mình, mà
không lo lắng về việc ngữ pháp có hoàn hảo hay không.
1.3.4.4. Thách thức đối với việc áp dụng dạy học theo hướng giao tiếp ở Việt Nam
Trong bài báo "Ngoại ngữ và điều kiện dạy ngoại ngữ ở Việt Nam" Lê Văn
Canh (Tạp chí Teacher’s Edition - ĐHQGHN, Số 7, 11/ 2001) lý giải việc dạy giao
tiếp là tương đối khó khăn ở Việt Nam vì một số lý do như trình độ tiếng Anh của
giáo viên thấp, các lớp học quá đông, nhà cửa, đồ nội thất và trang thiết bị khác rất
hạn chế, các tài liệu, thư viện và các dịch vụ tư vấn và chỉ được hỗ trợ cung cấp mức
độ vừa phải. Phương pháp giảng dạy mới đòi hỏi những hiểu biết và kỹ năng mới.
Chúng thường đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian chuẩn bị tài liệu bổ sung,
trong khi hiện có rất nhiều việc đòi hỏi về thời gian của giáo viên ngoài công việc
giảng dạy chính.
1.3.4.5. Một vài lưu ý khi áp dụng việc dạy từ vựng theo hướng giao tiếp một cách
hiệu quả.
Trong khi cố gắng áp dụng phương pháp giảng dạy từ vựng theo đường hướng
giao tiếp vào lớp học ngoại ngữ, chúng ta phải xem xét các nguyên tắc sau đây:
1. Hiểu được sự khác biệt văn hóa.
2. Điều chỉnh vai trò của giáo viên, sinh viên và các tài liệu.
3. Kết hợp giữa giới thiệu từ vựng với thực hành chúng.
4. Kết hợp tất cả bốn kỹ năng cơ bản.
tập.
18
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP BÁN THỰC NGHIỆM
2.1. Giới thiệu
Chương này đề cập việc sử dụng phương pháp bán thực nghiệm để kiểm tra tính
hiệu quả của một số hoạt động giảng dạy từ vựng theo hướng giao tiếp cho sinh viên
năm thứ nhất không chuyên tiếng Anh tại ĐH CNTT&TT. Trong nghiên cứu bán
thực nghiệm này tôi đã đóng vai một nhà tổ chức, quan sát viên, thu thập dữ liệu và
phân tích ...để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu. Hai giáo viên tiếng Anh đồng nghiệp của tôi tại ĐHCNTT&TT đã giúp tôi chuẩn bị kế hoạch bài học và dạy
tiếng Anh cho sinh viên của hai lớp: thử nghiệm và kiểm soát. Do yêu cầu công việc,
tôi không thể tham dự tất cả các bài học trong thí nghiệm này, chỉ có một số trong số
họ. Đối với bài học mà tôi không thể quan sát, các dữ liệu đã được thu thập thông qua
các giấy tờ tự đánh giá giao cho các giáo viên. Để xác định ảnh hưởng của các hoạt
động dạy học theo hướng giao tiếp, ngoài việc quan sát lớp học và các giấy tờ tự
đánh giá của giáo viên, tôi đã phát triển một công cụ đánh giá được thực hiện trước
khi tiến hành thực nghiệm (pre -test) và một lần nữa sau khi hoàn thành mỗi một đơn
vị bài học (post-test)
Trước khi đi vào phần chính của chương này, chúng ta hãy nhìn vào các nền để
thiết lập các nghiên cứu bao gồm các giáo viên, sinh viên năm thứ nhất không chuyên
tiếng Anh, giáo trình và các mục tiêu chương trình tại ĐH CNTT&TT.
2.2. Bối cảnh nghiên cứu
2.2.1. Vài nét về ĐH CNTT&TT
Đại học CNTT&TT mà tiền thân là Khoa Công nghệ thông tin là đơn vị đào tạo
thành viên thuộc Đại học Thái Nguyên được thành lập ngày 14/12/2001 theo Quyết
Định số 6946/QĐ-BGD ĐT-TCCB của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Khoa Công nghệ thông tin thực hiện mô hình phối hợp quản lý và đào tạo với
khăn cho giáo viên trong việc giảng dạy ngoại ngữ và sinh viên không có đủ thời
gian để thực hành trên lớp. Ngoài ra, các em không có nhiều điều kiện giao tiếp với
người nước ngoài và trình độ tiếng Anh không đồng đều. Rất nhiều các em chưa xác
định được động cơ học tập đúng đắn, các em thường nghĩ tiếng Anh là một môn khó
và các em chỉ cố gắng học để đủ điểm qua. Điều này cũng ảnh hưởng khá nhiều đến
kết quả dạy và học tiếng Anh nói chung và dạy ngữ pháp tiếng Anh nói riêng. Các em
chưa có được chiến lược học tập phù hợp nên vẫn học rất thụ động. Có nhiều em
không chịu chuẩn bị bài và làm bài tập ở nhà trước khi đến lớp nên ảnh hưởng khá
20
nhiều đến khả năng tiếp thu bài trên lớp. Một điểm nữa là, các sinh viên đến từ thành
thị thường tiếp thu khá hơn các sinh viên miền núi và nông thôn.
2.2.4. Giáo trình
Giáo trình được sử dụng cho các sinh viên năm thứ nhất không chuyên tiếng
Anh năm đầu tiên là quyển New Cutting Edge Elementary. Cụ thể, sinh viên sẽ học 3
học phần tiếng Anh giao tiếp: Anh Văn 1 (Module 1 đến Module 5), Anh Văn 2 (từ
Module 6 đến Module 10) và Anh Văn 3 (module 11 đến Module 15). Đến học phần
thứ 4, các sinh viên sẽ học Anh văn chuyên ngành theo các chuyên ngành mà mình
đăng ký.
Các sinh viên trong nghiên cứu này đang theo học khóa học Anh văn 1, phạm vi
nghiên cứu là 3 bài học đầu từ Module 1 đến Module 3. Đây được đánh giá là giáo
trình tiếng Anh giao tiếp hay, chú trọng đến việc luyện các kỹ năng giao tiếp cho
người học, đồng thời cũng có sách bài tập kèm theo đáp án. Điều này giúp cho người
học có thể tự học cấu trúc, từ vựng ở nhà nhằm tự nâng cao khả năng sử dụng vốn từ
và cấu trúc ngữ pháp trong những tình huống khác nhau
2.2.4.1. Thiết kế các bài từ vựng trong giáo trình New Cutting Edge -Elementary
Thường có năm phần trong một đơn vị bài học, cụ thể là ngữ pháp, từ vựng,
đọc và viết, nghe nói và phát âm. Phần từ vựng được thiết kế như sau :
Module 1
Daily
routines
(p.26)
Bảng 1: Thiết kế từ vựng trong giáo trình New Cutting Edge -Elementary
Bên cạnh đó, từ vựng được tích hợp vào các phần khác của từng đơn vị bài học.
Vì vậy, ngoài phần từ vựng, giáo viên cũng phải dạy từ mới trong các phần kiến thức
khác.
2.2.4.2. Các bài học từ vựng trong giáo trình New Cutting Edge - Elementary
Theo quan điểm của tác giả, việc dạy và học từ vựng đều đóng vai trò rất quan
trọng trong giáo trình này. Đặc biệt ở chỗ sách được thiết kế cho mục tiêu giao tiếp
nên việc dạy từ vựng càng cần được chú ý Có ít nhất một phần từ vựng đầu vào chính
21
cho mỗi đơn vị trong giáo trình và nhiều phần từ vựng nhỏ trong các bộ phận khác.
Yếu tố phát âm có vị trí xứng đáng trong mỗi đơn vị bài học. Có ba phương pháp tiếp
cận đối với việc dạy từ vựng:
- Dạy từ mới trong một bộ phận từ vựng, ví dụ như các con số, ngôn ngữ trong
lớp học
- Khuyến khích thói quen học tập từ vựng: sử dụng từ vựng, đoán nghĩa
- Dạy các hệ thống từ vựng, ví dụ tiền tố và hậu tố, từ đồng nghĩa, trái nghĩa;
homonyms, từ đồng âm; chữ cái im lặng, danh từ ghép; cấu tạo từ ... Bên cạnh đó,
vốn từ vựng chung được bố trí phù hợp với các chủ điểm.
2.2.5. Mục tiêu việc dạy tiếng Anh tổng quát tại Đại học CNTT&TT
Mục tiêu cuối cùng của chương trình giảng dạy tiếng Anh tại ĐH CNTT&TT là
trang bị cho sinh viên những kiến thức nền tảng trình độ tiếng Anh nói chung và khả
năng giao tiếp với người nước ngoài . Sinh viên chỉ học tiếng Anh tổng quát trong ba
hiểu lầm và sử dụng sai từ của sinh viên.
2.3.3. Liên hệ nghĩa từ mới với những từ đã biết
Vì trong những bài học trước sinh viên được cung cấp với nhiều từ, vì vậy nếu
một từ mới được giới thiệu liên quan đến các từ họ đã biết, họ có thể dễ dàng hiểu và
nhớ từ. Các tiền tố, hậu tố ... có thể được minh họa với gốc từ của chúng để giúp các
sinh viên đoán ý nghĩa.
Ví dụ: beauty – beautiful – beautifully
Manly – Man
2.3.4. Tương phản và đối lập
Khi giáo viên muốn giải thích ý nghĩa của một từ mới, họ đôi khi sử dụng ý
nghĩa trái ngược của từ đó. Theo tôi, cách này thực sự hiệu quả, có thể mang lại hai
lợi thế: thứ nhất , giúp sinh viên để nhớ lại một từ đã học và thứ hai, nói chính xác ý
nghĩa của một từ mới. Rất nhiều từ có thể được hiểu tốt hơn bằng cách tương phản
của họ trong bối cảnh
Ví dụ: big – small
beautiful - ugly…
2.3.5. Giáo cụ trực quan
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người học ở cấp tiểu học có thể nhớ từ
tốt hơn thông qua bài thuyết trình từ phương tiện trực quan. Một số hoạt động giao
tiếp bằng cách sử dụng dụng cụ trực quan như: hình ảnh, ảnh, áp phích, các đối tượng
thực, bản vẽ bảng đe , Flashcards ... có thể giúp giáo viên tạo ra các tình huống hay
một bối cảnh và trên tất cả có thể kích thích sinh viên nói ngôn ngữ.
2.3.6. Sử dụng cách diễn đạt qua khuôn mặt và ngôn ngữ cơ thể
23
trở lại sau một hoặc hai bài học Quan sát của tôi và các phiếu tự đánh giá hỗ trợ tôi
24
trong việc kiểm tra tính hiệu quả của một số hoạt động dạy từ vựng theo hướng giao
tiếp.
2.4.1.3. Công cụ đánh giá chính: Pre-test và post-tests
Các công cụ chính để đánh giá là các bài kiểm tra bao gồm một pre -test và ba
bài post-test. Bài pre -test đã được phát cho sinh viên khi bắt đầu tiến hành bán thực
nghiệm, và ba bài post-test được thực hiện sau mỗi đơn vị bài học (module). Các nội
dung của hai bài post-test đầu tiên được dựa trên những kiến thức của từng Module
trong khi bài post-test cuối bao gồm kiến thức của cả 3 Modules sử dụng trong thực
nghiệm.
2.4.1.4. Các công cụ đánh giá bổ xung
2.4.1.4.1. Ghi chép từ dự giờ
Những gì tác giả quan sát được sử dụng để đánh giá hiệu quả của một số hoạt
động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp.
2.4.1.4.2. Phiếu tự đánh giá cảu giáo viên
Giống như các bài kiểm tra và ghi chép từ quan sát lớp học, giấy tờ tự đánh giá
của giáo viên đóng một vai trò hỗ trợ trong việc kiểm tra tính hiệu quả của các hoạt
động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp.
2.4.2 Giai đoạn hiện thực hóa
2.4.2.1. Bài Pre-test
Ở giai đoạn thứ hai của bán thực nghiệm này, một bài pre -test đã được giao cho
sinh viên của cả 2 lớp học với mục đích kiểm tra kiến thức từ vựng của họ. bài pretest với thời gian 15 phút bao gồm các câu hỏi sau:
1. Dịch các từ/ cum từ sau sang tiếng Việt:
To make a bed....................................................................................................
Unhappy.............................................................................................................
Happiness...........................................................................................................
Rewrite...............................................................................................................
những gì họ đã được dạy. Kiến thức từ vựng của cả lớp vẫn còn nghèo nàn.