đánh giá hiệu quả của các hoạt động khuyến nông ở huyện quảng ninh, tỉnh quảng bình trong giai đoạn từ 2009 đến 2011 - Pdf 13

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, hoạt động sản xuất chủ yếu của người dân nước ta là nông
nghiệp. Ngành nông nghiệp nước ta đã và đang giữ vị trí hết sức quan trọng
trong nền kinh tế chung của cả nước, là tiền đề để phát triển các ngành kinh tế
khác. Sản phẩm của ngành nông nghiệp dùng để cung cấp cho nhu cầu thiết yếu
của cuộc sống hằng ngày. Cuộc sống ngày càng nâng cao đòi hỏi ngành nông
nghiệp ngày một phát triển để đáp ứng yêu cầu đó.
Qua nhiều năm canh tác, người nông dân đã đúc rút nhiều kinh nghiệm quí
báu của mình để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nhưng phần lớn nó chỉ đáp
ứng được nhu cầu tự cung tự cấp trong gia đình. Ngày nay, khi nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường, sản xuất tự cung tự cấp không còn đảm bảo được
điều kiện sống cho người dân Người nông dân phải đứng trước nhiều thử thách
và lựa chọn cho hướng phát triển của gia đình mình. Họ luôn đứng trước thực
trạng thiếu hụt thông tin thị trường, giá cả để định hướng cho sản xuất. Mặt
khác, trình độ sản xuất của phần lớn người dân còn yếu, tiến bộ khoa học kỹ
thuật chưa được áp dụng nhiều ở mỗi hộ. Muốn sản xuất nông nghiệp hiệu quả,
người nông dân phải nắm bắt nhiều yếu tố liên quan đến vấn đề này. Những yếu
tố quan trọng đó gồm tiến bộ khoa học kĩ thuật, thông tin thị trường, nhu cầu của
người sử dụng sản phẩm.
Nhu cầu của người sản xuất để phát triển ngành nông nghiệp là rất lớn. Do
đó vấn đề nâng cao kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp, kinh nghiệm quản lý,
thông tin thị trường, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật,… cho người dân để họ có đủ
khả năng phát triển sản xuất kinh doanh là một yêu cầu cần thiết trong vấn đề
phát triển nông nghiệp nông thôn hiện nay.
Trước đòi hỏi đó, ngày 02/03/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về
công tác khuyến nông, thông tư liên bộ số 02/LB/TT ngày 02/08/1993 hướng
dẫn thi hành nghị định 13/CP. Từ khi ra đời Nghị định này đã đem lại nhiều
thành công cho sự phát triển nông nghiệp nước ta. Trải qua nhiều năm, hoạt động
khuyến nông ngày một nâng cao vai trò, chất lượng trong sản xuất nông nghiệp.

phần nhu cầu của người dân. Bên cạnh sự đóng góp của mình vào phát triển sản
xuất thì hoạt động khuyến nông cũng chưa phát huy hết thế mạnh của địa
phương và chưa hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ của mình.
Xuất phát từ thực tế đó, để hiểu một cách đúng đắn về công tác khuyến nông
địa phương tôi đã tiến hành đề tài “Đánh giá hiệu quả của các hoạt động
khuyến nông ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn từ 2009
đến 2011.”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Để hiểu thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện.
- Để hiểu thực trạng các hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện Quảng
Ninh, Quảng Bình trong giai đoạn 3 năm 2009 -2011.
- Tìm hiểu và đánh giá vai trò công tác khuyến nông trong phát triển kinh tế
địa phương. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác khuyến nông của huyện
Quảng Ninh.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động khuyến nông
của huyện trong thời gian tới, góp phần nâng cao năng suất cây rồng, vật nuôi,
cải thiện đời sống cho người dân.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lí luận về công tác khuyến nông
2.1.1. Khái niệm khuyến nông
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Khuyến nông, tùy thuộc vào từng điều
kiện cụ thể mà Khuyến nông có những cách hiểu khác nhau và người ta đã đưa
ra các khái niệm khác nhau.
Theo CIDSE (tổ chức hợp tác quốc tế vì phát triển và đoàn kết): Khuyến
nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến sự phát
triển nông thôn. Đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, trong đó người
già và trẻ em đều được học bằng thực hành.[1]
Định nghĩa về Khuyến nông của Indonesia: Khuyến nông nông nghiệp là hệ

kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng về dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản
xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và
thị trường.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản
xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp
ứng trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn, xây dựng nông thôn mới bảo đảm an ninh lương thực
quốc gia, ổn định kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường.
Huy động nguồn lực từ các tổ chức trong và ngoài nước tham gia khuyến
nông.
2.1.3. Chức năng và yêu cầu của khuyến nông
Chức năng của khuyến nông
Hoạt động khuyến nông nói chung có các chức năng sau:
(1) Đào tạo, hướng dẫn, tuyên truyền và tư vấn về KTTB cho nông dân.
(2) Cung cấp dịch vụ như: cây con giống, chữa bệnh vật nuôi, bảo vệ thực
vật, tiêu thụ nông sản cho nông dân.
(3) Kiểm tra, đánh giá các hoạt động khuyến nông, các chương trình PTNT.
(4) Khuyến nông còn là cầu nối giữa sản xuất và nghiên cứu.
Các yêu cầu của khuyến nông
(1) Cụ thể cho từng cây và con do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là
sinh vật.
(2) Phù hợp với đặc điểm KTXH của từng vùng do sản xuất nông nghiệp
diễn ra trong phạm vi không gian rộng.
(3) Kịp thời do nông nghiệp có tính thời vụ.
4
Nghiên
cứu
Nông dân
Khuyến nông
(4) Phù hợp với từng đối tượng khuyến cáo, do nông dân không đồng nhất

hợp chặt chẽ với các trường, viện nghiên cứu khoa học, trung tâm khoa học nông
nghiệp còn phải phối hợp chặt chẽ với các hội, đoàn thể quần chúng, các tổ chức
quốc tế, các doanh nghiệp… để đẩy mạnh hoạt động khuyến nông, công tác
khuyến nông cần được xã hội hóa.
5
(6) Nguyên tắc công bằng: Khuyến nông phải quan tâm tạo điều kiện đến
mọi thành viên, mọi tầng lớp nông dân, đặc biệt là những người nghèo để họ
phát triển sản xuất, vươn lên cải thiện đời sống và hoà nhập với cộng đồng.
2.2. Cơ sở thực tiển về công tác khuyến nông:
2.2.1. Vài nét về tổ chức hoạt động khuyến nông trên thế giới
Trên thế giới khuyến nông ra đời từ rất sớm và ở hầu khắp các nước. Hoạt
động khuyến nông gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp. Các nước có nền
nông nghiệp phát triển (như Anh, Pháp, Mỹ) một phần cũng là nhờ tác động tích
cực của hoạt động khuyến nông. Vì vậy các nước nông nghiệp đang phát triển
hiện nay (Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan) cũng đang cố gắng xây dựng và hoàn
thiện hệ thống khuyến nông của nước mình.
Tuy nhiên phải đến năm 1843 hoạt động khuyến nông mới có tính phổ rộng
và biểu hiện rõ rệt. Đó là hoạt động của Uỷ ban nông nghiệp của hội đồng thành
phố NewYork (Mỹ). Uỷ ban này đã đề nghị các giáo sư giảng dạy ở các trường
đại học nông nghiệp và các viện nghiên cứu thường xuyên phải xuống cơ sở sản
xuất ở các địa phương để hướng dẫn giúp người nông dân phát triển sản xuất
nông nghiệp.
Hoạt động khuyến nông ở Châu Âu và Bắc Mỹ đã sớm đi vào chính quy và
chuyên nghiệp. Năm 1907 ở Mỹ có 42 trường đại học đã hăng hái thực hiện công
tác khuyến nông, nhiều trường đã tổ chức bộ môn khuyến nông, có khoa khuyến
nông. Đến năm 1910 có khoảng 35 trường đã có bộ môn khuyến nông, sau đó
nhiều chương trình khuyến nông đã phát triển nhanh chóng và hiệu quả. Cùng
thời gian đó ở hầu khắp các nước Châu Âu (Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Tây Ban
Nha…) đều có các trường đại học nông nghiệp, có khoa khuyến nông và thực
hiện công tác khuyến nông rất thành công. Ở các nước này dịch vụ khuyến nông

phát triển một cách toàn diện cả về trồng trọt và chăn nuôi, có sản lượng gạo và
sắn xuất khẩu nhiều nhất thế giới, chất lượng sản phẩm nông nghiệp đạt tiêu
chuẩn cao cho xuất khẩu và tiêu dùng.[2]
* Khuyến nông ở Trung Quốc
Hoạt động khuyến nông ở Trung Quốc đã có từ lâu, năm 1933 trường đại
học Kim Lãng đã thành lập phân khu khuyến nông nhưng mãi đến năm 1970
nước này mới chính thức có tổ chức khuyến nông. Trong Nghị quyết của đảng
cộng sản Trung Quốc khoá VIII về “Tăng cường công tác nông nghiệp và nông
thôn” nêu rõ “phải nắm vững chiến lược KHCN và khuyến nông”, đưa ngay sinh
viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở, chú trọng đào tạo các nông dân giỏi trở thành
khuyến nông viên. Cho tới nay Trung Quốc đã có Uỷ ban quốc gia - cục phổ cập
kỹ thuật nông nghiệp, cấp tỉnh có cục khuyến nông, dưới tỉnh có khuyến nông
phân khu, cấp cơ sở là khuyến nông thôn xã.[2]
Trên đây là hoạt động khuyến nông của một số quốc gia trên thế giới. Nó
cho thấy khuyến nông đang được các nước ngày càng chú trọng, quan tâm hơn
để phục vụ cho phát triển nông nghiệp - nông thôn và nâng cao đời sống người
nông dân. Bằng chứng là năm 1700 mới có 1 nước, năm 1800 có 8 nước, năm
1950 có 69 nước, năm 1992 có 199 nước có tổ chức khuyến nông. Đến năm
1993 Việt Nam cũng chính thức thành lập tổ chức khuyến nông.[2]
2.2.2. Hoạt động khuyến nông ở Việt Nam
2.2.2.1. Sự hình thành và phát triển khuyến nông ở Việt Nam
Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống và phát triển cùng nền văn
minh lúa nước ở nước ta. Từ xưa đến nay nông nghiệp đã đóng vai trò quan
7
trọng và không thể thiếu trong cuộc sống của người dân Việt Nam. Hoạt động
sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi. Ngày nay cuộc sống
ngày càng cao đòi hỏi nông nghiệp phải phát triển để đáp ứng được nhu cầu của
mọi người. Các giai đoạn hình thành và phát triển của khuyến nông Việt Nam đạt
được như sau:
Trong thời kỳ phong kiến, công tác khuyến nông đã đặc biệt được chú trọng.

động khuyến nông cả nước đã nhanh chóng hình thành hệ thống tổ chức khuyến
nông từ tỉnh xuống huyện xã, thôn, bản. Đội ngũ khuyến nông đã nhanh chóng
tăng về số lượng và chất lượng.
8
2) Cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho nông dân về chủ trương đường
lối, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng, Nhà nước và Bộ NN
và PTNT. Về tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp ứng dụng vào sản xuất, về các điển
hình tiên tiến trong thực tế sản xuất, góp phần nâng cao dân trí, trình độ kỹ thuật
và quản lý sản xuất của nông dân, thúc đẩy quá trình hình thành tầng lớp nông
dân sản xuất và kinh doanh giỏi. Đây cũng chính là lực lượng tiếp sức cho cán
bộ khuyến nông. Thực hiện khuyến nông từ nông dân đến nông dân - một cách
làm mang lại hiệu quả cao.
3) Hoạt động khuyến nông đã bám sát các chương trình nông nghiệp trọng
điểm của trung ương và địa phương, đầu tư hỗ trợ có trọng tâm theo yêu cầu của
sản xuất và nguyện vọng của nông dân nhằm đạt được mục tiêu phục vụ cho các
chương trình kinh tế lớn của trung ương và địa phương.
4) Hoạt động khuyến nông đã chuyển giao có hiệu quả các kết quả nghiên
cứu khoa học nông nghiệp của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo đến bà con nông
dân, đồng thời tạo điều kiện để khoa học phát triển hơn. Khuyến nông thật sự là
cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất.
5) Trong lúc HTX nông nghiệp kiểu cũ không còn phát huy tác dụng, HTX
kiểu mới đang được hình thành, công tác khuyến nông ra đời đã đóng góp tích
cực trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
6) Bước đầu tạo được mối liên kết và xã hội hoá công tác khuyến nông. Đã
huy động và hợp tác với các tổ chức chính trị, xã hội, các đoàn thể, cơ quan
nghiên cứu, trường đào tạo, doanh nghiệp trong và ngoài nước, các phương tiện
truyền thông đại chúng tham gia trực tiếp vào hoạt động khuyến nông. Phát huy
được sức mạnh tổng hợp của các đơn vị tham gia hoạt động khuyến nông, nhờ
đó từng bước hoàn thiện nội dung, phương pháp và chính sách khuyến nông.
Hoạt động khuyến nông ngày càng đa dạng, phong phú và hiệu quả.

từng vùng sinh thái trong phạm vi cả nước.
(2) Hướng dẫn các địa phương, các tổ chức khuyến nông xây dựng và thực
hiện các dự án khuyến nông.
(3) Tham gia thẩm định các chương trình, dự án khuyến nông theo quy định
của Bộ NN&PTNT.
(4) Quan hệ với các tổ chức KTXH trong và ngoài nước để thu hút vốn hoặc
tham gia trực tiếp vào các hoạt động khuyến nông.
(5) Xây dựng, theo dõi, đôn đốc và hướng dẫn thực hiện các quy trình kỹ
thuật trồng trọt - chăn nuôi.
(6) Quản lý chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, phân bón trên thị trường.
(7) Theo dõi, đánh giá và thực hiên các chương trình dự án khuyến nông để
tổng hợp tình hình báo cáo Chính phủ.
* Cấp tỉnh có trung tâm khuyến nông tỉnh
TTKN tỉnh trực thuộc Sở NN&PTNT, mỗi trung tâm thường có từ 3 - 5
phòng ban với số cán bộ biên chế từ 15 - 20 người. Nhiệm vụ của TTKN tỉnh
bao gồm:
(1) Xây dựng và hướng dẫn thực hiện các chương trình, dự án khuyến nông
trong tỉnh, từng tiểu vùng sinh thái, từng lĩnh vực SXNN tại địa phương.
(2) Phổ biến và chuyển giao KTTB về nông - lâm - ngư nghiệp và những
kinh nghiệm điển hình trong sản xuất cho nông dân.
10
(3) Bồi dưỡng kỹ thuật, rèn luyện tay nghề và quản lý kinh tế cho CBKN cơ
sở, cung cấp cho nông dân các thông tin thị trường, giá cả nông - lâm - thuỷ sản.
(4) Quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước để thu hút nguồn vốn hoặc
tham gia trực tiếp vào các hoạt động khuyến nông ở địa phương.
(5) Tham gia xây dựng và phổ biến cho nông dân thực hiện các quy trình kỹ
thuật sản xuất thâm canh cây trồng, vật nuôi, lâm sinh, thuỷ sản.
(6) Tổng kết đánh giá việc thực hiện các chương trình dự án khuyến nông
cấp tỉnh.
* Cấp huyện, thị xã có Trạm khuyến nông huyện, thị xã

(4) Thực hiện, tổ chức và theo dõi các mô hình sản xuất tiên tiến.
(5) Điều tra thu thập thông tin làm cơ sở cho xây dựng và triển khai dự án
khuyến nông.
(6) Hàng tháng tổng hợp tình hình hoạt động khuyến nông viết và trình bày
báo cáo tại các kỳ họp giao ban thường niên.
Hệ thống tổ chức khuyến nông Nhà nước ở Việt Nam được tổ chức theo
kiểu hình tháp, thống nhất chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở. Hệ thống này có
nhiệm vụ vừa kết hợp vừa tạo điều kiện cho hệ thống khuyến nông ngoài Nhà
nước hoạt động vì một mục tiêu chung là khuyến khích mở rộng sản xuất ngành
nông nghiệp trên phạm vi cả nước.
Ngoài hệ thống khuyến nông Nhà nước thì hiện nay ở nước ta việc xã hội
hoá công tác khuyến nông đã tạo điều kiện cho các tổ chức, các doanh nghiệp
thực hiện các hoạt động khuyến nông của mình từ đó đem lợi ích cho chính cá
nhân và tổ chức đó và cho bà con nông dân. Bằng sự thay đổi này cũng tạo ra
nhiều hơn những cơ hội việc làm cho đội ngũ sinh viên mới ra trường, cán bộ kỹ
thuật được đào tạo bài bản, đặc biệt là hàng nghìn sinh viên các trường nông lâm
nghiệp tốt nghiệp mỗi năm phục vụ cho các địa bàn, nhất là vùng miền núi, vùng
sâu, vùng xa.
2.2.2.3. Kết quả hoạt động công tác khuyến nông ở Việt nam
Ở Việt Nam, công tác khuyến nông đã có đóng góp quan trọng trong việc
chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng và có
hiệu quả, hướng mạnh xuất khẩu, phát triển ngành nghề nông thôn mới, tăng thu
nhập, xoá đói giảm nghèo. Công tác khuyến nông chuyển giao KTTB trong thời
gian qua đã đạt được một số kết quả chủ yếu sau:
Đã thực hiện tốt sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, tạo được lòng tin và
hưởng ứng của nông dân, đã thực hiện được việc chuyển giao KTTB tới nông
dân theo các chương trình khuyến nông có hiệu quả, đặc biệt trên lĩnh vực giống
cây trồng, vật nuôi có ưu thế lai, các KTTB được áp dụng thành công trong nông
nghiệp.
Công tác khuyến nông góp phần duy trì được tốc độ tăng trưởng của nông

6.354 90 8.000
SX lúa lai
thương phẩm
313 1.500 313 1.500 33 2.670
SX và nhân
giống lúa CL
1.058 3.380
1.08
8
3.530 105 9.185
3 giảm 3 tăng
trong SX lúa
CL
1.707 3.800
2.02
7
4.000 98 4.140
Chuyển đổi
cơ cấu và
luân canh,
tăng vụ cây
trồng
906 3.600 926 3.700 90 6.500
SX rau theo
Việt GAP,
hoa chất
lượng
886 5.780
1.01
0

kế hoạch cả về quy mô diện tích (9.014ha/8.567ha = 105%) cũng như kinh phí
(40.960 triệu/40.050 triệu = 102%). Các dự án trồng trọt triển khai theo đúng kế
hoạch, đạt các yêu cầu, mục tiêu về năng suất, chất lượng, hiệu quả. Các điểm
trình diễn cho năng suất cao hơn từ 10- 30% so với ngoài mô hình. Chương trình
đã góp phần tăng thu nhập cho nông dân, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh
lương thực ở những vùng khó khăn. Nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung
được hình thành cung cấp nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu. Chất
lượng sản phẩm cũng được nâng lên, áp dụng các quy trình sản xuất sạch, sản
xuất theo tiêu chuẩn Việt GAP, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.
Chương trình khuyến nông chăn nuôi
Năm 2010 chương trình khuyến nông chăn nuôi triển khai với kinh phí 30,8
tỷ đồng. Kết quả thực hiện như sau:
Bảng 2.2: Chương trình khuyến nông về chăn nuôi
Chương trình
Quy mô
(con, đàn)
Số
điểm
TD
Số hộ
tham gia
Số lượt
người được
tập huấn,
tham quan
Cải tạo giống bò theo
hướng chuyên thịt
4.449 54 2.424 5.518
Vỗ béo đàn bò 7.821 62
2.81

cho người dân.
Chương trình đã góp phần làm thay đổi tập quán chăn nuôi cũ của bà con
nông dân, từng bước phát triển hình thức chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giúp nông dân xóa đói giảm nghèo, cải
thiện đời sống. Các mô hình được người dân hưởng ứng và có khả năng nhân
rộng trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên vấn đề tồn tại ở đây là một số mô
hình đạt kết quả cao nhưng công tác phổ biến tuyên truyền để nhân rộng mô hình
còn hạn chế do các quy định còn chưa phù hợp, kinh phí hỗ trợ ít. Vì vậy công
tác khuyến nông cần đẩy mạnh để hoạt động chăn nuôi đạt hiệu quả cao hơn, góp
phần xóa đói giảm nghèo, tiến tới làm giầu cho người dân.
Chương trình khuyến ngư
Năm 2010 chương trình khuyến ngư triển khai với kinh phí 23,2 tỷ đồng,
chiếm 13% trong tổng số kinh phí dùng để phát triển sản xuất nông nghiệp.[4]
Một số kết quả đạt được như sau:
Bảng 2.3: Chương trình khuyến ngư
Chương trình
Kế hoạch Thực hiện
Quy

Kinh
phí (Tr.đ)
Quy

Kinh
phí (Tr.đ)
Phát triển nuôi thủy
sản nước ngọt
348ha
và 1140m
3

23.08
9
Nguồn: Báo cáo tổng kết Khuyến nông – Khuyến ngư Việt Nam năm 2009 -
2010
Số liệu thể hiện được diện tích nuôi trồng thủy sản là rất lớn và nước ta đã
xây dựng, phát triển nhiều chương trình nuôi trồng thủy sản khác nhau. Chương
trình Khuyến ngư đã được triển khai ở nhiều vùng trên cả nước với quy mô lớn,
đặc biệt là ở các vùng phía nam nước ta. Đây là tiềm năng để phát triển nuôi
trồng thủy sản ở nước ta.
Khi đi vào thực hiện các chương trình nhìn chung việc phát triển nuôi trồng
thủy sản đã thực hiện được kế hoạch đưa ra và sự chênh lệch giữa kế hoạch và
thực tiển là không đáng kể. Hoạt động nuôi trồng thủy sản được triển khai trên
nhiều diện tích đất nuôi trồng khác nhau và thấy được sự đa dạng về các vật nuôi
trong nuôi trồng thủy sản ở nước ta. Vì vậy nguồn lợi thu được từ thủy sản là rất
lớn. Kinh phí hoạt động thấp hơn so với kế hoạch đặt ra từ 23.200 triệu đồng
giảm còn thành 23.089 triệu đồng. Kinh phí cho các hoạt động nuôi trồng thủy
sản không vượt quá kế hoạch, khi đi vào thực hiện vẫn đáp ứng được hoạt động
phát triển nuôi trồng thủy sản.
Qua bảng số liệu thấy được quy mô ngành nuôi trồng thủy sản nước ngọt,
nước mặn, nước lợ tăng lên, còn việc nuôi trồng ở biển đảo hay nuôi tôm sú đã
bị giảm xuống. Cho thấy hướng phát triển của ngành thủy sản nước ta là việc chú
trọng nuôi, chăm sóc từ khâu ban đầu cho đến khi thu hoạch. Đây là bước thay
đổi lớn trong nhận thức của người dân. Mặc dù ngành nuôi trồng thủy sản chưa
phải là ngành chủ đạo trong sự phát triển nông nghiệp của đất nước nhưng nếu
biết nuôi trồng và khai thác thủy sản hợp lí thì nguồn lợi mà nó đem lại là vô
cùng to lớn.
2.2.4. Hoạt động khuyến nông ở tỉnh Quảng Bình
Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Quảng Bình đã có nhiều
chuyển biến đáng kể, năng suất sản lượng cây trồng vật nuôi không ngừng tăng
lên. Những thành công đã đạt được trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp tăng lên

lâm nghiệp với tổng kinh phí trên 09 tỷ đồng. Những mô hình, chương trình
trọng điểm như lúa lai, ngô lai, lúa lai kết hợp tái sinh (lúa chét), chăn nuôi lợn
hướng nạc, cải tạo đàn bò vàng địa phương… và nhân rộng mô hình vì thế góp
phần tích cực tăng trưởng kinh tế và ổn định an ninh lương thực, thực hiện công
cuộc xoá đói, giảm nghèo của tỉnh Quảng Bình.[6]
Công tác thông tin, tuyên truyền quảng bá chuyển giao khoa học - kỹ thuật
tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ khuyến nông - khuyến lâm được triển
khai trên toàn huyện và nhận được sự hưởng ứng của mọi người. Các hoạt động
này diễn ra thường xuyên và phân bố ở nhiều vùng trong tỉnh. Công tác khuyến
nông được chú trọng nhiều hơn ở các vùng sâu, vùng xa trên toàn tỉnh. Ở những
vùng này thường có những ưu tiên để họ có thể sản xuất nông nghiệp đạt hiệu
quả cao. Khi được phỏng vấn hầu hết người dân đều có mong muốn được tham
gia nhiều vào các chương trình khuyến nông trên địa bàn tỉnh. Thông qua các
chương trình khuyến nông người dân được học hỏi về kỹ thuật sản xuất, nâng
17
cao trình độ quản lý và tiếp cận với kênh thông tin về thị trường, giúp định
hướng sản xuất có hiệu quả hơn. Qua đó cho thấy hoạt động khuyến nông đã góp
phần vào thành công cho sự phát triển nông nghiệp của tỉnh trong những năm
qua.
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu những hoạt động khuyến nông tại Trạm khuyến
nông huyện Quảng Ninh, cán bộ khuyến nông (CBKN) hiện đang làm việc tại
huyện và một số hộ nông dân được lựa chọn trên địa bàn huyện.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nghiên cứu: Trạm khuyến nông huyện, các xã trong huyện, các hộ
dân và một số điển hình kinh tế có tác động của hoạt động khuyến nông tại địa
bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

3.3.6. Đánh giá những thành công và hạn chế trong công tác khuyến nông huyện
Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình từ năm 2009 – 2011.
3.3.7. Giải pháp nhằm nâng cao vài trò của công tác khuyến nông trong việc phát
triển sản xuất nông nghiệp
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.4.1.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp tại huyện thông qua các báo cáo tổng kết năm
2009, 2010, các số liệu thống kê lưu trữ về đất đai, dân số, cơ sở hạ tầng của
huyện, báo cáo khuyến nông của trạm trong năm 2009, 2010, 2011.
- Các nguồn thống kê của huyện và tỉnh, các thông tin từ dự án, của các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn.
3.4.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Quan sát thực địa: Tiến hành quan sát một cách tổng thể địa hình, giao
thông tình hình phát triển kinh tế xã hội văn hóa trên địa bàn huyện Quảng Ninh.
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ khuyến nông để tìm hiểu về các hoạt
động khuyến nông và mức độ thành công của các chương trình, dự án.
- Thảo luận nhóm: Để đánh giá mức độ hài lòng của người dân về các hoạt
động khuyến nông.
- Phỏng vấn hộ
19
Phỏng vấn 30 hộ theo phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc với các câu hỏi
(có trong bảng hỏi) để khai thác thông tin của người dân đầy đủ và chủ động
hơn. Các hộ được chọn ngẫu nhiên để lấy các thông tin là những hộ dân sản xuất
nông nghiệp lấy ý kiến của họ về hoạt động khuyến nông tại địa phương. Các
thông tin cần thu thập là nhận thức và đánh giá của CBKN, người dân địa
phương về các hoạt động khuyến nông.
Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý qua phần mềm Excel đối với các số liệu
định lượng và xử lý các số liệu định tính.
PHẦN 4

Giống như các huyện khác trong tỉnh, địa hình huyện Quảng Ninh có đặc
trưng là hẹp và dốc, nghiêng từ phía Tây sang phía Đông. Phía Tây là núi cao, kế
tiếp là vùng đồi thấp, phân bố theo kiểu bát úp, gần bờ biển có dải đồng bằng
nhỏ và hẹp. Sau cùng là những tràng cát ven biển có dạng lưỡi liềm hoặc dẻ
quạt. Địa hình như vậy đã chia huyện thành các vùng sinh thái cơ bản gồm Vùng
núi cao (xã Trường Sơn), vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng cát ven
biển (xã Hải Ninh). Nhiều vùng sinh thái khác nhau tạo điều kiện để phát triển
nhiều loại cây trồng vật nuôi khác nhau, tạo ra sự đa dạng về các hoạt động sản
xuất nông nghiệp. Địa hình Quảng Ninh đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng rất
lớn đến phát triển sản xuất nông nghiệp của toàn huyện.
4.1.1.2. Điều kiện thời tiết khí hậu
Thời tiết khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Nghiên cứu tình hình thời tiết khí hậu sẽ tạo điều kiện cho việc bố trí hệ thống
cây trồng vật nuôi cho phù hợp, làm tăng hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu tình hình thời tiết khí hậu còn góp phần phòng
chống thiên tai lũ lụt, hạn hán làm giảm nhẹ những tổn thất trong sản xuất.
Tỉnh Quảng Bình nói chung và huyện Quảng Ninh nói riêng đều nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động bởi khí hậu của phía Bắc và
phía Nam, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm
2.000 - 2.300mm/năm. Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11.[5]
Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24
o
C - 25
o
C. Ba
tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8.[5]
Về lượng mưa
Lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm nên vào mùa
nóng thì thiếu nước cho sản xuất trong khi đó vào mùa mưa, lượng mưa lớn đôi

C, nó không thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng, vật nuôi.
Về thủy văn
Hệ thống sông ngòi trên địa bàn huyện là tương đối nhiều trong đó có 2 con
sông lớn chảy qua địa bàn huyện là sông Long Đại và chi lưu của sông Nhật Lệ.
Đây là điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp lượng lớn nước phục vụ cho sản
xuất hằng ngày. Tận dụng ưu thế có sông chảy qua, trên địa bàn huyện đã xây
dựng hồ chứa và các trạm bơm nước là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản
xuất và sinh hoạt của người dân. Ngoài ra còn phục vụ cho nhu cầu đi lại, vận
chuyển hàng hóa của người dân. Tuy nhiên, do việc sử dụng nguồn nước chưa
hợp lí nên hệ thống thủy văn chưa được đầu tư thỏa đáng để đáp ứng được nhu
cầu sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày và nước phục vụ trong sản
xuất cây trồng vật nuôi.
4.1.1.3. Tình hình sử dụng đất đai
Giống như các huyện khác trong tỉnh, tài nguyên đất ở huyện Quảng Ninh
được chia thành hai hệ đất chính là Đất phù sa ở vùng đồng bằng và hệ pheralit ở
vùng đồi và núi với 15 loại đất và các nhóm chính như sau: nhóm đất cát, đất
phù sa và nhóm đất đỏ vàng. Cơ cấu diện tích các loại đất đai của huyện được
thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.2: Cơ cấu diện tích đất đai
Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010
Diện
tích(ha)

cấu(%)
Diện
tích(ha)

cấu(%)
Tổng diện
tích đất

10,70
0,31
0,10
2. Đất phi
nông nghiệp
- Đất ở
-Đất
chuyên dùng
- Đất tôn
giáo, tín
ngưỡng
- Đất nghĩa
địa
- Đất sông
suối, mặt nước
6.199,25
485,50
2.785,85
2,19
289,98
2.635,72
5,20
7,83
44,93
0,04
4,68
42,51
6.209,21
494,31
2.776,46

4,23
5,70
88,83
5,47
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quảng Ninh năm 2010.
Qua bảng số liệu diện tích đất đai của huyện cho chúng ta những nhận xét:
Quảng Ninh là một huyện có diện tích đất lớn và đất đai được sử dụng với nhiều
mục đích khác nhau. Trong toàn bộ diện tích đất của huyện, đất ngoài việc sử
dụng đất để sinh hoạt thì đất còn sử dụng nhiều vào sản xuất nông nghiệp, đất
phi nông nghiệp và một lượng lớn đất chưa sử dụng. Qua từng năm diện tích cây
trồng vật nuôi đã có sự thay đổi. Diện tích sản xuất nông nghiệp năm 2009 là
107.925,17ha đến năm 2010 diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 107.913,66ha
tuy nhiên cơ cấu không thay đổi vẫn 90,56% trong tổng số đất sử dụng. Cơ cấu
23
cây trồng thay đổi thể hiện qua diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp đặc biệt đối với diện tích nuôi trồng thủy sản tăng lên đáng kể. Diện tích
đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng cũng có thay đổi nhưng không đáng kể.
Năm 2010, đất đai của huyện tập trung chủ yếu là đất nông nghiệp, chiếm
diện tích rất lớn so với diện tích đất toàn huyện. Diện tích đất nông nghiệp là
107.913,66ha chiếm 90,56% trong đó đất cây trồng hàng năm 7.297,14ha chiếm,
đất cây trồng lâu năm là 348,12ha. Đất lâm nghiệp chiếm diện tích đa số so với
các loại đất khác là 99.881,87ha chiếm 92,55%. Trong năm qua chính quyền
huyện đã xác định lâm nghiệp là lĩnh vực có tiềm năng lớn của huyện, do đó có
những ưu tiên về quyền bảo vệ và khai thác hợp lí nguồn tài nguyên lâm nghiệp.
Người dân ở đây thường trồng các loại rau màu, cây ngắn ngày phục vụ cho
cuộc sống hằng ngày của họ, tập trung vào việc lấy ngắn nuôi dài kết hợp với
việc trồng các cây trồng lâu năm nhưng số lượng cây lâu năm trên địa bàn huyện
là không lớn. Qua các năm đất sản xuất nông nghiệp được tăng lên đáng kể ta
thấy được xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng của người dân địa phương.
Bên cạnh đất được sử dụng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đất phi

như ở thị trấn Quán Hàu, trong khi đó ở các vùng đồi
núi đất đai rộng lớn thì mật độ lại rất thấp như xã Trường Xuân có mật độ dân cư
là 13 người/ km
2
, riêng đối với xã Trường Sơn mật độ dân cư chỉ 5 người/ km
2
.
Qua đó cho thấy mật độ dân cư ở vùng thấp nhất và vùng cao nhất có sự chênh
lệnh rất lớn. Nơi có diện tích đất lớn thì mật độ dân lại thấp còn nơi có diện tích
đất ít thì số người sống lại đông đúc hơn rất nhiều. Sự phân bố dân cư không
đồng đều đó dẫn đến những khó khăn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội
của huyện.
Về lao động: Theo số liệu của phòng thống kê huyện, sự phân bố lao động
trong các ngành nghề được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.3: Phân bố lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế.
Lĩnh vực Số lao động (người) Cơ cấu (%)
Tổng số 70.509 100
1. Nông lâm nghiệp 48.697 69,06
2.Thủy sản 3.482 4,94
3.Công nghiệp và
xây dựng
7.247 10,28
4.Thương nghiệp và
dịch vụ
3.597 5,10
5.Các lĩnh vực khác 7.486 10,62
Nguồn: Phòng thống kê huyện Quảng Ninh năm 2010.
Qua bảng số liệu về phân công lao động trong các ngành kinh tế cho thấy
lực lượng lao động chính của huyện tập trung vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp,
lao động trong lĩnh vực này chiếm tới 69,06 %, cho thấy nông nghiệp đóng vai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status