GV: Nguyễn Thị Mai Hương
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế -xã hội, đầu tư nước
ngoài đang có xu hướng ngày càng gia tăng mạnh mẽ và có vai trò to lớn đối với
quá trình phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng của mỗi quốc gia. Việt Nam là
một trong những quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế chính trị
quốc phòng. Trong những năm qua Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng
của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong sự phát triển kinh
tế xã hội của đất nước nói chung và của các địa phương nói riêng nhưng
quy mô FDI vào nước còn hạn chế, nước cần có những giải pháp thiết thực hơn
trong việc thực hiện thu hút, sữ dụng có hiệu quả vốn FDI của các nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào nước ta trong thời gian tới.
Mục đích của đề tài: Tiến hành đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và thực
trạng thu hút vốn FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 -2011 từ đó
đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn FDI trong giai đoạn tiếp theo.
Phạm vi nghiên cứu : Tình hình thu hút FDI và hiệu quả sử dụng vốn
tại Việt Nam từ 2008 -2011.
Phương pháp nghiên cứu: Đề án áp dụng phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử làm cơ sở kết hợp với phương pháp tổng hợp
thống kê
Kết cấu đề án: Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo. Đề án gồm có 3 phần:
Phần 1: Tổng quan về hoạt động đầu tư nước ngoài.
Phần 2: Hiệu quả sử dụng vốn FDI và thực trạng thu hút vốn
FDI trong giai đoạn (2008-2010) tại Việt Nam.
Phần 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường tính hiệu quả sử
SV: Nguyễn Văn Thuận 1
GV: Nguyễn Thị Mai Hương
dụng vốn FDI và thu hút vốn đầu tư.
Với khả năng đánh giá thu thập thông tin còn hạn chế, đề tài của nhóm 4 còn
SV: Nguyễn Văn Thuận 3
GV: Nguyễn Thị Mai Hương
là văn bản kí kết của hai bên hay nhiều bên quy định trách nhiệm và phân
chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam
mà không cần thành lập tư cách pháp nhân.
1.3.2 Doanh nghiệp liên doanh:
Theo khoản 2 điều 2 luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam quy định
doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tác thành lập
tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí giữa chính phủ
nước Cộng hoà xã hộ chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ nước ngoài hoặc doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc các doanh
nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên
doanh.
1.3.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Theo điều 26 Nghị định 12 CP quy định: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư
nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập
tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh
doanh. “Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt
Nam. Thời gian hoạt động không quá 50 năm kể từ ngày cấp giấy phép”.
1.3.4 . Hợp động xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT)
Theo điều 12 khoản 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “ Hợp đồng xây
dựng – kinh doanh – chuyển giao là văn bản kí giữa cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu
hạ tầng trong thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao
không bồi hoàn công trình đó cho nhà Việt Nam”
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh là văn bản kí kết giữa cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài xây dựng
công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài
chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Chính phủ Việt Nam dành
GV: Nguyễn Thị Mai Hương
Đối với chúng ta nước tiếp nhận đầu tư thì các dự án đầu tư trực tiếp có ý
nghĩa hết sức quan trọng bởi nó giúp chúng ta có nhiều cơ hội hơn trong việc hội
nhập vào nền kinh tế thế giới.
2.2. Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
2.2.1 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp chúng ta giải quyết những khó khăn về
vốn cũng như công nghệ và trình độ quản lý, nhờ vào những yếu tố này sẽ giúp
cho nền kinh tế tăng trưởng một cách nhanh chóng, giúp chúng ta khắc phục
được những điểm yếu của mình trong quá trình phát triển và hội nhập.
FDI còn giúp chúng ta tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa hiện
đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay, đây chính là một nguồn vốn lớn trong
đó có cả tiềm lực về mặt tài chính và tiềm lực về mặt khoa học công nghệ cũng
như những kinh nghiệm quản lý hết sức cần thiết cho
chúng ta trong giai đoạn hiện nay.
2.2.2 Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một phần quan trọng trong kinh tế đối
ngoại, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình
phân công lao động quốc tế. Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và tham gia
tích cực vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới đòi hỏi từng
quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công
lao động quốc tế và sự vận động chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia
phù hợp với trình độ phát triển chung của thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và chính đầu tư nước ngoài sẽ góp phần
làm chuyển dịch dần cơ cấu kinh tế.
2.2.3 Đầu tư trực tiếp tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội hiên nay
Nguồn vốn cho đầu tư phát triển chủ yếu là từ ngân sách nhưng đầu tư
trực tiếp cũng góp một phần quan trọng trong đó. Đối với một nước còn chậm
phát triển như nước ta nguồn vốn tích luỹ được là rất ít vì thế vốn đầu tư nước
đầu được đặt ra.
Những con số đi ngược kỳ vọng
Từ khi FDI vào Việt Nam, khối doanh nghiệp có FDI được kỳ vọng sẽ là lực
lượng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo vốn và kích thích
chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ cho nền kinh tế. Trên thực tế, một
báo cáo mới đây của Công ty Chứng khoán Artex, trong giai đoạn 10 năm từ
1999 đến 2009, đặc biệt trong ba năm qua, đánh giá: “khu vực FDI kém hiệu
quả nhất (…), hầu như các doanh nghiệp FDI đều lỗ (theo báo cáo), hoặc các
doanh nghiệp khác thì thực chất là một phân xưởng của công ty mẹ ở nước
ngoài”.
Để đơn giản, có thể đánh giá hiệu quả FDI căn cứ vào hai chỉ số: ICOR (tỉ
số gia tăng vốn và đầu vào) và TFP (hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp).
ICOR càng cao thì càng là dấu hiệu xấu, chứng tỏ vốn đầu tư trở thành yếu tố
quá quan trọng trong khi các nhân tố tăng trưởng khác lại không phát huy.
Ngược lại, TFP càng cao càng là dấu hiệu tốt.
SV: Nguyễn Văn Thuận 8
GV: Nguyễn Thị Mai Hương
Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế Bùi Trinh cho thấy trong 10 năm (1999-
2009), ICOR của khu vực nhà nước, tư nhân và FDI lần lượt là: 7,76; 3,54; và
7,91. Nhìn ra thế giới, ICOR trung bình của nhóm tăng trưởng cao chỉ có 3,6.
“Khối FDI có chỉ số ICOR cao nhất và điều đó chứng tỏ hiệu quả của họ là thấp
nhất” - ông Bùi Trinh cho biết.
V$ BY%!$>);3Z<$WY
V,
Còn về khía cạnh chuyển giao công nghệ, giai đoạn 2004-2009, hệ số TFP
của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp có FDI lần lượt là:
8,6; 3,1 và -17,6. Theo ông Bùi Trinh, hệ số TFP của khối nhà nước cao nhất
cho thấy mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả)
nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật. Nói cách khác, doanh nghiệp công
“cũng có mang lại đổi mới công nghệ”. Trong khi ở khối FDI thì chỉ số này lại
lệ lao động làm việc trong khu vực này đã giảm xuống trong năm năm trở lại
đây. Tuy nhiên, nguồn vốn hút về khối doanh nghiệp nhà nước thì vẫn tăng.
Trong khi đó, nếu căn cứ vào quy mô vốn, có thể thấy khối tư nhân mới là lực
lượng đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, sử dụng nhiều lao động nhất (giúp giảm sức
SV: Nguyễn Văn Thuận 10
GV: Nguyễn Thị Mai Hương
ép về nhu cầu việc làm của người lao động) nhưng vốn đầu tư cho họ lại thấp
nhất. Cuối cùng, các chuyên gia cảnh báo: “FDI là khu vực đóng góp ít nhất cho
nền kinh tế”.
[3 O\]^_OOW`O
O'K&)%8$: Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực vào
năm 1997 và tiếp đó là sự suy thoái của Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU vào các năm
1998 – 2000 làm cho dòng vốn đầu tư từ các nước châu Á và các nước EU, châu
Mỹ vào Việt Nam giảm sút. Thêm nữa, việc Trung Quốc gia nhập WTO với môi
trường đầu tư quốc tế chú ý nhiều tới thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng này
hơn.
O'K$
- Môi trường pháp lý vẫn chưa minh bạch, chưa rõ ràng, thiếu nhất quán
làm cho các nhà đầu tư khó khăn khi tiếp xúc với hệ thống pháp lý, làm xáo trộn
các phương án kinh doanh của các nhà đầu tư và gây thiệt hại tới lợi ích của các
nhà đầu tư.
- Môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh chưa đồng bộ, thiếu sự kết
hợp và thiếu tính ổn định; nhiều công cụ tài chính và nhiều thị trường chưa phát
triển đầy đủ và chưa phát huy hiệu quả gây trở ngại cho quá trình thực hiện đầu
tư.
- Việt Nam còn thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch tổng thể và quy
hoạch chi tiết hoặc có quy hoạch nhưng chất lượng chưa cao, dẫn tới tình trạng
một số ngành, một số doanh nghiệp FDI cung sản phẩm vượt quá cầu hiện tại
(như các dự án khách sạn, sản phẩm điện tử, gia dụng, ô tô ), dẫn tới tình trạng
không lãi. Quy hoạch chi tiết của các địa phương chồng chéo, còn tình trạng
độ tin cậy cao. Điều này không mới, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong điều
kiện còn những thế lực rắp tâm gây mất ổn định ở Việt Nam.
Nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế và hệ thống pháp luật
có liên quan tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Sau gần 20 năm đổi mới nền kinh tế, Nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi
rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế cho phù hợp với
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta
còn phải nhanh chóng ban hành các luật mới như: Luật thương mại, Luật lao
động, Luật sở hữu trí tuệ, Luật đất đai, Luật cạnh tranh, Luật phá sản, Luật
chống bán phá giá để có thể điều chỉnh một cách đồng bộ các mối quan hệ
trong nền kinh tế. Đồng thời, cần sớm nghiên cứu và ban hành các luật có liên
quan tới lĩnh vực đầu tư nói chung như Luật đầu tư, Luật chống độc quyền, Luật
kinh doanh bất động sản, Luật tín dụng, Luật kinh doanh chứng khoán nhằm
SV: Nguyễn Văn Thuận 13
GV: Nguyễn Thị Mai Hương
tạo mặt bằng pháp lý cho một môi trường đầu tư và kinh doanh bình đẳng, thông
thoáng giữa các loại hình doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau.
Hơn nữa, phải nhanh chóng ký kết và tham gia các công ước quốc tế, mhư công
ước Washington 1965, nhằm giải quyết các tranh chấp với các nhà đầu tư nước
ngoài.
Xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể về đầu tư của cả nước, của
từng khu vực và địa phương, của từng ngành; công bố danh mục dự án gọi vốn
đầu tư nước ngoài; phát triển hệ thống thông tin xúc tiến đầu tư gắn với chương
trình đầu tư và các đối tác cụ thể.
Trong định hướng về thu hút sử dụng vốn FDI theo ngành và lĩnh vực cần
khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút vốn FDI vào các ngành công nghiệp chế
biến xuất khẩu, công nghiệp cơ khí, điện tử, dầu khí, xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm,
khai thác ưu thế về tài nguyên, nguyên liệu phục vụ sản xuất, đồng thời, cần có
sự khuyến khích và có chính sách ưu đãi thỏa đáng đối với các dự án chế biến
khích phát triển sản xuất và áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp trong
nước và doanh nghiệp FDI. Nhanh chóng cải cách giá dịch vụ và xoá bỏ chế độ
hai giá. Rà soát và thống nhất mức tiền thuê đất theo từng khu vực, từng địa bàn
phù hợp với yêu cầu phát triển và thu hút đầu tư. Giải quyết dứt điểm vấn đề đền
bù, giải phóng mặt bằng. Thực hiện việc giao đất đã đền bù giải phóng mặt bằng
cho các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, tránh việc đẩy giá đất
lên cao quá mức như hiện nay. Có các văn bản pháp quy về cầm cố, thế chấp giá
trị quyền sử dụng đất, chuyển sang chế độ Nhà nước cho thuê đất. Có các quy
định về vay vốn rõ ràng, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước và doanh
nghiệp FDI dễ dàng tiếp cận thị trường vốn, thị trường tín dụng trung và dài hạn.
Thí điểm việc cổ phần hóa các doanh nghiệp FDI và đa dạng hóa các hình thức
đầu tư như cho phép thành lập công ty cổ phần có vốn đấu tư nước ngoài, công
ty hợp doanh, thực hiện hình thức mua lại, sáp nhập và cho phép các nhà đầu tư
SV: Nguyễn Văn Thuận 15
GV: Nguyễn Thị Mai Hương
nước ngoài tham gia vào quá trình sắp xếp lại các DNNN. Giảm dần tỷ lệ kết hối
ngoại tệ, tiến tới xoá bỏ việc kết hối bắt buộc khi có điều kiện, từng bước thực
hiện mục tiêu hoán chuyển ngoại tệ đối với các giao dịch vãng lai. Có chính
sách bổ sung đảm bảo việc bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp FDI đã thực hiện
nghĩa vụ kết hối để đáp ứng nhu cầu hợp lý của doanh nghiệp. Xây dựng quy
chế quản lý hoạt động tài chính doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, ban hành các
chuẩn mực kế toán, kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế. Xây dựng các
chuẩn mực về định giá tài sản, đánh giá tài sản đối với các doanh nghiệp FDI
nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo sự quản
lý của Nhà nước.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối
với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cải cách hành chính có liên quan chặt chẽ đến việc lành mạnh hoá môi
trường đầu tư, giảm các thủ tục phiền hà của hệ thống hành chính với quá trình
đầu tư, nâng cao hiệu quả đầu tư vốn. Cần thực hiện việc đơn giản hoá các thủ
Cần chú trọng công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý và
công nhân kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu của cách mạng khoa học – công nghệ và
của các doanh nghiệp FDI
Đối với cán bộ quản lý cần chú trọng đào tạo cả kiến thức chuyên môn,
trình độ ngoại ngữ lẫn phẩm chất đạo đức. Việc nắm vững các kiến thức về luật
pháp quốc tế, về thương trườngthế giới cũng cần được lưu tâm. Việc đào tạo và
đào tạo lại công nhân kĩ thuật để phù hợp với yêu cầu tuyển dụng của các nhà
đầu tư nước ngoài là rất cấp thiết để giải quyết tình trạng thừa lao động phổ
thông, thiếu lao động có trình độ.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần chủ động cùng các bộ tổ chức các lớp tập
huấn cho đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước và cán bộ trong các doanh
nghiệp FDI. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tổ chức đào tạo chính quy các cán bộ
SV: Nguyễn Văn Thuận 17
GV: Nguyễn Thị Mai Hương
làm công tác quản lý đầu tư nước ngoài, các cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp
FDI.
Cần đa dạng hóa các loại hình đào tạo, mở rộng phạm vi đào tạo dạy nghề
cho đội ngũ công nhân kĩ thuật tại các địa phương, đặc biệt là tại các vùng sâu,
vùng xa, hoặc những địa phương có thế mạnh về lao động. Việc đào tạo cần
được tiến hành đồng thời, có hệ thống cả về chuyên môn nghiệp vụ, văn hoá,
ngoại ngữ, luật pháp Cần cải tiến nội dung chương trình đào tạo theo hướng
coi trọng thực hành, thường xuyên kiểm tra phân bậc tay nghề thông qua hình
thức thi tay nghề, thi tuyển công nhân tài năng Cần gắn chặt vịệc đào tạo
nghề tại các trường với các doanh nghiệp FDI, có chính sách khuyến khích các
doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động
phù hợp với đặc thù doanh nghiệp.
Cần nghiên cứu, rút kinh nghiệm và phát triển mô hình liên doanh đào tạo
như dự án Trung tâm đào tạo kĩ thuật Việt Nam – Singapore (VSTTC) tại Bình
Dương. Tranh thủ tối đa sự hợp tác, đầu tư của nước ngoài, các dự án quốc tế để
từng bước đưa cán bộ quản lý và công nhân ra học tập và làm việc ở nước ngoài.
H$
SV: Nguyễn Văn Thuận 21