BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thu Sang
THIẾT KẾ TRÕ CHƠI NHẰM PHÁT TRIỂN
VỐN TỪ CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI
Ở TRƢỜNG MẦM NON HƢỚNG DƢƠNG,
HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thu Sang
THIẾT KẾ TRÕ CHƠI NHẰM PHÁT TRIỂN
VỐN TỪ CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI
Ở TRƢỜNG MẦM NON HƢỚNG DƢƠNG,
HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành : Giáo dục học (Mầm non)
Mã số
: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Sƣ phạm Tp.HCM, các thầy cô khoa Giáo dục Mầm non trƣờng Đại học
Sài gòn và trƣờng Cao đẳng TW Tp.HCM cùng toàn thể các thầy cô là
những ngƣời đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ vô cùng có ích
trong thời gian theo học vừa qua. Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn
chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học đã tạo điều
kiện để tôi hoàn thành khoá học.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể GV, các
cháu trƣờng mầm non Hƣớng Dƣơng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đã
giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình khảo
sát, thử nghiệm để hoàn thành luận văn này.
Bến Tre, ngày 20 tháng 9 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Thu Sang
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC THIẾT KẾ TRÕ CHƠI
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ
3-4 TUỔI ........................................................................................ 5
phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi. ................................................... 36
2.2.3. Mức độ phát triển vốn từ của trẻ 3 – 4 tuổi ........................................ 46
Tiểu kết chƣơng 2 .............................................................................................. 51
Chƣơng 3.
THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ TRÕ CHƠI
NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI ........ 53
3.1. Nguyên tắc thiết kế trò chơi cho trẻ .......................................................... 53
3.2. Giới thiệu một số trò chơi đã thiết kế ....................................................... 53
3.3. Thử nghiệm và phân tích kết quả thử nghiệm .......................................... 69
Tiểu kết chƣơng 3 .............................................................................................. 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 87
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
1
BGH
Ban giám hiệu
7
HĐVC
Hoạt động vui chơi
8
MN
Mầm non
9
MNHD
Mầm non Hƣớng Dƣơng
10
MNSC
Mầm non Sơn Ca
11
MGTT
Mẫu giáo Thới Thuận
17
TCHT
Trò chơi học tập
18
TCVĐ
Trò chơi vận động
19
TCXDLG
Trò chơi xây dựng lắp ghép
20
TW2
Trung ƣơng 2
21
THSP
Trung học sƣ phạm
phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi .................................................... 37
Bảng 2.5.
Thứ tự hoạt động theo mức độ từ quan trọng đến ít quan
trọng hơn. ........................................................................................ 39
Bảng 2.6.
Những biểu hiện của trẻ trong quá trình phát triển vốn từ qua
trò chơi ............................................................................................ 41
Bảng 2.7.
Những khó khăn trong quá trình phát triển vốn từ cho trẻ
3-4 tuổi ............................................................................................ 42
Bảng 2.8.
Bảng tổng hợp và đánh giá chung về mức độ phát triển vốn từ
của trẻ 3-4 tuổi ................................................................................ 49
Bảng 2.9.
Kết quả độ khó của các trò chơi đã đƣợc lựa chọn để tính toán ..... 71
Bảng 3.1.
Mức độ phát triển vốn từ qua hoạt động vui chơi của trẻ nhóm
đối chứng và nhóm thử nghiệm trƣớc thử nghiệm ......................... 73
Biểu đồ 2.5. Thực trạng phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ................ 50
Biểu đồ 3.1. Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi học tập của trẻ nhóm
thử nghiệm sau thử nghiệm........................................................... 75
Biểu đồ 3.2. Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi vận động của trẻ nhóm
thử nghiệm sau thử nghiệm........................................................... 77
Biểu đồ 3.3. Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi đóng kịch của trẻ nhóm
thử nghiệm sau thử nghiệm........................................................... 79
Biểu đồ 3.4. Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
của trẻ nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm .... 80
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển ngôn ngữ trẻ thơ là một trong những mục tiêu quan trọng của
ngành giáo dục mầm non. Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong sự hình
thành và phát triển của xã hội loài ngƣời. Ngôn ngữ là phƣơng tiện cơ bản để
giao tiếp giữa con ngƣời với nhau và là phƣơng tiện để nhận thức thế giới khách
quan, là công cụ của tƣ duy, ngôn ngữ cũng chính là chìa khóa để nhận thức, là
vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của nhân loại. Nó cũng giữ vai trò quan
trọng trong việc phát triển tâm lý của trẻ, là phƣơng tiện hình thành và phát triển
nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ của trẻ về thế giới xung quanh. Bên
cạnh đó, tuổi mầm non là thời kì phát triển mạnh mẽ nhất về ngôn ngữ. Trẻ tiếp
nhận ngôn ngữ, nghe hiểu và nói với tốc độ rất nhanh. Việc hiểu và diễn đạt suy
nghĩ của mình bằng lời sẽ giúp trẻ dễ dàng giao tiếp và tích cực giao tiếp với
ngƣời lớn, với bè bạn hơn nữa. Vì vậy, việc rèn luyện, phát triển ngôn ngữ cho
trẻ là hết sức quan trọng và phải bắt đầu từ rất sớm, ngay từ lứa tuổi mầm non
Một trong những nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ cần đƣợc chúng ta
chú trọng là phát triển vốn từ. Có đƣợc một vốn từ phong phú, trẻ sẽ dễ dàng
thế việc sử dụng trò chơi để dạy học rất phổ biến.
Tuy nhiên trong thực tế, ở một số trƣờng mầm non hiện nay, nhất là các
trƣờng ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa việc sử dụng trò chơi chƣa đƣợc
giáo viên chú trọng trong việc tổ chức hoạt động học, làm giàu từ ngữ của trẻ,
thƣờng thì công việc phát triển vốn từ chỉ đƣợc thực hiện khi cô trao đổi với trẻ
về một điều gì đó, hoặc thông qua những cuộc đối thoại giữa trẻ với ngƣời lớn.
Giáo viên ít khi để ý đến việc trẻ có từ phù hợp để diễn tả ý nghĩ hay không?
phát ra âm thanh của từ và hiểu ý nghĩa của từ đó đúng hay không? Mặt khác do
lớp đông, giáo viên bận rộn với quá nhiều việc, giáo viên chƣa có ý thức, chƣa
biết cách tổ chức trò chơi, chƣa có nhiều trò chơi mới. Là một giáo viên mầm
non, tôi rất quan tâm đến việc làm thế nào để trẻ lĩnh hội vốn từ một cách tự
nhiên, không bị gò bó, căng thẳng. Việc chọn đề tài “Thiết kế trò chơi nhằm
phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện
3
Bình Đại, tỉnh Bến Tre” nhằm đẩy mạnh việc phát triển vốn từ cho trẻ, đồng
thời giúp giáo viên có thêm nhiều trò chơi phù hợp để phát triển vốn từ cho trẻ
tại trƣờng mình công tác, thiết nghĩ là phù hợp.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ, thiết
kế và thử nghiệm một số trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lí luận liên quan đến thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn
từ cho trẻ 3 - 4 tuổi.
Khảo sát thực trạng của trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi ở
trƣờng mầm non Hƣớng Dƣơng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Trên cơ sở đó thiết kế và tổ chức thử nghiệm các trò chơi nhằm phát triển
vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
tra, trên cơ sở quan sát các giờ vui chơi của trẻ, trò chuyện với giáo viên mầm
non về các trò chơi và cách sử dụng chúng nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4
tuổi.
7.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Lấy ý kiến chuyên gia về tầm quan trọng của việc thiết kế trò chơi nhằm
phát triển vốn từ cho trẻ.
7.2.5. Phương pháp thử nghiệm
Sau khi nghiên cứu thực trạng và đọc tài liệu, thiết kế một số trò chơi đã
xây dựng và đem thử nghiệm trên trẻ để xem hiệu quả nhƣ thế nào.
8. Đóng góp mới của đề tài
Đánh giá thực trạng việc thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ
3–4 tuổi ở trƣờng Mầm Non Hƣớng Dƣơng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, đƣa
vào chƣơng trình sinh hoạt của trƣờng một số trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ
3–4 tuổi.
5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC THIẾT KẾ TRÕ CHƠI
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3-4 TUỔI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ 2 của con ngƣời, là công cụ của tƣ duy,
là phƣơng tiện để con ngƣời giao tiếp, hỗ trợ và hiểu đƣợc tâm tƣ tình cảm của
của ngƣời khác. Đối với trẻ em, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm
vụ quan trọng, bởi vì với trẻ sự phát triển trí tuệ chỉ diễn ra khi trẻ tiếp nhận kiến
thức về môi trƣờng xung quanh và đƣơng nhiên luôn luôn phải có mặt của ngôn
ngữ trong quá trình đó. Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ không thể thực hiện trong
một sớm một chiều mà nó diễn ra trong một khoảng thời gian rất dài. Hiểu đƣợc
tầm quan trọng của sự phát triển ngôn ngữ đối với trẻ em trên thế giới đã có rất
Với tác phẩm “Dạy nói cho trẻ trƣớc tuổi đi học” M. Konxova đƣa ra các
hình thức, biện pháp để dạy trẻ nói trƣớc khi trẻ đến tuổi đi học. Tác phẩm đã
giúp các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục và cha mẹ trẻ có những định hƣớng
và chọn lựa cho mình biện pháp dạy nói phù hợp với từng trẻ.
Các tác giả nhƣ L. P. Phêdorenko, G. A. Phomicheva, V. K. Lomarev,
trong tác phẩm “Phƣơng pháp phát triển tiếng cho trẻ, trƣớc tuổi khi vào nhà
trƣờng” (1977) đã đề cao vai trò của tiếng mẹ đẻ đối với sự phát triển của trẻ
mẫu giáo. Đồng thời muốn phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải tạo ra môi trƣờng
ngôn ngữ trong trƣờng mầm non.
X. L. Rubinxtêin cho rằng: Điều cơ bản trong phát triển lời nói mạch lạc
cho trẻ là chỉnh sửa và hoàn thiện kỹ năng sử dụng lời nói nhƣ một phƣơng
tiện giao tiếp… Phát triển vốn từ cũng nhƣ việc nắm vững các hình thức ngữ
pháp đã ảnh hƣởng đến lời nói mạch lạc ở từng thời điểm nhất định.
Tác giả E. I. Tikhêêva đã đề ra phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
một cách hệ thống. Bà nhấn mạnh cần phát triển ngôn ngữ dựa trên cơ sở tổ
chức cho trẻ tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem
7
tranh, kể chuyện cho trẻ nghe… Bà đƣa ra các biện pháp cụ thể để phát triển
ngôn ngữ nói cho trẻ Mẫu giáo nhƣ: nói chuyện với các em, giao nhiệm vụ
cho các em, đàm thoại, kể chuyện, đọc chuyện, thƣ từ, học thuộc lòng thơ ca.
Những tƣ tƣởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với việc giáo dục
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non [45].
Khi đi nghiên cứu về sự phát triển tâm lí trẻ em J. Piaget cho rằng quá trình
phát triển ngôn ngữ của trẻ em gắn liền với khả năng hình dung của nó. Trong
quá trình phát triển của trẻ ngôn ngữ có ảnh hƣởng đến cấu trúc trí tuệ ở ba
phƣơng diện: thứ nhất, nó đã làm không gian và thời gian đƣợc tiến lên ở mức
độ mới; thứ hai, khả năng tƣ duy nhờ vào ngôn ngữ mà nhanh hơn rất nhiều so
với khi trẻ thực hiện trên hành động; thứ ba, hệ thống biểu tƣợng của trẻ nhờ
thế có thể xem ngôn ngữ là cái biểu hiện và từ là cái đƣợc biểu hiện. Có thể xem
mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tƣ duy nhƣ “hai mặt của một tờ giấy” đã có mặt
này ắt phải có mặt kia. Vốn ngôn ngữ của một ngƣời càng dồi dào thì tƣ duy của
ngƣời đó càng phong phú, sâu sắc. Mặt khác, ngôn ngữ giúp con ngƣời tàng trữ,
bảo toàn, cố định hóa, chính xác hóa kết quả nhận thức của con ngƣời để lƣu
truyền làm cơ sở phát triển nhận thức ở nguời sau.
Trong tác phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” của
Đinh Hồng Thái, Trần Thị Mai cũng đƣa ra đƣợc các phƣơng pháp và biện pháp
hƣớng dẫn cụ thể để phát triển ngôn ngữ cho trẻ: giáo dục chuẩn mực ngữ âm
tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ, dạy trẻ mẫu câu tiếng Việt,
phƣơng pháp phát triển lời nói mạch lạc, cho trẻ làm quen tác phẩm văn chƣơng,
chuẩn bị cho trẻ học đọc học, viết…
Các tác giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với tác
phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi”. Tác giả Nguyễn
Thị Phƣơng Nga với công trình nghiên cứu “Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mầm non”. Tài liệu học tập “Phương pháp phát triển ngôn ngữ của trẻ
trước tuổi học”, của trƣờng CĐSP Nhà trẻ - Mẫu giáo TW2. Tạ Thị Ngọc Thanh
có “Dạy trẻ phát âm đúng và làm giàu vốn từ cho trẻ”.
9
Tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Nga với công trình nghiên cứu “ Phƣơng pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” cũng đã đƣa ra các mặt phát triển của
ngôn ngữ, nhƣng có hƣớng nghiên cứu mới trong lĩnh vực phát triển vốn từ cho
trẻ. Trong tài liệu nghiên cứu đã xác định các nhiệm vụ cần phát triển : Dạy trẻ
nghe và phát âm đúng, phƣơng pháp phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ
pháp, dạy trẻ nói mạch lạc, chuẩn bị cho trẻ học ngôn ngữ viết…Ở lĩnh vực phát
triển vốn từ, tác giả đã đề cập đến nội dung phát triển vốn từ ở một khía cạnh
khác với Nguyễn Xuân Khoa, tác giả đã dựa trên cách nghiên cứu của một tác
giả ngƣời nƣớc ngoài V.I.Lôginôva và tác giả đã đƣa ra nguyên tắc khi dạy vốn
255, tr. 39-40.
Những nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nói chung có rất
nhiều nhƣng chƣa có sự quan tâm đúng mức đến việc thiết kế trò chơi nhằm
phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi. Trong khi đó, trẻ 3-4 tuổi đang trong thời kì
phát cảm về ngôn ngữ, tập trung phát triển và rèn luyện về ngôn ngữ là một
điều kiện hết sức quan trọng để trẻ mở rộng phạm vi giao tiếp của mình, giúp
trẻ lĩnh hội đƣợc những kiến thức mang tính chất khoa học của các môn học ở
phổ thông…Để có đƣợc những điều đó trƣớc tiên trẻ cần phải có một vốn từ
nhất định và trẻ thể hiện tốt vốn từ đó qua việc nghe và nói. Trong luận văn này,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu thiết kế một số trò chơi nhằm phát triển vốn từ
cho trẻ với hi vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc phát triển vốn từ, đồng thời tạo
điều kiện để trẻ “học mà chơi, chơi mà học”
1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1. Từ và vốn từ
Từ là gì?
Trẻ con học nói, phải bắt đầu học từng từ riêng lẻ “Bà”, “Gà”, “Cá”,
“Má”…sau lâu dần trẻ ghép các từ có đƣợc lại thành câu nói của trẻ “gà gáy”,
“Má chơi”, “đau lắm”…Hay nhƣ ngƣời lớn học tiếng nƣớc ngoài cũng vậy, ta
phải học các từ riêng lẻ và nhớ từ. Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên trong trí óc của
11
từng ngƣời bản ngữ. Tuy nhiên, trả lời câu hỏi từ là gì? không phải là chuyện
đơn giản. Ðã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về từ, song chƣa có một định
nghĩa nào thỏa mãn đƣợc đầy đủ ý nghĩa về từ. Tựu trung các định nghĩa đƣa ra
tập trung vào 2 khuynh hƣớng. Khuynh hƣớng 1: Cố gắng đƣa ra một định nghĩa
đúng cho mọi ngôn ngữ trên thế giới. Ðây là một việc khó bởi vì nhƣ L.V
Sherba đã nhận xét: Trong thực tế các ngôn ngữ khác nhau, từ sẽ khác nhau. Do
đó, hẳn nhiên sẽ không có khái niệm từ nói chung. Khuynh hƣớng 2: Khảo sát từ
của từng ngôn ngữ riêng biệt để đƣa ra một định nghĩa về từ chỉ đúng cho một
lời nói cụ thể. Cấu trúc ý nghĩa của từ cũng rất phức tạp, ngoài ý nghĩa từ vựng,
khi đi vào lời nói từ còn thể hiện các ý nghĩa hình thái, ý nghĩa ngữ pháp, ý
nghĩa chức năng ... Các ý nghĩa này của từ ràng buộc, chi phối nhau, quan hệ
chặt chẽ với nhau.
Từ những điều trình bày trên đây, chúng tôi đƣa ra một định nghĩa khái
quát về từ nhƣ sau: từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có cấu trúc là một chỉnh
thể gồm hai mặt: âm thanh lời nói và nội dung ý nghĩa. Từ đƣợc sử dụng nhƣ là
chất liệu sẵn có để tạo nên âm thanh mang ý nghĩa riêng biệt.
Vốn từ là gì?
“Vốn từ” hay còn gọi là “Từ vựng” trong đó “Vựng” là một yếu tố gốc Hán
có nghĩa là cái kho, là nơi chứa. Từ vựng là kho từ, vốn từ của một ngôn ngữ
gồm các từ và các đơn vị tƣơng đƣơng với từ. Vốn từ của một cá nhân là một hệ
thống từ có giới hạn, là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ, phát triển liên tục
cùng với sự phát triển của xã hội. Mỗi từ trong hệ thống bao giờ cũng đối lập
với các từ còn lại, đồng thời chỉ có giá trị khi đƣợc xét trong mối tƣơng quan với
các từ khác trong hệ thống. Từ vựng của một ngôn ngữ thƣờng có thể gồm vài
trăm ngàn từ. Nhƣng vốn từ của một cá nhân tích luỹ đƣợc chỉ khoảng 6000 đến
9000 từ đã có thể đƣợc coi cá nhân đó là có trình độ văn hóa cao, vốn từ phát
triển phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhận thức, văn hoá của mỗi cá nhân.
Dựa vào tần số sử dụng của các từ trong đời sống xã hội, ngƣời ta phân
chia vốn từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động. Vốn từ tích cực là
13
những từ đƣợc con ngƣời nắm vững, có tần số sử dụng cao trong cuộc sống hằng
ngày. Vốn từ thụ động: gồm những từ ít hoặc không đƣợc sử dụng. Đó là những
từ không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại (bao cấp, tem phiếu...) hoặc mang
nghĩa riêng, chƣa đƣợc sử dụng rộng rãi.
Đối với trẻ mầm non, vốn từ tích cực là những từ trẻ hiểu đƣợc và biết vận
dụng trong các tình huống giao tiếp. Còn vốn từ thụ động là những từ trẻ chƣa
muốn hiểu biết về thế giới xung quanh hơn nữa trẻ mẫu giáo rất thích bắt chƣớc
ngƣời lớn, thích đƣợc hoạt động tích cực với bạn bè cùng tuổi. hoạt động chơi
giúp trẻ thoả mãn hai nhu cầu trên…” [9].
Các nhà tâm lý học, giáo dục học Macxit nhìn nhận trò chơi nhƣ là một
hoạt động đặc trƣng của xã hội loài ngƣời, phản ánh cuộc sống lao động, sinh
hoạt của con ngƣời. Trò chơi của trẻ em cũng có nguồn gốc xã hội, đƣợc lƣu giữ
và truyền lại cho thế hệ sau qua con đƣờng giáo dục. Theo P.G.Xamarukova: trò
chơi là một trong những loại hoạt động của con ngƣời. Là một hiện tƣợng sống
phức tạp và lý thú, trò chơi thu hút đƣợc chú ý của nhiều nhà nghiên cứu thuộc
nhiều lĩnh vực ngành nghề [49] M. Gocki khi nghiên cứu về trò chơi của trẻ nhỏ,
ông cho rằng: trò chơi là con đƣờng dẫn trẻ em đến chỗ nhận thức đƣợc cái thế
giới mà ở trong đó các em đang sống, cái thế giới mà các em có sứ mệnh phải
biến đổi. Trò chơi có một sức hút mạnh mẽ vô cùng đối với trẻ, gây cho trẻ
những cảm xúc, tình cảm, niềm say mê hoạt động, khám phá thế giới. Đối với
trẻ thơ trò chơi chính là nội dung chính của cuộc sống, là hoạt động chủ đạo của
trẻ, nó chi phối các hoạt động lao động, học tập. Để tham gia vào một trò chơi,
trẻ không chỉ thể hiện hành động của mình mà trẻ còn phải sử dụng ngôn ngữ để
diễn tả cho bạn cùng chơi hiểu đƣợc điều trẻ muốn làm và muốn nói. Khi ngôn
ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp cho quá trình chơi của trẻ diễn ra một cách dễ
dàng và sẽ mang lại một kết quả tốt khi chơi.
Từ những điều trên, dƣới góc độ lý thuyết hoạt động, ta có thể hiểu: Trò
chơi là một hình thức hoạt động độc đáo không thể thiếu trong cuộc sống của trẻ
15
đƣợc ngƣời lớn tổ chức. Qua chơi trẻ thoả mãn nhu cầu nhận thức về thế giới
xung quanh, là phƣơng tiện trẻ học làm ngƣời.
Ý ngh a trò chơi của trẻ mẫu giáo
Vai trò của trò chơi với sự phát triển của trẻ không có gì có thể thay thế
đƣợc. Trò chơi là phƣơng tiện phát triển toàn diện cho trẻ. Trƣớc hết trò chơi
chơi phản ánh sinh hoạt và nhóm trò chơi vận động.
* Hiện nay ở nƣớc ta trò chơi đƣợc chia thành 2 nhóm chính:
Nhóm 1: nhóm trò chơi sáng tạo gồm trò chơi đóng vai theo chủ đề; trò
chơi xây dựng – lắp ghép; trò chơi đóng kịch
Nhóm 2: nhóm trò chơi có luật bao gồm trò chơi học tập; trò chơi vận
động.
1.2.3.1. Trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là trò chơi sáng tạo tiêu biểu của trẻ mẫu
giáo. Khi chơi trẻ tái hiện lại những sự việc diễn ra trong cuộc sống xã hội bằng
những hành động chơi mang tính tƣợng trƣng độc đáo.
Trò chơi đóng vai theo chủ đề đƣợc xem là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu
giáo. Không phải vì nó chiếm thời gian nhiều hơn trong hoạt động của trẻ, mà vì
nó gây ra những biến đổi về chất trong sự phát triển tâm lí của trẻ. Đó là sự phát
triển của tƣ duy, tƣởng tƣợng, trí nhớ, tình cảm, ngôn ngữ,…Khi tham gia chơi
trò chơi Đóng vai theo chủ đề trẻ phải có vốn ngôn ngữ nhất định, trẻ phải trình
bày ý kiến của mình cho các bạn hiểu, hiểu các bạn đang muốn chơi nhƣ thế
nào. Đồng thời khi tham gia chơi cùng bạn trẻ cũng bổ sung thêm vốn từ cho
mình một cách chủ động và thụ động.
1.2.3.2. Trò chơi xây d ng lắp ghép
Trò chơi xây dựng lắp ghép là loại trò chơi sáng tạo. Hoạt động chủ yếu
của trẻ trong những trò chơi này là tạo ra các mô hình mô phỏng bề ngoài hình
dạng, cấu trúc,…của sự vật xung quanh và chơi với những mô hình vừa tạo
đƣợc.