Một số biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổ - Pdf 28

Một số biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi
http://www.violet.vn/vinhhienbio
• Mục lục
• Phần I: Nội dung
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6. Giả thuyết khoa học
Phần II
Nội dung nghiên cứu của việc rèn luyện phát âm cho
trẻ tư 3-4 tuổi thông qua trò chơi học tập
Chương I Cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài
1. Một số vấn đề lý luận ngôn ngữ
2. Hoạt động vui chơi
3. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ
Chương II: Xây dựng một số trò chơi học tập nhằm rèn luyện phát
âm cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi
4. Mục đích – nội dung nguyên tắc xây dựng trò chơi học tập
và thực hiện.
5. Hệ thống các trò chơi
6. Thực hiện tổ chức một số trò chơi học tập nhằm rèn luyện
phát âm cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi
Phần III Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
*Cơ sở lý luận
Ngạn ngữ Việt Nam có câu:

chơi là phương tiện quan trọng nhất để phát triển trí tuệ, đạo đức,
thẩm mỹ và thể lực. Khi mới sinh ra đứa trẻ đã rất sung sướng với lời
ru ầu ơ của bà, của mẹ và đã có những phản xạ đáp lại. Cuối năm đầu
trong một số tình huống cụ thể lời nói đã trở thành phương tiện để
nhận thức và giao tiếp với những người xung quanh.
Còn với trẻ 3-4 tuổi thì hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của
trẻ. Chơi là nhu cầu tự nhiên của trẻ, trẻ cần chơi như cần ăn cơm,
nước uống, không khí để thở. Qua trò chơi giúp trẻ lĩnh hội những tri
thức khoa học tiến tiến một cách nhẹ nhàng, thoải mái giúp trẻ phát
triển các tố chất vân động. Đồng thời việc tổ chức hướng dẫn trẻ chơi
các trò chơi có mục đích, có nội dung phong phú theo yêu cầu và
nhiệm vụ giáo dục đã tác động đến trẻ mọi mặt: ý thức tình cảm, ý
chí, hành vi của trẻ. Trò chơi được sử dụng nhắm phát triển toàn diện
nói chung và ngôn ngữ nói riêng của trẻ.
* Cơ sở thực tiễn
Hiện nay việc luyện phát âm cho trẻ mẫu giáo đã được chú ý những
giáo viên còn nhiều lúng túng trong việc tổ chức hướng dẫn trẻ. Tiết
học còn khô cứng, thiếu linh hoạt và còn gò bó.
Việc tổ chức cho trẻ chơi trò chơi học tập còn nhiều hạn chế không
thường xuyênV, kết quả chưa cao.
Các trò chơi học tập còn thiếu thốnC, ít ỏi. Là một người làm công tác
giáo dục, bản thân thấy rõ tầm quan trọng cũng như yêu cầu của vấn
đề nên tôi mạnh dạn chọn đề tài “nghiên cứu khả năng luyện phát âm
cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi”. Để làm đề tài nghiên cứu nhằm góp một
phần công sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp nói chung và sự nghiệp
giáo dục mầm non nói riêng.
II – Mục đích nghiên cứu:
Thông qua đề tài này nhằm nghiên cứu và đề xuất một số nội dung và
biện pháp luyện phát âm cho trẻ mẫu giáo lứa tuôit 2-4 tuổi. Thông
qua trò chơi học tập.

động tâm lý
Ngôn ngữ chỉ có ở con người và cũng chính từ lao động và cũng chính
từ lao động con người tiến hóa từ vượn thành người và phát triển
Ngôn ngữ giữ vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân
cách của trẻ em. Mắt khác ngôn ngữ có chức năng thiết lập và giải
quyết các nhiệm vụ của hoạt động trí tuệ của con người và là công cụ
lưu trữ nền văn minh, văn hóa tri thức của nhân loại.
Về bản chất của ngôn ngữ V.I. LêNin: “ Ngôn ngữ là phương tiện giao
tiếp quan trọng nhất của con người”. Sống trong xã hội con người luôn
luôn phải giao tiếp với những người xung quanh. Hoạt động giao tiếp
không chỉ được hiểu đơn giản là sự truyền tri thức từ cá thể này đến cá
thể khác mà chính là sự tác độngqua lại giũa con người và conngười
tiến hành mọi hoạt động . Ngôn ngữ giúp con người suy nghĩ, bàn bạc
thảo luận đề tiến hành hoạt động lao động. Tạo ra sản phẩm lao động.
Như vậy nhờ có ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
mà xã hội loài người tồn tại và phát triển.
Ngôn ngữ có vai trò đinh hướng, điều chỉnh, điều khiển hành vi, hoạt
động của con người và góp phần hoàn thiện nhân cách.
1.2. Những cơ sở khoa học của sự phát triển ngôn ngữ
1.2.1 Cơ sở tâm lý giáo dục học của phương pháp phát triển ngôn
ngữ .
- Ngôn ngữ là một hoạt động tâm lý mà ở đó có một hoặc nhiểu chue
thể cùng tham gia và các hoạt động. Nó là dạng hoạt động cần thiết và
rất quan trọng cho mọi hoạt động . Những nghiên cứu tâm lý học đx
chỉ ra các chức năng tâm lý của hoạt động ngôn ngữ .
+ Chức năng giao lưu
+ Chức năng ghi nhận, giú gìn các di sản lịch sử cuả lòai người
+ Chức năng truyền đạt và tiếp thu các di sản lịch sử của loài người
+ chức năng công cụ của hoạt động trí tuệ
o Về mặt ngôn ngữ học thì hoạt động ngôn ngữ có chức

ngôn ngữ tức là dạy trẻ phát âm các âm của tiếng Việt, phát âm các từ
trong câu, cách phát âm cả câu và cách phát âm một văn bản nên hạ
giọng, nhấn mạnh từ, kéo dài từ để khi phát âm thể hiện sự hiểu biết
tình cảm cũng như thái độ của người nói.
Thành tố 2: Ngữ nghiã bao gồm vốn từ hay là cách thức một khái
niệm nào đó được diễn đạt trong từ hay một tập hợp từ. Khi trẻ mới sử
dụng từ, từ đó thường không có ý nghĩa ngióng như ở người lớn. để
xây dựng vốn từ của hàng ngàn từ và liên kết chúng bằng mạng lưới
các khái niệm có liên quan với nhau, lớn dần lên, trẻ không những sử
dụng từ một cách chính xác hơn, mà còn luôn luôn có ý thức với ngữ
nghĩa của từ và thực hiện chúng theo cách thức sáng tạo Thành
tố 3: Ngữ pháp. khi trẻ lĩnh hội vốn từ trẻ bắt đầu liên kết các từ theo
một qui luật nhất định để thực hiện một ý nghĩa nào đó. Kiến thức về
ngữ pháp có hai thành phần: cú pháp (là những qui luật mà từ được
liên kết trong câul) và hình thái học là cách thức sử dụng các qui luật
ngữ pháp để biểu đạt giống số thế bị động hay chủ động.
Thành tố 4: Tình hình sử dụng ngôn ngữ haygọi là tính thực tiễn. Nói
đến mặt giao tiếp của ngôn ngữ .
Dể giao tiếp co shiệu quả trẻ em phải học cách tham gia vào hoạt
động giao tiếp, tiếp tuck phát triển chủ đề giao tiếp thể hiện ý kiến, ý
nghĩa của mình một cách rõ ràng. Them vào đó trẻ phải biết diễn đạt
bằng cử chỉ, điệu bộ. Bằng giọng nói và vận dụng ngữ cảnh để giao
tiếp . Tính thực tiễn cong bao gồm kiến thức về ngôn ngữ xã hội bởi vì
xã hội luôn luôn quy định cách thức giao lưu, cách sử dụng ngôn ngữ
về giao lưu và để giao tiếp thành thạo trẻ em còn phải học tập cách
thức giao lưu trong một xã hội nhất định theo các cấp bậc tuổi tác, các
quan hệ xã hội, cách chào hỏi, cách làm quen
1.2.3 Cơ sở sinh lý học phát triển ngôn ngữ
Ngôn ngữ nghiên cứu trtong lính vực sinh lýhọc cung cấp cho chúng ta
những kiến thức về đặc điểmN, về sự hình thành phát triển và chín

câu đơn giản để thể hiện suy nghĩ, biết tham gia vào quả trình giao
tiếp. Bốn tuổi, trẻ đã biết nói rõ những câu tương đối dài có cấu trức
phức tạp đến 6 tuổi đã trở thành một chủ đề nói năng thể hiện ngôn
ngữ của mình và người khác cũng hiểu được.
1. Hoạt động vui chơi
2.1. Ý nghĩa của trò chơi đối với sự phát triển ngôn ngữ ở lứa tuổi mẫu
giáo
Trẻ ở lứa tuổi 3-4 tuổi thì vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ. Trò
chơi làm nảy sinh, kích thích sự phát triển về vật chất, các mối quan
hệ xã hội và các phẩm chất tâm lý.
Trò chơi của trẻ em trước hết có ý nghĩa nhậ thức to lớn. MACXIM
GOOKI đã viết: “ vui chơi là con đường để trẻ nhận thức thế giới, trong
đó trẻ em có nhiệm vụ sống và cải tạo nó” Vì vậy khi chơi bao giờ trẻ
cũng bắt chước thực hiện dưới một hình thức nào đó và những thay đổi
trong thực hiện phản ánh nào đó những thay đổi trong hiện thực phản
ánh trong chủ đề của trò chơi.
Khi chơi trẻ không những nhận ra rằng có nhiều hoạt động với các
công cụ khác nhau nhưng lại có cùng mục đích.K
Thông qua việc tổ chức cho trẻ chơi có nội dung phong phú theo yêu
cần và nhiệm vụ giáo dục tác động đến trẻ bằng mọi mặt ý chí, tình
cảm, ý thức, hành vi nhằm mục đích phát triển toàn diện nhân cách
trò chơi có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi.
Trong khi chơi trẻ em gặp tình huống cụ thể do đó thông qua sự hướng
dẫn của người lớn mà trẻ có thể lĩnh hội ngôn ngữ đạt cả tình huống
rọn vẹn ấy hay khi chơi trẻ biết được tên gọi của đồ vật ở thế giới xung
quanh một cách riêng biệt và thực hiện những hoạt động theo chỉ dẫn
của người lớn. Trẻ càng mạnh dạn hơn thì giao tiếp với mọi người xung
quanh ngày càng được mở rộng. Cuối 3 tuổi trẻ trở nên mạnh dạn hơn,
có nhiều sáng kiến hơn nên thúc đẩy trẻ lĩnh hội ngôn ngữ, thông hiểu
lời nói của những người của những người xung quanh mà khách thể trẻ

triển đó và biết cách tác động thích hợp thì sẽ thúc đẩy ngôn ngữ của
trẻ tiến lên những bước phát triển mới đồng thơi khắc phục những khó
khăn mà trẻ thường gặp phải khi tiếp xúc và sử dụng ngôn ngữ .
Mỗi khi phát triển ngôn ngữ của trẻ được xem xét trong mối liên hệ với
sự tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ với bước phát triển trước đó lớn hơn
những yếu tố chủ quan: điều kiện sống, giáo dục, môi trường xung
quanh để từ đó có những định hướng giúp cho sự phát triển ngôn ngữ
tốt hon.
Hình thái ban đầu của sự phát triển ngôn ngữ ở con người là quá trình
tích lũy từ vựng, khả năng, ngữ âm, kinh nghiệm, cấu trúc cà các hình
thức ngữ pháp cũng như những kỹ năng sử dụng chúng thích hợp với
ngữ cảnh trong hoạt động lời nói (ngôn ngữ nóin). Nói cách khác giáo
dục cà phát triển ngôn ngữ trước hết là dạy trẻ nói và học thông qua
sử dụng và làm giàu vốn từ của cá nhân trẻ.
Ngôn ngữ của trẻ có chuyển biến roc rệt về chất, về vốn từ tăng nhanh
chóng. Một tuổi trẻ bắt đầu tập nói và chỉ nói được một vài từ coa ý
nghiãn. Đến hai tuổi trẻ đã nói được một số câu đơn giản và vốn từ
khoản 200- 300 từ. Đến cuối năm thữ ba trẻ đã có thể nói được một số
câu phức tạp để thể hiện yêu cầu của mình cũng như sự hiểu biết xung
quanh vốn từ lên tới khoản 1.200- 1.300 từ.
Ngôn ngữ cũng tuân theo nhứng hệ thống ngữ pháp văn phạm chắt
chẽ. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ theo các bước giai đoạn giai đoạn
tiền ngôn ngữ, thường được hiểu là giai đoạn trước . Khi đứa trẻ dùng
các ký hiệu ngôn ngữ đề giao tiếp ở giai đoạn này qua các bước:
Bước 1: trẻ tiếp nhậ lời nói như một kích thích giống như mọi kích
thích khác nhau.
Bước 2: trẻ hân biết được mức độ của giọng nói và có phản ứng bằng
cách mếu, khóc hay vui vẻ.
Bước 3: trẻ hiểu được một số từ là tên goi của một số đồ vật, hành
động quen thuộc trong câu nói mà người lớn nói với trẻ hay nói.

ruộng vườn, thanh gươm và cây đàn Pháp đua, nhưng một thế hệ mất
đi thì để lại cho thế hệ sau” tiếng nói” . Ai có tiếng nói thì người đó xây
dựng được nhà, cấy được ruộng, đúc được kiếm, nối được dây đàn
Pháp đua và gẩy được nó”
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản giữa con người với nhau là
phương tiện nhận thức thế giới xung quanh của con gnười. Nhờ có
ngôn ngữ mà giũa trẻ em và người lớn thiết lập được moíi qun hệ
tương hỗ với nhau hiểu và thông cảm lẫn nhau đồng thời cũng nhờ có
ngôn ngữ mà đứa trẻ có khả năng, ở rộng tầm nhìn của mình. Khi trẻ
biết nói, trẻ dẽ dàng giao tiếp với những người lớn cũng như trẻ có
được khả năng điều chỉnh hành vi của mình. Bằng ngôn ngữ của mình,
trẻ có thể biểu đạt sự hiểu biết của mình cho người lớn và hiểu được ý
nghĩa của người muốn nói gì từ đó giúp trẻ tích cực hoạt động giao
tiếp với mọi người. Vì vậy việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc và
kịp thời là nhiệm vụ nặng nề của giáo dục trí tuệ cho trẻ dưới 3 tuổi.
Nếu người lớn chúng ta lơ là công tác giáo dục và dậy trẻ tập nói, tức
là đã bỏ qua một cơ hội tốt để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Từ 2 tuổi trẻ bắt đầu bước vào thời kỳ” phát cảm về ngôn ngữ “ tức là
ngôn ngữ trẻ phát triển nhanh, trẻ rất ham nói “ thỏ thẻ như trẻ lên
hai”, “ trẻ lên bà cả nhà học nói”, trẻ nói sự phát triển ngôn ngữ đạt tới
mức độ rất nhanh mà sau này khi lớn lên khó có gia đoạn nào sánh
bằng. Ngược lại nếu ở tuổi lên 3 mà trẻ không có điều kiện giao tiếp,
không được nói thì ngôn ngữ kém phát triển mà mặt kháccũng bị trì
trệ theo.
Năm thứ 3 là giai đoạn quan trọng nhất ttrong sự phát triển ngôn ngữ
của trẻ. Trể hiểu được lời nói của người lớn không cần mọi sự trợ giúp
trực quan, phát triển giao tiếp ngôn ngữ với người lớn và những trẻ
khác. Trê biết bắt chước lời nói của người lớn một cách chính xác. Vốn
từ vựng của trẻ tăng lên nhưng trẻe vẫn tiếp tục mắc các lỗi ngữ pháp.
Trẻ nhận biết và hiểu được các bài hát, bài thơ dành cho trẻ nhỏ, trẻ

3-4 tuổi.
- Đảm bảo phát huy những tri thức tư duy ở trẻ.
- Đảm bảo tính phong phú, đa dạng, hấp dẫn
- Đảm bảo thực hiện đúng chương trình kế hoạch của Bộ giáo
dục và đào tạo đã ban hành.
- Đảm bảo sự phát triển trí thông minh của trẻ
2. Hệ thống các trò chơi
Trò chơi thứ nhất
Chiếc nón kỳ diệu
a. Mục đích
giúp trẻ phân biệt và rèn luyện phát âm một số từ khó các tên gọi của
một số đồ dùng trong gia đình và con vật.g
b. Nội dung
Cho trẻ tiếp xúc với đối tượngC, Dùng tình huống trò chơi để trẻ phát
âm các từ khó và phát triển vốn từ của trẻ: cốc, chén, ấm, đĩa
c. Chuẩn bị
Các loại đồ chơiC: cốc, chén, bát đĩa
Một túi đựng quà
Các hình con vật bằng nhựa: tôm, cá, gà, thỏ
d. Tiến hành
Cô cho cả lớp ngồi hình chữ U giới thiệu luật chơi. Bác gấu đến thăm
lớp mình và tặng cho lớp mình một túi quà. Cả lớp hãy đoán xem đó là
các thứ quà gì nhé.C
Cô cùng trẻ mở túi quà ra và lần lượt lấy từng loại và cho trẻ phát âm
tên các đồ dùngC: cốc, chén, ấm đĩa.
Cô cho cả lớpC, nhóm, cá nhân phát âm và thay đổi hình thức chơi
cho phong phú vui vể.
Lần 2: Cô cho vào chiếc túi các con vật bằng nhựa tôm, cá, gà, thỏ cô
đố trẻ cho tay vào túi không nhìn chỉ sơ đoán xem đó là con gì mới
giỏi. Cô giơ tay lên cho cả lớp cùng kiểm tra. Cô hỏi cả lớp “ đây là

Bằng các tình huống trò chơi để trẻ phát âm bắt chước tiếng kêu của
các con vật.B
c. Chuẩn bị
Hoa, ong, nhện, ruồi bằng tranh vẽ
d. Tiến hành
Cô cho cả lớp đi xung quanh lớp và nói “ các con đi dạo trong rừng,
trong thung lũng có nhiều hoa. Trên đó những con ong bay và vo ve (rì
rìr) (cô phát âm và nhấn mạnh âm rì rìc)
Cho cả lớp tiếp tục đi cô nói “ trong bụi rậm lũ nhện đang chăng tơ có
một con ruồi mắc vào đó, đang cố thoát ra và kêu rù rù rù (làm mẫu
tiếng rù rì nhỏ hơnl).
Cô chia cả lớp ra thành 2 nhóm, một nhóm làm ong, một nhóm thành
ruồi rồi chúng “ vo ve” tiềng cho phù hợp. Sau đó đổi nhóm.
Cho trẻ phát âm R đúng, rõ ràng, tương ứng với cừơng độ của giọng
Trò chơi thứ tư
Hãy xem có cái gì ở trong tranh
a. Mục đích:
Củng cố phát âm đúng âm vị R trong cấu trúc âm, phát âm từ, câu rõ,
đúng cường độ thích hợp.
b. Nội dung
Bằng tình huống cho trẻ nóiB, phát âm được các câu hoàn chỉnh
c. Chuẩn bịc
Tranh vẽ con rắnT, con chim ri, con rùa
d. Tiến hành
Cô cho cả lớp ngồi hình vòng cung rồi giới thiêụ luật chơi.C
Hôm nay cô cho các con mỗi người một bức tranh trên tranh có vẽ
những đồ vật khác nhau H (tên gọi của các đò vật có âm R. Mỗi bạn sẽ
phải kể một cái gì đõ về bức tranh của mình.t
VD: trong tranh vẽ con chim ri thì coa thể nói “ Con chim ri hót ríu rít”
Tranh vẽ con rắn trẻ có thể kể: “ Con rắn trèo cây bị rơi xuống đất”

Con mèo kêu như thế nàoC? ( meo meo)
Tương tự với các vật khác.
Cô quan sát sửa sai cho trẻC
Thay đổi hình thức chơi và động viên trẻ.
Lâng 2: Cô cho một số trẻ lần lượt giả làm tiếng kêu của các con vật:
cho, mèo, gà, lợn… các trẻ khác ngồi đoán và làm tiếng kêu giống như
các con vật.
Sau đó cô hỏi thêm trẻS:
o Các con vật này nuôi ở đâu?
o Nuôi chúng để làm gì?
o Các con yêu quí con vật nào nhất?
o Vì sao con yêu quí nó /
Trò chơi thứ sáu:
đoán xem quả gì?
a. Mục đích
Giúp trẻ nhận biết và phân biệt các loại quả nhận biết màu sắc. luyện
phát âm cho trẻ qua đoán tên gọi của các loại quả
b. nội dung:
Cho trẻ tiếp xúc với đối tượng, dùng tình huống trò chơi để dạy trẻ
phát âm các từ: Quả khế, quả cam, quả hồng… màu đỏ, màu xanh,
màu vàng…
c. Chuẩn bị
Cây khế có quả màu vàngC, xanh
Cây cam có quả màu vàng, màu xanh
Cây hồng có quả màu đỏ
3 lần có màu xanh, đỏ, vàng
d. Tiến hành
Cô cùng trẻ đi từ ngoài vào vừa đi vừa hát” lý cây xanh” vào tới giữa
lớp cô nói “ Các con thấy lớp mình hôm nay có vườn cây ăn qủa có đẹp
không? Bây giờ cô và lớp mình cùng đến thăm vườn cây ăn quả nhé.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status