I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển với tốc độ nhanh, thông
tin khoa học ngày càng nhiều song thời gian giành cho mỗi tiết học trong trường
phổ thông không thay đổi. Để theo kịp sự phát triển của xã hội và cung cấp cho
học sinh những kiến thức mới nhất, đầy đủ nhất trong một thời gian có hạn, việc
đổi mới phương pháp dạy học luôn là vấn đề được nhiều người quan tâm, nó là
khâu then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển tư duy sáng tạo của
người học ở mọi quốc gia, mọi thời đại." Phương pháp giáo dục phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự
học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" (Chương I, điều 4, Luật giáo dục nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005). Thực tế cho thấy việc dạy học nói
chung và dạy học ở Tiểu học nói riêng đã có sự đổi mới nhiều về phương pháp.
Những phương pháp dạy học kích thích sự tìm tòi, đòi hỏi sự tư duy của học sinh
được giáo viên đặc biệt quan tâm. Song để cho giờ học thực sự đổi mới, việc sử
dụng hợp lý các hình thức tổ chức dạy học là hết sức cần thiết. Một trong những
phương pháp dạy học góp phần hình thành nhu cầu tự học và tự giải quyết vấn đề
trong học tập của học sinh đã và đang được khuyến khích, áp dụng là "phương
pháp dạy học hợp tác". Phương pháp này sẽ giúp phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo, đào sâu kiến thức, hiệu quả vững bền cho học sinh, đồng thời phát huy
cao độ khả năng hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập.
Có thể nói, hợp tác là biểu hiện văn minh của xã hội hiện đại. Muốn có được
những người biết làm việc hợp tác, ngay từ bậc Tiểu học phẩm chất này phải được
hình thành và rèn luyện. Lớp học với sự đa dạng của các đối tượng học sinh là môi
trường tốt để hình thành và rèn luyện kỹ năng hợp tác cho mỗi người. Đối với học
sinh Tiểu học việc rèn luyện cho các em kỹ năng hợp tác trong học tập hết sức cần
thiết, vì nó tạo điều kiện cho các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi và giúp đỡ
nhau, góp phần vào việc giáo dục nhân cách cho học sinh. Bên cạnh đó còn giúp
các em một số kĩ năng cơ bản để phát triển nhân cách con người trong cuộc sống
hàng ngày nhất là học sinh lớp Một. Bởi đối với học sinh lớp Một khả năng tư duy
của các em còn non nớt, việc tự hoàn thành nhiệm vụ học tập của một số em còn
cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Trong các môn
học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng việt, môn Toán có vị trí quan trọng, vì :
Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời
sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác
ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở Trung học và các cấp học tiếp theo.
Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng, hình dạng
không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó học sinh có phương pháp nhận thức một
số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống.
Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ,
phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; nó góp phần phát triển trí
thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo…
Đặc biệt đối với học sinh lớp Một, môn Toán lại càng quan trọng, vì : Vào lớp
Một, lần đầu tiên trẻ em được tiếp xúc với toán học với tư cách là một môn học, sự
kiện này sẽ quy định về đặc điểm quá trình nhận thức của trẻ em. Cụ thể hơn, trẻ
em sẽ tiếp xúc với các đối tượng toán học, các quan hệ toán học, các phép toán…
ban đầu làm nền tảng cho quá trình học môn Toán sau này. Lần đầu tiên trẻ em
được làm quen và rèn luyện với các thao tác tư duy trong dạy học toán như là quan
sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, chứng minh…
Trong những năm gần đây bậc Tiểu học quan tâm nhiều đến đổi mới phương
pháp dạy học. Việc đổi mới phương pháp dạy học được đồng bộ về chương trình
sách giáo khoa, thiết bị đồ dùng dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Để đáp ứng được với những đổi mới như trên trong giáo dục thì việc chọn các hình
thức tổ chức dạy học làm sao cho phù hợp và mang lại hiệu quả cao là hết sức cần
thiết.
Ta thấy rằng : Học sinh hình thành được kiến thức, rèn luyện được kỹ năng và
tích lũy được vốn kinh nghiệm chủ yếu là do quá trình học tập, tương tác giữa thầy
và trò, giữa trò và trò thông qua môi trường dạy học và giáo dục. Kết quả học tập
cao hay thấp là do mỗi học sinh tích cực tương tác và trao đổi nhiều hay ít trong
môi trường học tập. Vai trò quan trọng của nhóm học tập hợp tác thể hiện ở chỗ :
Tạo cơ hội để mỗi học sinh đưa ra giải pháp, trình bày cách giải quyết, hướng suy
phân loại đối tượng học sinh, phân chỗ ngồi hợp lý để giúp học sinh khi tham gia
hợp tác sẽ thuận tiện hơn. Cụ thể như sau :
Lớp
Sĩ số
HS nam
SL
19
HS nữ
TL
61,2
SL
12
TL
38,8
1A
31
Về thuận lợi :
- Ban giám hiệu đã quan tâm chỉ đạo sát sao đến công tác chuyên môn.
- Hàng tuần các tổ, khối sinh hoạt chuyên môn để tìm ra và thống nhất các phương
pháp dạy học thích hợp. Đây là cơ hội cho giáo viên trong trường nói chung và
trong tổ nói riêng để trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau.
- Giáo viên nhiệt tình, quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong lớp.
- Học sinh chăm, ngoan, thích tham gia hoạt động hợp tác trong nhóm.
Về khó khăn :
TL
64,5
SL
11
TL
35,5
Qua giảng dạy và theo dõi cho thấy, nguyên nhân chủ yếu là do đa phần các em
sinh ra trong gia đình nông nghiệp, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Đặc biệt
đối với học sinh lớp Một, lần đầu tiên các em được tiếp xúc với Toán nên tư duy
của các em còn non nớt, khả năng phân tích, tổng hợp của các em rất hạn chế.
Nguyên nhân thứ hai là trong lớp có rất nhiều đối tượng học sinh, khả năng tiếp
thu của một số em còn hạn chế, các em chưa thể tự mình hoàn thành được nhiệm
vụ học tập của mình nếu không có sự hướng dẫn cụ thể của giáo viên và sự hợp tác
của bạn bè.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi xin mạnh dạn đề xuất "Một số biện
pháp tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hợp tác môn Toán lớp Một ".
2.3. Các giải pháp giúp tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hợp tác môn
Toán lớp Một.
* Giải pháp 1 : Giúp học sinh hiểu được khái niệm về phương pháp dạy học hợp
tác.
Dạy học hợp tác là một phương pháp dạy học trong đó mỗi học sinh đều được
học tập trong một hoặc nhiều nhóm, có sự cộng tác giữa các thành viên trong
nhóm, giữa các nhóm và với sự hướng dẫn của giáo viên để đạt mục đích chung.
Phương pháp dạy học hợp tác vai trò của người giáo viên là người tổ chức, điều
khiển việc học của học sinh thông qua học tập hợp tác. Hợp tác vừa là phương tiện
vừa là mục tiêu của dạy học.
ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Để tổ chức thành công hoạt động nhóm trong dạy học hợp tác, trong đó giáo viên
là người tổ chức và điều khiển các hoạt động học tập hợp tác của nhóm học sinh,
khuyến khích mỗi học sinh hợp tác tích cực theo khả năng của mỗi người để đạt
được những yêu cầu nêu trên của học tập hợp tác, từ đó hình thành kiến thức, kỹ
năng mới của bài học.
Như vậy, dạy học hợp tác đòi hỏi sự hướng dẫn của giáo viên nhằm giúp đỡ học
sinh nhận thức được nhiệm vụ, tạo động lực chung cho cả nhóm; phát triển các kỹ
năng làm việc theo nhóm mà các học sinh cần phải có. Dạy học hợp tác còn tập
hợp được sự đóng góp của mỗi thành viên trong nhóm và tạo ra được mối quan hệ
hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm.
Dạy học hợp tác trên cơ sở khai thác tốt các nội dung dạy học và dự tính các năng
lực cá nhân của đối tượng học sinh. Từ điểm đó tôi đã theo dõi, phân chia các
nhóm theo năng lực của học sinh sao cho các em trong một nhóm đều có năng lực
cá nhân tương đồng để từ đó các nhóm đều phát huy hết sức mạnh của các thành
viên trong nhóm của mình.
Dạy học hợp tác dựa trên cơ sở là tính đa dạng (không đồng nhất) của các đối
tượng học sinh và các quan hệ bình đẳng của các học sinh trong nhóm. Chẳng hạn,
sự không đồng nhất các thành viên trong nhóm về trình độ, về kỹ năng xã hội, tính
cách, giới tính… nếu giáo viên có sự cân nhắc kỹ về tính đa dạng này sẽ tạo nên
một nhóm làm việc hợp tác hiệu quả và hợp ý.
Dạy học hợp tác phải đảm bảo sự tham gia tích cực của tất cả các đối tượng học
sinh. Dạy học hợp tác nếu không tạo được sự tham gia tích cực của các thành viên
trong nhóm thì không có hiệu quả. Các yếu tố chủ yếu quyết định việc tham gia
tích cực đối với các thành viên, đó là sự phân chia công việc và trách nhiệm đối
với từng cá nhân. Điều này đòi hỏi giáo viên ngay từ khi giao các nhiệm vụ cho
các nhóm phải tính đến đặc điểm của nhóm, tạo ra sự linh hoạt trong vai trò của
mỗi cá nhân, mọi thành viên trong nhóm đều có thể tham gia ở một thời điểm cụ
thể.
khi các nhóm đó được điều chỉnh và ổn định theo từng nội dung học tập thì sẽ rút
ngắn việc tổ chức và hướng dẫn làm việc ở các nhóm. Khi trình bày kết quả, các
nhóm có cùng kết quả giống nhau có thể gọi một nhóm đại diện trình bày, các
nhóm còn lại bổ sung làm rõ ý tưởng dẫn tới kết quả chung đó.
Tuy nhiên dạy học hợp tác cần sự kiểm soát chặt chẽ của giáo viên, nếu không
có thể dẫn tới một số học sinh ỷ lại, lười biếng, dồn việc cho một số cá nhân có
năng lực. Ngoài ra, dạy học hợp tác cũng bị hạn chế bởi không gian và thời gian
của tiết học. Nên để thực hiện việc dạy học hợp tác mang lại hiệu quả cao nhất,
giáo viên cần khéo léo trong việc chia nhóm, tinh tế khi giao nhiệm vụ và kiểm
soát chặt chẽ các hoạt động của nhóm.
* Giải pháp 4 : Sử dụng kỹ thuật chia nhóm và điều khiển nhóm hợp lý.
4.1: Kỹ thuật chia nhóm học tập hợp tác trong dạy toán ở lớp Một có thể có nhiều
cách, tùy theo yêu cầu nhiệm vụ học tập của mỗi nhóm và tùy theo dụng ý sư phạm
trong dạy học của giáo viên, việc dạy học hợp tác theo nhóm như vậy đều có
những ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Tuy nhiên, trong dạy học toán ở tiểu học
nói chung, dạy học toán ở lớp Một nói riêng, chúng ta có thể chia nhóm theo các
hình thức sau :
+ Nhóm ngẫu nhiên : Trong dạy học toán, kiểu chia nhóm này thường dùng để tổ
chức trò chơi học tập nhằm củng cố kiến thức, kỹ năng hoặc thăm dò các lỗi sai
7
của học sinh. Khi đó sẽ có nhiều khả năng ngẫu nhiên bộc lộ trong khi chơi làm
cho trò chơi thêm vui vẻ hứng thú. Giáo viên dễ thu được phản hồi nhanh từ các
nhóm học tập. Với hình thức chia nhóm này, giáo viên cần giao nhiệm vụ cho
nhóm có trình độ đại trà với một số mức độ yêu cầu khác nhau để học sinh tự phân
công theo trình độ cá nhân.
Việc chia nhóm ngẫu nhiên có những ưu điểm và nhược điểm như :
- Ưu điểm : Khả năng giao tiếp rộng giữa các đối ngồi trong lớp. Các em thấy cơ
hội phân vào các nhóm là như nhau. Các nhóm tương đối đồng đẳng về số lượng
- Ưu điểm chính của hình thức chia nhóm này là : Đảm bảo phân hóa đối tượng và
dạy theo sở trường của học sinh, giúp cho mỗi nhóm đều phát triển năng lực theo
khả năng có thể. Nhưng đối với hình thức chia nhóm này đòi hỏi giáo viên phải
chuẩn bị nội dung bài giảng đa dạng và công phu hơn nhiều, việc xử lí các tình
huống ở trên lớp rất phức tạp đòi hỏi giáo viên phải có năng lực chuyên môn cao
và kỹ năng sư phạm thuần thục.
8
Tóm lại, mỗi kỹ thuật chia nhóm có những ưu, nhược điểm riêng nên tùy theo
từng nội dung học tập, từng thời điểm và đối tượng học sinh lớp mình mà giáo viên
lựa chọn cách chia nhóm sao cho hợp lí mang lại kết quả cao nhất.
4.2: Kỹ thuật điều khiển thảo luận nhóm :
Khi điều khiển thảo luận nhóm, giáo viên cần chú ý đến một số vấn đề :
- Điều khiển định hướng thảo luận vào nội dung trọng tâm, mục tiêu, mục đích học
tập.
- Điều khiển khơi ngòi, kích thích không khí thảo luận sôi nổi, cởi mở, hợp tác.
- Điều khiển nhằm hạn chế phong cách “Anh hùng cá nhân” làm hết công việc của
cả nhóm.
- Điều khiển hạn chế sự “ăn theo” của một số cá nhân chưa chăm học ỷ lại.
Khi điều khiển thảo luận nhóm học tập, thực hiện tốt các yếu tố trên sẽ tạo nên
hiệu quả và chất lượng của cuộc thảo luận.
Vận dụng vào dạy học toán ở lớp Một, khi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm
thì điều quan trọng nhất là học sinh xác định đúng vấn đề (mục tiêu) cần thảo luận.
Các vấn đề không đúng trọng tâm cần mau chóng phát hiện và gạt bỏ, điều này đòi
hỏi giáo viên cần quan sát và lắng nghe vấn đề thảo luận từ các nhóm, giúp cho các
em xác định được các nhiệm vụ nào đã rõ ràng, nhiệm vụ nào còn cần thảo luận,
tranh luận để làm rõ vấn đề (nội dung bài tập) hiểu như thế nào là đúng, là sai.
* Giải pháp 5 : Thiết kế tình huống hoạt động và tổ chức hoạt động học tập hợp
Khi giáo viên mới đưa hình vẽ minh họa ra để học sinh quan sát một số em trong
lớp có thể làm được 1 phép tính cộng và 1 phép tính trừ. Nhưng sau khi giáo viên
hướng dẫn học sinh nắm yêu cầu của đề bài, chia nhóm, yêu cầu các thành viên
trong nhóm phải thảo luận để tìm ra các số thích hợp cần điền vào chỗ chấm.
Để muốn rút ngắn thời gian, tôi yêu cầu mỗi thành viên trong nhóm có thể suy
nghĩ cách điền của một phép tính sau đó cả nhóm tổng hợp thống nhất kết quả để
điền vào các phép tính và được kết quả hoàn chỉnh như sau :
1+ 2
2 +1
3 - 2
3 - 1
1
=
=
=
=
3
3
1
2
2
3
Qua ví dụ minh họa này tôi đã khắc sâu kiến thức cho các em "Trong phép cộng
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát mẫu (phần ví dụ).
- Nếu để học sinh chỉ dùng trí tưởng tượng của mình thì các em chỉ ghép được một
số hình từ các hình a; b; c. Cụ thể từ hình a;b;c một số em bước đầu xếp lại được
hình sau :
Ghép hình (a) với hình (b) ta có hình tưởng tượng như ngôi nhà.
a)
b)
Nếu chỉ thực hành từng cá nhân như vậy thì không phát huy được tính sáng tạo
của học sinh. Do vậy giáo viên có thể yêu cầu học sinh sử dụng bộ đồ dùng toán
11
thực hành xếp hình và có thể tổ chức cho học sinh học tập hợp tác, bằng cách yêu
cầu học sinh thảo luận cách xếp, qua đó sẽ giúp học sinh hoàn thiện được biểu
tượng hình vuông, hình tam giác và thông qua việc xếp hình để nhận diện ra được
một số hình quen thuộc. Với sự hướng dẫn tận tình của giáo viên nhằm phát triển
tư duy, trí tưởng tượng của các thành viên trong nhóm nên cũng từ hình a; b; c một
số nhóm đã phát hiện và ghép thêm được một số hình sau :
Ghép hình (a) với hình (b) ta có thể ghép được biểu tượng của hình cái thuyền.
a)
b)
Ghép hình (b) với hình (c) ta được thêm một hình mới có biểu tượng như cánh
buồm.
b)
Hoặc
6 + 3 = 9
3 + 6 = 9
Tuy nhiên, nhằm củng cố các kiến thức đã học về : Phép cộng, trừ trong phạm vi
9 nên tôi đã hướng dẫn cho các em quay lại thảo luận theo nhóm bàn để thảo luận
và đưa thêm phép tính đúng dựa vào tranh minh họa.
Hoặc
9 - 3 = 6
A
9 - 6 = 3
Trong quá trình học sinh làm bài và chữa bài, nếu học sinh đưa ra 1 trong những
kết quả trên bản thân tôi đều chấp nhận cho học sinh (vì đây là bài toán có dạng
"mở").
Ví dụ 2 : Khi học bài : Xăng-ti-mét. Đo độ dài ( Trang 119 - SGK Toán 1).
Trong phần lý thuyết giáo viên có thể giới thiệu nguyên tắc xác định độ dài của
một đoạn thẳng bằng thước có vạch Xăng-ti-mét. Độ dài của một số đoạn thẳng
tương ứng ( như hình vẽ Trang 119- SGK ).
A
A
B
3
6cm
4
5
6
sáu xăng-ti-mét
13
Khi có được kỹ năng sử dụng thước có vạch Xăng-ti-mét, học sinh có thể
thảo luận trong khi thực hành làm một trong số các bài tập 2;3 SGK Toán 1 (Trang
119 - 120) để hiểu rõ các trường hợp cụ thể từ đó biết : Đo độ dài của đoạn thẳng
cho trước và viết được các số đo tương ứng; So sánh độ dài của các đoạn thẳng;
Biết kiểm tra cách đặt thước đúng/ sai.
Bài 2 : Viết số thích hợp vào ô trống rồi đọc số đo :
3 cm
4
cm
5 cm
đề thông thạo nhất có cơ hội thành công cao. Còn nếu là do học sinh lười chưa
14
quan tâm nội dung học tập, cần kết hợp giữa động viên khích lệ với dư luận phê
phán đúng mức.
Đối với các cá nhân nói và làm nhiều phần việc của cả nhóm, thì trong tình huống
này giáo viên sử dụng thủ thuật là chia nhỏ nhiệm vụ hoặc vấn đề cần thảo luận và
yêu cầu mỗi cá nhân giải quyết từng phần, với một số đối tượng còn chậm cần có
sự hỗ trợ của giáo viên kết hợp với sự hợp tác của các bạn trong nhóm.
Vậy để hình thành kỹ năng cộng các số trong phạm vi 100 (không nhớ), ta xuất
phát từ tình huống sử dụng trực quan, và đi tới cách thực hiện phép cộng :
35 + 20 = ? Ta có thể chia nhỏ vấn đề cần thảo luận gồm :
+ Thảo luận xác định vấn đề ( cách cộng các số trong phạm vi 100 không nhớ).
+ Thảo luận tìm hướng giải quyết và đề xuất giải pháp để thực hiện cách cộng các
số trong phạm vi 100 ( không có nhớ).
Cách 1 : Sử dụng đồ dùng trực quan. ( Bằng các thẻ que tính một chục và các que
tính.
CHỤC
ĐƠN VỊ
3
2
5
5
0
5
Với bài tập này giáo viên có thể thiết kế các tình huống học tập hợp tác với các
yêu cầu khác nhau phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh nhằm phát huy sự tư
duy, sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn :
+ Nhóm 1 : Giáo viên chỉ yêu cầu học sinh thảo luận nhìn tranh vẽ để nêu tóm tắt
bài toán
giải bài toán đó.
Tóm tắt :
Bài giải :
Có
: 8 con thỏ
Số thỏ còn lại là:
Chạy đi: 3 con thỏ
8 - 3 = 5 ( con)
Còn lại : …con thỏ?
Đáp số : 5 con
+ Nhóm 2 : Giáo viên có thể yêu cầu cao hơn như : Các em nhìn tranh vẽ thảo luận
tóm tắt bài toán
tìm cách giải bài toán này với cách đặt các câu lời giải khác
nhau lúc này sẽ tạo nên sự hưng phấn, thích thú hơn trong suy nghĩ và làm bài của
học sinh, học sinh có thể đặt được các câu lời giải khác
so sánh kết quả của các
nhóm với nhau, cụ thể như :
Tóm tắt :
Có
: 8 con thỏ
Chạy đi: 3 con thỏ
Còn lại : …con thỏ?
Bài giải :
Bài giải :
Bài giải :
những nhiệm vụ có khối lượng công việc nhiều mà cần hoàn thành trong một thời
gian ngắn; những nội dung phức tạp cần lập luận đầy đủ ở trình độ tổng hợp; nội
dung có nhiều khía cạnh cần giải quyết, cần sử dụng nhiều cách suy nghĩ khác
nhau.
Trong dạy học môn Toán ở lớp Một, có thể lựa chọn những nội dung để thiết kế
hoạt động dạy học hợp tác như :
- Tìm nhiều cách giải cho một bài toán.
- Tìm quy trình giải một dạng bài tập cụ thể.
- Tìm và sửa chữa sai khi giải toán.
- Những tình huống để tiếp cận kiến thức mới.
* Giáo viên có thể tổ chức hoạt động học tập hợp tác bằng cách :
- Chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm gồm các học sinh ngồi ở hai bàn liền nhau
để có thể quay lại với nhau thảo luận mà không mất thời gian, đảm bảo giữ trật tự
nhất định.
- Tổ chức thi đua giữa các nhóm trong việc giải quyết yêu cầu của tình huống.
- Có thể cho các nhóm thi tiếp sức khi trình bày kết quả thảo luận trước lớp bằng
việc tổ chức các trò chơi cuối giờ cho học sinh nhằm củng cố kiến thức của bài
học.
* Giải pháp 6 : Xây dựng hệ thống trò chơi theo nội dung kiến thức từng bài
trong dạy học hợp tác.
Để các tiết dạy thu hút được sự chú ý của học sinh, giúp các em có sự hứng thú,
say mê trong học tập thì việc tổ chức trò chơi là một trong những việc làm hết sức
cần thiết. Việc tổ chức trò chơi trong học toán được giáo viên thể hiện ở đầu tiết,
giữa tiết hay cuối tiết là do đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh trong lớp. Một
trong những trò chơi được giáo viên hay sử dụng trong dạy học hợp tác môn toán
Một như: Trò chơi "Câu cá" (sử dụng trong cộng, trừ các số trong phạm vi 10 ) ;
Trò chơi "Truyền điện" (sử dụng trong các bài: Luyện tập củng cố kĩ năng làm các
phép tính cộng, trừ không nhớ dạng 14 + 3; 17 - 3 hoặc 17- 7); Trò chơi "Ong đi
tìm nhụy" ( được sử dụng trong bài: Luyện tập củng cố về phép cộng trong phạm vi
10) hay trò chơi "Tìm nhà cho thỏ" ( có thể sử dụng trong tất cả các tiết học ).
kiến thức đã học.
80
51
98 - 50
40 + 40
64
48
30 + 42
49
72
37
§éi Häa mi
49 - 10
§éi häa mi
§éi S¬n ca
27 + 80
10 + 45
92 - 41
các tình huống hoạt động học tập hợp tác phải thể hiện được đặc điểm gợi động cơ
và hướng đích. Trong dạy học môn Toán ở lớp Một có rất nhiều nội dung có thể tạo
tình huống học tập hợp tác cho học sinh, nhưng cũng không thể lạm dụng nhiều
hình thức tổ chức này sẽ dẫn đến nhàm chán. Học hợp tác là xuất phát từ việc học
cá nhân nghiêm túc, vai trò cá nhân và vai trò tập thể phải hòa quện với nhau và
đích cuối cùng là để từng cá nhân học tốt hơn. Tuy nhiên, để mỗi tình huống phát
huy được tối đa hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải biết sử dụng kỹ năng sư phạm một
cách nghệ thuật và tình huống đưa ra phải phù hợp với mỗi đối tượng học sinh.
* Giải pháp 7 : Lồng ghép các hoạt động nhóm trong dạy học hợp tác thông
qua việc sinh hoạt các Câu lạc bộ Toán trong trường.
Cũng như một số trường trên địa bàn huyện. Trong những năm gần đây, trường
tôi đã thành lập các câu lạc bộ như : Câu lạc bộ Chữ đẹp; Câu lạc bộ Mỹ thuật; Câu
lạc bộ Cờ vua; Câu lạc bộ Toán. Việc quan tâm, chỉ đạo và kiểm tra sát sao quá
trình hoạt động các Câu lạc bộ của Ban giám hiệu Nhà trường và Bộ phận chuyên
môn nên bản thân mỗi giáo viên được phân công phụ trách các câu lạc bộ đã có
những biện pháp giúp các Câu lạc bộ hoạt động rất tốt và mang lại niềm vui, niềm
say mê cho tấc cả các em. Câu lạc bộ Toán là một trong những Câu lạc bộ được
thầy cô, học sinh và phụ huynh học sinh quan tâm và yêu thích nhất. Do vậy hàng
tuần vào sáng thứ bảy tôi cùng các em tham gia sinh hoạt để giúp các em làm quen
với việc hoạt động nhóm để cùng hợp tác giải quyết thành công một vấn đề như :
Làm tốt những dạng toán hay, toán khó, toán tuổi thơ hoặc hướng dẫn thêm cho
học sinh làm quen với việc giải toán trên mạng Internet theo nội dung của từng
khối lớp và theo từng yêu cầu cụ thể của giáo viên.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với các hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và Nhà trường.
Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hợp tác ở môn Toán lớp Một là một hình
thức tổ chức dạy học có nhiều ưu điểm nhưng cũng không ít hạn chế, vì vậy đòi
hỏi giáo viên phải có lòng nhiệt tình, có năng lực chuyên môn nhất định và kỹ
năng sư phạm thuần thục, nói cách khác, vai trò của giáo viên như một nhà biên
Một nói riêng và sự nghiệp " trồng người" của tôi nói chung.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Từ thực trạng của nhà trường, địa phương, gia đình và học sinh, với sự chỉ đạo
sát sao và phân công chuyên môn hợp lý của Ban giám hiệu nhà trường và bằng
quyết tâm tìm tòi, phát hiện những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả của việc học
môn Toán ở học sinh lớp Một chưa cao. Năm học 2016 -2017, tôi tập trung nghiên
cứu tìm ra một số biện pháp tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hợp tác nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở lớp Một ( như đã nêu ở trên ) và thu được
kết quả khả quan.
Từ kết quả trên đây, tôi nhận thấy rằng : Muốn tổ chức tốt hoạt động nhóm dạy
học hợp tác trong môn Toán ở lớp Một đối với giáo viên trước hết :
- Phải hiểu được tầm quan trọng của vị trí, mục tiêu, đặc điểm và nội dung chương
trình môn Toán lớp Một.
- Phải hiểu được vai trò của việc tổ chức hoạt động nhóm dạy học hợp tác trong
môn Toán ở lớp Một. Biết lựa chọn các tình huống phù hợp để tổ chức hoạt động
nhóm trong dạy học hợp tác.
- Phải luôn giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, tạo ra các tình
huống mở khi dạy học để các em có nhu cầu hợp tác.
- Phải quan sát, lắng nghe và theo dõi sát sao quá trình hoạt động của các nhóm để
khuyến khích, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tất cả các thành viên trong nhóm đều
được hoạt động.
3. 2. Kiến nghị, đề xuất.
+ Đối với giáo viên :
Cần thiết phải giải quyết mâu thuẫn giữa quỹ thời gian chuẩn bị kế hoạch bài học
nhiều môn của giáo viên Tiểu học với yêu cầu lựa chọn hình thức tổ chức dạy học
đa dạng và nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động trên lớp. Bởi vì, muốn lựa
chọn đa dạng các hình thức tổ chức dạy học nhất là hình thức tổ chức hoạt động
nhóm đòi hỏi giáo viên phải có thời gian để nghiên cứu lựa chọn mới có thể đưa ra