Đề tài nghiên cứu khoa học
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẠ HÒA
TRƯỜNG MẦM NON GIA ĐIỀN
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI
CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO
Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Chức vụ: Giáo viên – Bí thư đoàn TN
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Gia Điền
Hạ Hòa, tháng 9 năm 2016
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
1
Đề tài nghiên cứu khoa học
LỜI NÓI ĐẦU
Nghiên cứu khoa hoc là một trong những hoạt động rất cần thiết, rất
quan trọng và bổ ích đối với những ai làm công tác dạy học. Nghiên cứu
khoa học là hoạt động giúp cho người giáo viên hoàn thiện hơn về kiến
thức lý luận, những kinh nghiệm thực tế trong hoạt động dạy học.
Nghiên cứu khoa học là một trong những lĩnh vực chuyên môn cần
có sự rèn luyện, đúc kết, quá trình nghiên cứu sự thật.
Đối với bản thân em, là một sinh viên khoa Mầm Non. Trong tương
lai sẽ trở thành một giáo viên Mầm Non làm công tác chăm sóc và giáo dục
trẻ nên em đã nghiên cứu đề tài. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học là một
Tuổi Mầm Non là giai đoạn diễn ra sự phát triển và mạnh trên các
mặt trọng lượng, số lượng, số đo, cơ bắp cũng như các mặt tâm lý-xã hội
của đứa trẻ.
Để đáp ứng và thúc đẩy tốc độ phát triển đó, giáo viên Mầm Non đã
tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động chăm sóc và giáo dục phù hợp
với lứa tuổi. Mỗi giai đoạn phát triển của trẻ gắn liền với một dạng hoạt
động mà các nội dung giáo dục đều được thực hiện thông qua hoạt động đó
và nó tác động đến sự phát triển tất cả các mặt Thể chất, Tâm lý-Xã hội của
đứa trẻ khi giáo viên Mầm Non nắm vững nội dung, có phương pháp tổ
chức các hoạt động giáo dục phù hợp với lứa tuổi sẽ phát huy được vai trò
giáo dục và điều kiện cho trẻ phát triển tốt nhất.
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
3
Đề tài nghiên cứu khoa học
Ở trẻ em có rất nhiều dạng hoạt động khác nhau như: Hoạt động vui
chơi, hoạt động học tập, hoạt động lao động, hoạt động giao tiếp… Trong
các hoạt động thì vui chơi là một hoạt động quan trọng trong đời sống tuổi
thơ của trẻ. Ở trường mầm non, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo
của trẻ mẫu giáo được giáo viên tổ chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa
mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời nhằm giáo dục và phát
triển toàn diện cho trẻ ở lứa tuổi này.
Hoạt động vui chơi của trẻ là dạng hoạt động phản ánh sáng tạo, độc
đáo hiện thực, tác động qua lại giữa trẻ và môi trường xung quanh nhằm
thỏa mãn nhu cầu vui chơi, nhu cầu nhận thức của trẻ lần đầu tiên trong
hoạt động vui, nhu cầu nhận thức của trẻ. Lần đầu tiên trong hoạt động vui
chơi, trẻ thực sự là một chủ thể hoạt động tích cực, trẻ trò chuyện, giao
chuyên môn cho mình. Đó cũng là hành trang cho mình để hoàn thiện bản
thân và có kỹ năng ngiệp vụ nhiều hơn khi hướng dẫn trẻ tham gia vào
hoạt động vui chơi một cách tích cực và có phương pháp hợp lý.
2. Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích tìm hiểu sâu hơn về hoạt
động vui chơi của trẻ mẫu giáo. Trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp
hình thức tổ chức hướng dẫn trẻ tham gia vào hoạt động vui chơi, góp phần
nâng cao hiệu quả quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ nói chung và đối với
lứa tuổi mẫu giáo nói riêng.
3. Đối tượng và khách thể:
Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi
cho trẻ mẫu giáo.
Khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên trẻ ở độ tuổi
mẫu giáo, trường Mầm Non Gia Điền, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
4. Giả thuyết khoa học:
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
5
Đề tài nghiên cứu khoa học
Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi mẫu
giáoThông qua hoạt động vui chơi trẻ không những được chơi mà còn
được khám phá biết bao điều mới lạ trong quá trình chơi. Vì vậy, nếu
chúng ta biết cách tổ chức hoạt động vui chơi một cách hợp lý, trẻ không
những được thoải mái về tinh thần mà còn được củng cố và tiếp thu những
tri thức mới, và việc tổ chức hoạt động vui chơi sẽ đạt được kết quả cao
hơn, trẻ có hứng thú và tích cực tham gia vào hoạt động hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
nhau. Và để có phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi phù hợp với từng
độ tuổi thì giáo viên cần nắm rõ đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ.
Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ lứa tuổi mẫu giáo:
Trẻ 3 – 4 tuổi: Bắt đầu chuyển từ hoạt động với đồ vật sang hoạt
động vui chơi là chủ đạo của trẻ. Tính độc lập của trẻ phát triển mạnh, bộc
lộ khả năng tâm lý mới về trí nhớ, tưởng tượng, tư duy, xúc cảm, tình cảm.
Tư duy ở độ tuổi này là tư duy trực quan hành động và bắt đầu xuất hiện tư
duy trực quan hình tượng.
Trẻ 4 – 5 tuổi: Hoàn thiện về mặt hoạt động vui chơi khi trẻ thể hiện
tự lực, chủ động. Tức là, trẻ biết chọn chủ đề chơi, và tư duy của trẻ cũng
phát triển cao hơn. Tư duy của trẻ ở lứa tuổi này là tư duy trực quan hình
tượng và tư duy loogic bắt đầu phát triển.
Trẻ 5 – 6 tuổi: Đã hoàn thiện về cấu trúc tâm lý người. Hoạt động
vui chơi được trẻ chơi một cách hoàn thiện và triệt để.
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
7
Đề tài nghiên cứu khoa học
Hoạt động vui chơi xuất hiện trước do nhu cầu được chơi của trẻ
Để hoạt động chơi của trẻ được thực hiện thì nhất thiết cần phải có môi
trường xã hội, nơi trẻ sống và chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường đó,
nó chi phối nội dung chơi của trẻ.
Dưới sự hướng dẫn của người lớn, đặc biệt là các nhà giáo dục chuyên
nghiệp, thông qua hoạt động vui chơi, trẻ được làm quen với phương thức
hành động với đồ vật và phương thức giao tiếp của loài người.
Trẻ chơi do mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng của trẻ ( nhu cầu muốn
bắt trước người lớn, muốn tham gia vào xã hội người lớn. Nhưng khả năng
Nhóm 2: Nhóm trò chơi có luật, gồm các trò chơi sau:
+ Trò chơi học tập
+ Trò chơi vận động
Hoạt động vui chơi có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển
của trẻ mẫu giáo.
Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo: Nó góp phần
vào việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, chuẩn bị những cơ sở
tâm lý cần thiết cho hoạt động học tập ở trường tiểu học trong tương lai. Vì
vậy khi tổ chức cuộc sống sinh hoạt của trẻ ở trường mẫu giáo. Giáo viên
cần biết sử dụng hoạt động vui chơi làm phương tiện giáo dục và phát triển
cho trẻ.
Hoạt động vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện cho
trẻ mẫu giáo: Hoạt động vui chơi nếu được tổ chức tốt, đảm bảo tính tự
nguyện, thỏa mãn nhu cầu nhận thức, nhu cầu vận động, đảm bảo tính giáo
dục…thì sẽ là phương tiện giáo dục các mặt: Trí tuệ, đạo đức, thể chất, lao
động và thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo.
Mục đích tổ chức hoạt động vui chơi
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
9
Đề tài nghiên cứu khoa học
Từ ý nghĩa và vai trò của hoạt động vui chơi đối với trẻ mẫu giáo ta thấy
được tầm quan trọng của hoạt động này đối với sự phát triển của trẻ.
Qua hoạt động vui chơi tạo cơ hội cho trẻ được lựa chọn hoạt động mà
trẻ yêu thích. Đây là hoạt động cá nhân, hoặc có thể tổ chức theo tập thể,
nhóm nhỏ, trẻ được tự do giao tiếp, được lựa chọn trò chơi, bạn chơi.
Qua hoạt động vui chơi trẻ có điều kiện thao tác, thử nghiệm, tìm tòi,
Trong quá trình chơi trẻ nhận thức được mục đích của trò chơi đó.
Ví dụ: Trong góc thiên nhiên của lớp mẫu giáo Bé B trường Mầm Non
Gia Điền. Khi hỏi cháu đang làm gì? Trẻ trả lời: Cháu đang trồng vchăm
sóc vườn rau giúp cho bố mẹ.
Như vậy, trẻ không những trồng rau, chăm sóc rau mà còn biết làm
những công việc đó để giúp cho bố mẹ.
Hay trong góc phân vai hoạt động giao tiếp của trẻ được thể hiện rõ nét:
Trẻ không những giao tiếp với bạn chơi,mà còn giao tiếp với vai chơi.
Ví dụ: Khi chơi trò chơi “Bán hàng” trẻ đóng vai người bán và người
mua. Khi chơi trẻ sử dụng ngôn ngữ như trong đời sống bên ngoài của
người lớn vậy.
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
11
Đề tài nghiên cứu khoa học
Ngoài ra, khi tham gia vào hoạt động chơi trẻ còn được thao tác với đồ
vật. Từ đó trẻ có cách thao tác đúng và trẻ biết trân trọng giữ gìn sản phẩm
của mình làm ra.
Ví dụ: Trong góc học tập để biết cách sử dụng sách, biết cách dở sách
theo từng trang từ đầu đến cuối sách.
Hay ở góc nghệ thuât – tạo hình trẻ biết giữ gìn sản phẩm của mình làm
ra.
Không những giữ gìn sản phẩm mà trẻ còn biết làm thế nào để có thể tạo
ra một sản phẩm đẹp. Trẻ có tính kiên trì để tạo ra một sản phẩm đẹp.
Ví dụ: Trong góc tạo hình ở các lớp mà em đã quan sát và thấy các
cháu khi xé dán tranh, hay tô màu đều làm rất cẩn thận. Khi tô màu trẻ tô
trẻ chơi tốt hơn ở trong lần chơi sau.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết tốt các nhiệm vụ đã đưa ra của đề tài. Tôi đã tiến hành
nghiên cứu thông qua các phương pháp sau:
1. Phương pháp đọc tài liệu.
Sử dụng các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Giáo dục
học, Tâm lý học, đọc các sách báo có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
2. Phương pháp quan sát.
Tiến hành quan sát trẻ chơi trong các góc: Phân vai, Xây dựng, Học tập,
Nghệ thuật ( tạo hình, âm nhạc ), Thiên nhiên. Qua đó, thu thập được
những tài liệu cụ thể, sinh động, tự nhiên, làm cơ sở cho quá trình tư duy
khoa học như: Quan sát sự hợp tác của trẻ trong khi chơi, sự phân công vai
chơi và ý thức đối với trò chơi trẻ tham gia.
3. Phương pháp trò chuyện.
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
13
Đề tài nghiên cứu khoa học
Trò chuyện trực tiếp với trẻ để tìm hiểu cách chơi, khả năng tham gia
vào hoạt động chơi. Đặt ra các câu hỏi để đối thoại với trẻ và dựa vào các
câu trả lời của trẻ để thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu.
4. Phương pháp điều tra.
Thời gian tiến hành điều tra tại trường Mầm Non Gia Điền. Trong đó
tiến hành điều tra về các mặt: Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động vui
chơi của trẻ. Ghi chép lại cách hướng dẫn của giáo viên cho trẻ mẫu giáo
trong hoạt động vui chơi. Nắm bắt được đặc điểm tâm lý của trẻ, thái độ
của trẻ trong hoạt động vui chơi.
+ Qua hoạt động vui chơi trẻ được củng cố những kiến thức đã biết,
tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh. Trẻ mở rộng nguồn tri thức vốn có.
Tư duy của trẻ cũng phát triển thông qua quá trình vui chơi của trẻ.
IV. PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN
Qua việc giảng dạy và được quan sát hoạt động vui chơi tại trường Mầm
Non Gia Điền giúp tôi hiểu rõ hơn hoạt động trong ngày của trẻ ở độ tuổi
mẫu giáo và càng khẳng định vai trò không thể thiếu của hoạt động vui
chơi ở lứa tuổi mẫu giáo.
Hoạt động vui chơi là một trong những hoạt động trong ngày của trẻ.
Các giáo viên trong trường đã có kế hoạch và phương pháp hướng dẫn cụ
thể cho trẻ theo đúng chương trình giáo dục trẻ Mầm Non. Hoạt động vui
chơi đã đạt được những yêu cầu và nhiệm vụ của nó. Qua hoạt động vui
chơi trẻ phát triển một cách toàn diện. Xong, bên cạnh đó vẫn còn một số
hạn chế trong hoạt động vui chơi của trẻ:
Đồ dùng, đồ chơi trong các góc đã được giáo viên quan tâm, xong đồ
chơi cho trẻ còn chưa được nhiều nên trẻ còn gặp những hạn chế trong việc
phát triển nội dung chơi.
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
15
Đề tài nghiên cứu khoa học
Do điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường còn có những phòng học
còn hẹp, không gian bị hạn chế nên cũng ảnh hưởng tới quá trình tổ chức
các góc cho trẻ chơi
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
17
Đề tài nghiên cứu khoa học
1. Chơi cạnh trẻ.
Giáo viên chơi cạnh trẻ, sử dụng cùng một loại đồ chơi và chơi cùng
một trò chơi giống trẻ: Giáo viên tự nhận xét về trò chơi của mình nhằm
làm mẫu các thao tác chơi cho trẻ nhưng không nhận xét về trò chơi của trẻ
và trực tiếp hướng dẫn trẻ chơi. Hình thức này thường được sử dụng ở giai
đoạn đầu của sự phát triển trò chơi trong các góc chơi Học tập, góc Sách và
góc Xây dựng: với những trẻ nhút nhát ít sôi nổi và có hứng thú chơi
không bền.
Ví dụ: Quan sát thấy một trẻ trong góc Học tập cầm một cuốn sách lật đi
lật lại. Giáo viên đến cạnh trẻ, nói: “Cô cũng rất thích đọc truyện.
Đây cô thích đọc truyện này. Cô cầm sách đúng chiều, dở lần lượt từng
trang đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới và chỉ vào từng chữ…” và
làm mẫu các hành vi đọc cho trẻ xem.
2. Chơi cùng trẻ.
Giáo viên tham gia vào một trò chơi nào đấy mà trẻ đang chơi, nhưng
vẫn để cho trẻ tự điều khiển quá trình tiến triển của trò chơi.Giáo viên gợi
ý, đề xuất ý kiến, hỏi trẻ theo tiến triển của trò chơi qua việc đóng một vai
nào đấy nhằm giúp trẻ mở rộng nội dung chơi, thiết lập các mối quan hệ
giữa các trẻ trong trò chơi hay giữa các nhóm chơi.
Có thể sử dụng biện pháp này ở tất cả các góc chơi khi quan sát thấy trò
chơi của trẻ có chiều hướng “ lụi dần”, hành động chơi của trẻ đơn điệu,
lặp lại và với những trẻ có hứng thú chơi không bền.
Ví dụ: Quan sát hai trẻ đang chơi trong góc chơi đóng vai, giáo viên
thấy trẻ giả vờ làm bánh rán từ bột nặn, hành động chơi của trẻ đơn điệu,
- Giáo viên tự khởi xướng trò chơi, chủ động đưa ra chủ đề và nội dung
chơi mới để dạy trẻ.
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
19
Đề tài nghiên cứu khoa học
- Giáo viên đóng vai trò chủ đạo trong việc điều khiển tiến trình phát triển
trò chơi.
- Giáo viên dạy trẻ các thao tác mới và hành vi chơi mới.
Việc dạy trẻ chơi có thể tiến hành một cách gián tiếp hoặc trực tiếp.
* Dạy gián tiếp. ( dạy từ bên ngoài trò chơi )
Khi gián tiếp dạy trẻ chơi, giáo viên không trực tiếp tham gia vào các
trò chơi của trẻ (đóng vai) mà thường đưa ra những lời gợi ý, nhận xét ,
hướng dẫn nhằm khuyến khích trẻ tham gia vào trò chơi mới hoặc thực
hiện một kỹ năng chơi mới. Ví dụ, dạy trẻ trò chơi “bán hàng”.
Giáo viên: Mai ơi, cháu có nhiều hàng hóa quá. Cháu đã bán được gì
chưa?
Trẻ: Dạ chưa, cháu chưa bán được gì!
Giáo viên: Sao cháu không xếp hàng hóa lên giá hàng để mọi người
nhìn thấy và đến mua. Cháu bày hàng đi, Cô sẽ tìm khách hàng đến mua
hàng của cháu. (Giáo viên tìm thêm mấy trẻ khác đến đóng vai người mua
hàng
* Dạy trực tiếp. (Dạy từ bên trong trò chơi)
Khi trực tiếp dạy trẻ các thao tác và kỹ năng chơi mới, đòi hỏi giáo viên
phải thực sự tham gia vào trò chơi của trẻ, giáo viên làm mẫu các thao tác
và kỹ năng chơi mới cho trẻ xem và học theo.
Ví dụ: Cũng là việc dạy trẻ chơi trò chơi “ bán hàng” như trên, nhưng
nhân cách toàn diện cho trẻ mẫu giáo khi và chỉ khi giáo viên nhận thức rõ
được vai trò của mình trong việc tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ và biết
vận dụng các biện pháp hướng dẫn trẻ chơi một cách linh hoạt, đúng lúc,
đúng cách ở từng tình huống chơi cụ thể khác nhau của trẻ.
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
21
Đề tài nghiên cứu khoa học
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN.
Ở lứa tuổi Mầm Non trẻ nhạy cảm với mọi tác động từ bên ngoài đến
trẻ. Trong giáo dục, người lớn và giáo viên Mầm Non có sự ảnh hưởng to
lớn đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Thông qua các hoạt động tổ chức
cho trẻ góp phần hoàn thiện nhân cách, phát triển trí tuệ, tư duy chuẩn bị
chi trẻ tham gia vào hoạt động hoc tập ở trường phổ thông.
Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ ỏ lứa tuổi mẫu giáo.
Do đó, những phẩm chất tâm lý và những đặc điểm nhân cách của trẻ
mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ nhất là trong hoạt động vui chơi.
Ngoài ra, thông qua hoạt động vui chơi trẻ không những được thoải mái
tinh thần, làm chủ trong hoạt động mà trẻ còn được củng cố vốn kiến thức
của mình và được tìm tòi, khám phá về thế giới xung quanh trẻ.
Vì vậy. việc tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo cần có sự
chuẩn bị tốt, có phương pháp hướng dẫn và hình thức tổ chức hợp lý, có
khoa học. Phát huy được tính tích cực của từng cá nhân. Thông qua đó, đòi
hỏi người giáo viên Mấm Non phải nắm vững đặc điểm tâm lý của từng độ
tuổi trẻ mẫu giáo, có phương pháp hướng dẫn cụ thể, có tinh thần yêu
(2000)
- Giáo Dục Mầm Non – Phạm Thị Châu – Nguyễn Thị Oanh – Trần
Thị Sinh – Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
Nguyễn Thị Thanh Tâm- MN Gia Điền
24
Đề tài nghiên cứu khoa học
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Chức vụ: Giáo viên - Bí thư chi đoàn
Tên đề tài: “ Một số biện pháp tổ chức hoạt động
vui chơi cho trẻ Mẫu giáo”
Nội dung đánh giá
1. Sự phù hợp với tình hình thực tế ở trường Mầm non
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
........................................................................................................................
.........................................................................................................................
2. Kết quả đạt được so với mục đích nhiệm vụ đề ra
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
3. Cách lập luận giải quyết vấn đề