Giáo trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo (dùng cho học viên hệ đào tạo từ xa) - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Hồ Thị Hạnh

GIÁO TRÌNH

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO
TRẺ MẪU GIÁO
(Dùng cho học viên hệ đào tạo từ xa)

Nghệ An - 2011
1


LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI.
1. QUAN ĐIỂM HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI.
1.1.Quan niệm sinh vật hoá trò chơi.
- Ở lứa tuổi MN chơi chính là cuộc sống của trẻ. Đặc biệt là lứa tuổi MG, chơi là hoạt động
chủ đạo, trong khi chơi trẻ hoạt động sôi nổi, hết mình và chủ động như chính cuộc sống của
mình; Khi chơi trẻ thỏa sức suy nghĩ, tìm tòi, ước mơ, tưởng tượng hết sức phong phú như nào
là lái xe, nào là chữa bệnh, hay chú công nhân xây dựng…cái gì cũng có thể làm được. Một
cháu gái cũng có thể trở thành “nàng tiên”, “công chúa”, hay “lực sĩ”. Chính sự tưởng tượng
ngây thơ đó đã đem lại cho trẻ niềm vui vô bờ và đó thực sự là giây phút hạnh phúc nhất của
trẻ thơ. Người lớn cần nuôi dưỡng trí tưởng tượng ngây thơ này cho trẻ bằng trò chơi hấp dẫn
hay truyện cổ tích. Nếu thiếu trò chơi và truyện cổ tích thì đời sống TL của trẻ trở nên khô cằn,
khó mà phát triển bình thường được.
Vậy chơi là gì? Có nhiều quan niệm khác nhau về HĐVC của trẻ MN.
G. Spencer cho rằng: chơi chính là sự giải tỏa năng lượng dư thừa ở trẻ em giống như con vật
non. Những năng lượng dư thừa ở con vật không được sử dụng trong hoạt động thực nên đã
được tiêu khiển qua việc bắt chước hành động thực đó bằng trò chơi. ở trẻ em, trò chơi là sự


Đ.B. Encônhin cùng quan điểm với Plêkhanốp cho rằng nhu cầu và sự ham hiểu biết thế giới
xung quanh chính là nguồn gốc động lực giúp trẻ tích cực hoạt động trong trò chơi. Trẻ có nhu
cầu chơi vì chúng mong muốn hiểu biết thêm về thế giới xung quanh.
Từ những quan niện trên, dưới góc độ lý thuyết hoạt động, ta có thể hiểu :
Chơi là một hoạt động mà động cơ của nó nằm trong quá trình chơi chứ ko phải nằm trong kết
quả của hoạt động, khi chơi, trẻ ko chú tâm vào một lợi ích thiết thực nào cả, trong trò chơi các
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và XH được mô phỏng lại, chơi mang lại cho trẻ
trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn chấn, dễ chịu.
2. Đặc điểm hoạt động vui chơi của trẻ tuổi MN
Hoạt động vui chơi của trẻ em, đặc biệt là của trẻ MG có những đặc điểm sau :
+ HĐVC mang tính hồn nhiên, vô tư. Nghĩa là trong khi chơi trẻ ko chủ tâm nhằm tới một lợi
ích thiết thực nào cả. Cái thúc đẩy trẻ chơi chính là sự hấp dẫn của đồ chơi và bản thân quá
trình chơi chứ ko phải kết quả chơi. Trẻ chơi chỉ để vui, có vui thì mới chơi, vui là một thuộc
tính vốn có của chơi.
+ HĐVC là HĐ không mang tính bắt buộc mà mang tính tự do, tự nguyện, tự lập. Vì trò chơi
hấp dẫn trẻ, trẻ tự tạo ra nó, làm chủ được nó. Hơn nữa, do hành động chơi xuất hiện từ
nguyện vọng và hứng thú cá nhân chứ ko do sự áp đặt máy móc từ phía người lớn. Thể hiện,
tính tự chủ, tự lực trong khi chơi, trẻ tự làm hết mọi việc từ chọn trò chơi, bạn chơi đến việc
tìm kiếm đồ chơi, ngoài ra còn thể hiện ở sự điều chỉnh hành vi của mình khi chơi. Chính tính
độc lập và tự điều chỉnh hành vi đó ko chỉ tạo cho trẻ niềm vui sướng và lòng tự tin khi chơi
mà còn giúp trẻ phát huy được khả năng tự lập của mình trong cuộc sống sau này.
+ HĐVC là HĐ mang màu sắc xúc cảm chân thực, mạnh mẽ. Trò chơi đã tác động mạnh mẽ
và toàn diện đến trẻ, vì nó thâm nhập dễ dàng hơn cả vào thế giới tình cảm của trẻ, mà tình
cảm đối với trẻ là động cơ mạnh mẽ nhất. Dù biết trong trò chơi mọi cái đều là giả vờ, nhưng
tình cảm mà các em biểu hiện trong đó là tình cảm chân thực, hồn nhiên và thẳng thắn, ko
mang tính giả tạo.
M.X. Macarenco đánh giá: niềm vui trong trò chơi là niềm vui của sự sáng tạo, niềm
vui chiến thắng, niềm vui đẹp đẽ, niềm vui của những phẩm giá. Hơn nữa, khi chơi trẻ ko chỉ
trải nghiệm những xúc cảm, tình cảm tích cực mà còn cả những xúc cảm, tình cảm tiêu cực:

loài người và sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong hệ thống các mối quan hệ xã hội. Ông đồng
tình với quan điểm của Plêkhanốp rằng trong lịch sử xã hội thì lao động có trước và trò chơi
chính là hiện tượng xã hội, là phương tiện để trẻ làm quen với lao động của người lớn, song
thời nguyên thuỷ trò chơi không xuất hiện. Trò chơi xuất hiện khi công cụ lao động trở nên
phức tạp và xã hội có sự phân công lao động theo lứa tuổi. Khi đó trẻ em không thể tham gia
lao động cùng với người lớn, cũng không thể tham gia vào các mối quan hệ của người lớn như
thời nguyên thuỷ, lúc này người lớn làm đồ chơi cho trẻ giống như công cụ lao động. với đồ
chơi, trẻ không thể hành động giống như công cụ lao động mà chỉ có thể mô phỏng lại mà thôi.
Trò chơi ĐVTCĐ xuất hiện. Khi trẻ chơi trò chơi này chúng được thoả mãn nguyện vọng của
mình và vươn tới cuộc sống xã hội của người lớn, được hành động và đối xử như người lớn
thực sự.
Thực tế, lịch sử phát triển của mỗi cá nhân cho thấy, HĐVC xuất hiện trước hết do nhu cầu
được chơi của trẻ. Nhu cầu này được hình thành trong XH- nơi trẻ sinh sống. Nhờ được người
lớn hướng dẫn, trẻ được làm quen với phương thức hành động với đồ vật và phương thức giao
tiếp của loài người, vốn kinh nghiệm sống của trẻ ngày càng phong phú, nhờ đó nhu cầu tham
gia vào cuộc sống XH như người lớn được nảy sinh và thôi thúc trẻ. Song khả năng của trẻ còn
hạn chế chưa cho phép trẻ sống và làm việc như người lớn. Để giải quyết mâu thuẫn này, trẻ
tìm đến một phương thức để thỏa mãn nhu cầu này là dưới hình thức giả vờ: giả vờ bế em, giả
vờ tiêm, hay bán hàng, giả vờ lái xe… TCĐVTCĐ xuất hiện.
3.2. Bản chất của trò chơi
Theo quan điểm sinh vật hóa cho rằng trò chơi mang tính bản năng nhằm giải tỏa những năng
lượng dư thừa trong cơ thể hoặc giải tỏa những đam mê tình dục tuổi ấu thơ.
Theo quan điểm của các nhà TLH mác xít và các nhà TLH phương tây hiện đại thì khẳng định
rằng trò chơi của trẻ mang bản chất XH (thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện của trò chơi, về chủ
đề, nội dung chơi và hình thức biểu hiện).
Bản chất XH của HĐ chơi còn biểu hiện bởi điều kiện mà mỗi xã hội tạo ra cho trẻ chơi.
Nhưng ko phải XH nào cũng tạo ra được ĐK đó. Một số trẻ em đã tham gia sớm vào công việc
gia đình, công việc nặng nhọc đã làm mất đi tuổi thơ và trò chơi của trẻ. Hơn nữa, nội dung
của trò chơi mang tính XH rõ nét như qua trò chơi của trẻ ta thấy dấu vết của XH- thời đại (trò
chơi ĐVTCĐ).

theo màu sắc). Tính chủ định trong các quá trình TL được hình thành trong HĐ chơi.
+ Tư duy cũng được PT vì khi tham gia vào trò chơi, trẻ suy nghĩ về hành động chơi, thao tác
chơi ( làm bác sĩ thì phải làm gì? làm như thế nào?) sử dụng vật thay thế như thế nào? trẻ học
cách giải quyết nhiệm vụ, tìm kiếm phương tiện thích hợp nhất để thực hiện dự định đã đề ra.
Qua đó tư duy của trẻ được phát triển mạnh mẽ.
+ V/C còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.
Chơi là phương tiên giáo dục đạo đức cho trẻ
Trò chơi mà đặc biệt là trò chơi ĐVTCĐ ảnh hưởng mạnh đến nhận thức, thái độ và
hành vi đạo đức của trẻ. Hãy CM?
+ Khi tham gia vào trò chơi đứa trẻ trải nghiệm được những thái độ, tình cảm đạo đức
và tập được hành vi ứng xử với người xung quanh bằng cách nhập vai của mình, qua đó trẻ
học làm người.
+ Khi chơi trẻ thử sức hành động như người lớn, qua đó dần dần hình thành hành vi và
thái độ riêng cho bản thân; thực hiện hành động chơi phù hợp với quy tắc, chuẩn mực đạo đức
Xh của vai, VD như bác sĩ thì phải ân cần, niềm nở với bệnh nhân, phải thông cảm, chia sẻ với
bệnh nhân…
+ Trong quá trình chơi sau nhiều lần đóng vai, và đóng nhiều vai khác nhau, dần dần trẻ
nắm được quy tắc giao tiếp, ứng xử giữa người với người. Những tri thức về các biểu tượng
hành vi đạo đức mà trẻ đã lĩnh hội được dần dần được trẻ vận dụng vào trong các mối quan hệ
thực của đời sống như biết thương yêu em bé, biết vâng lời cô giáo…
+ Trong HĐ V/C, đặc biệt là trò chơi ĐVTCD, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, một số
phẩm chât cao quý được hình thành ở trẻ như tính thật thà, dũng cảm, tính chủ động, kiên trì,
đặc biệt là lòng nhân ái. Vì khi tham gia vào các MQH người – người trong trò chơi, những
rung động mang tính người được gợi lên ở trẻ. Hơn nữa, thái độ vui hay buồn còn phụ thuộc
vào hoàn cảnh tưởng tượng trong khi chơi. Do vậy, trong khi chơi đã thể hiện tình người.
Như vậy, chơi là một mắt xích nối liền giữa trẻ với quy tắc, chuẩn mực đạo đức Xh. Nó
giúp cho quá trình hình thành các phẩm chất đạo đức diễn ra tự nhiên, hiệu quả.
chơi là phương tiên giáo dục thể chất cho trẻ
- Vì sao? Vì chơi mang lại niềm vui cho trẻ, làm cho tình thần được sảng khoái- làm cho thể
lực phát triển tốt hơn.

hạnh phúc cho tuổi thơ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển tự nhiên nhất.
4.2.Chơi là hình thức tổ chức đời sống của trẻ ở trường MN
Đối với trẻ MN, chơi chính là cuộc sống thực của trẻ. ở trường MN nếu trẻ ko được chơi thì
không khí sẽ rất nặng nề, lúc đó trường chỉ là nơi giữ trẻ, không phải là nơi CS-GD trẻ, hạnh
phúc của trẻ thơ bị tước đoạt, tâm hồn của trẻ thơ dần trở nên khô cứng. Vì sao vậy?
Vì chơi là HĐ đặc trưng của trẻ, nó có mặt trong tất cả các HĐ khác, như HĐ HT, HĐLĐ,
trong giao tiếp và trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Do vậy, việc tổ chức cho trẻ chơi vừa là
nhiệm vụ, vừa là con đường GD có hiệu quả cho trẻ.
Chơi là phương thức thỏa mãn nhu cầu được sống và được làm việc như người lớn. Trong mỗi
giờ chơi, mỗi trò chơi phản ánh một mảng của hiện thực đời sống XH: bệnh viện, trường học,
cửa hàng, bách hóa, công viên…Mỗi trẻ có vị trí nhất định trong nhóm chơi. Khi chơi, trẻ
khônh chỉ biết phối hợp với nhau trong nhóm chơi: người bán và người mua; giữa bác sĩ và
bệnh nhân, mà còn biết phối hợp với nhau giữa các nhóm chơi như người mua hàng có con ốm
nên phải đưa con đi gặp bác sĩ, rồi sau đó ghé qua cửa hàng mua sữa cho con… Sự phối hợp
giữa trẻ với nhau như vậy đã hình thành một “Xh trẻ em” trong khi chơi. Chính trong Xh đó,
trẻ thỏa sức hành động, được sống trong Xh người lớn thu nhỏ, được làm việc, nói năng, được
xưng hô như người lớn… Vì thế trẻ luôn là chủ thể tích cực. ở đây trẻ tìm thấy vị trí của mình
trong nhóm bạn bè, và cũng ở đây trẻ cảm thấy mình được tự do thoải mái và tự tin vào bản
thân hơn. Vì vậy, có thể nói “XH trẻ em” là hình thức đầu tiên giúp trẻ được sống và làm việc
cùng nhau, được sống cuộc sống của người lớn.
KLSP: Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở Xh đầu tiên của trẻ. Do đó, người lớn
cần tổ chức tốt các hoạt động vui chơi cho trẻ.
Người lớn phải chú ý tổ chức cho trẻ được chơi thoải mái, tạo môi trường, tình huống cho trẻ
phối hợp - liên kết với nhau trong các nhóm chơi và làm cho các nhóm chơi của trẻ thực sự là
một hình thức tổ chức đời sống của trẻ ở trường MN.
6


4.3.Mối quan hệ qua lại giữa chơi và lao động, chơi và học tập, chơi và hoạt động nghệ thuật
của trẻ MN

Chơi và HĐ nghệ thuật của trẻ rất gần gũi với nhau. Ngôn ngữ, kỹ năng hoạt động
nghệ thuật được trẻ đưa vào trong trò chơi, giúp trẻ dễ dàng thực hiện được nội dung chơi,
hành động chơi.
Những lời ca, những câu nói giàu tính nghệ thuật mà trẻ tiếp nhận được trong các tác phẩm
thơ, truyện sẽ được trẻ sử dụng trong trò chơi, làm cho trò chơi trở nên hấp dẫn, vui nhộn.
Mặt khác, HĐ nghệ thuật của trẻ cũng diễn ra nhẹ nhàng như là chơi: Trẻ vừa đọc thơ,
kể chuyện vừa mô phỏng hành vi, việc làm của nhân vật theo nội dung thơ, truyện ( như trò
chơi đóng kịch). Đặc biệt, trò chơi lắp ghép- xây dựng được ra đời trên cơ sở của HĐ tạo hình
(vì các kĩ năng xây dựng trẻ có là nhờ HĐ tạo hình).
Thực tế cho thấy, việc dạy trẻ các ki năng xây dựng tạo điều kiện cho trẻ phát triển các
trò chơi của mình.
* Tóm lại, chơi có mối quan hệ chặt chẽ với HT, LĐ và tạo hình. Chính vì các mối quan hệ
này đã cuốn hút trẻ và tạo điều kiện cho sự phát triển chung của trẻ MG
5. Đồ chơi
5.1. Đặc điểm của đồ chơi
Đồ chơi là vật thay thế cho đồ vật thật, mô phỏng những đồ vật thật nên giúp trẻ thực
hiện những hành động chơi tương ứng với hành động thực.
7


Đồ chơi phản ánh nền văn hóa của mỗi dân tộc. XH phát triển thì đồ chơi cũng ngày
càng phát triển phong phú, tinh vi, hấp dẫn hơn. Đồ chơi mang tính hiện đại, tính toàn cầu.
Điển hình là loại đồ chơi cơ giới và điện tử.
Đồ chơi khác đồ vật ở những điểm nào?
Đồ chơi chỉ là mô tả một cách ước lệ và khái quát những vật dụng trong LĐSX và
trong sinh hoạt hàng ngày của XH. Do đó, ngoài việc dùng vào chơi, đồ chơi ko còn công
dụng nào khác.
+ Nhờ tính ước lệ và khái quát của đồ chơi mà nó trở nên linh hoạt, sinh động, phong phú về
chức năng sử dụng vào các trò chơi.
5.2.ý nghĩa của đồ chơi

chơi xây dựng một cách thuận tiện tùy vào chỗ chơi, tùy theo ý đồ chơi của trẻ.
5.3.4. Đồ chơi vận động.
5.3.5. Đồ chơi mang tính hài hước vui nhộn như mặt nạ, ông hề nhào lộn, thỏ đánh trống, khỉ
leo cây…Nó thường được dùng trong trò chơi đóng kịch hay múa rối.
5.3.6. Đồ chơi âm nhạc như lục lạc, kèn, mỏ, sáo , trống. Ngoài ra còn có đồ chơI phát ra tiếng
kêu của con vật như: chim hót, chó sủa, gà gáy…
5.3.7. Đồ chơi dân gian: Là loại đồ chơi mang tính dân tộc có trong nhân dân. Những đồ chơi
này thường do các nghệ nhân làm ra theo phong cách dân gian bằng các chất liệu dễ tìm trong
8


các làng như que, như tre, cọng rơm, cuống rạ, lá cây, rễ cây, hột hạt, vỏ sò, hến…( như búp
bê bằng gỗ, con giống bằng đất nặn..
5.3.8. Vật liệu chơi: Là những vật liệu phù hợp với trò chơi như đất nặn, trẻ có thể làm ra bánh
, con giống, hột hạt, vỏ sò, vỏ bia..
Ngày nay, các nước trên thế giới có ngành công nghệ sản xuất đồ chơi. Công nghệ đồ
chơi ngày càng được phát triển tinh xảo, mang tính khoa học kỹ thuật cao, điển hình là những
đồ chơi điện tử. Nó vừa có lợi và có hại. Một mặt nó vừa tạo điều kiện cho trẻ tiếp cận được
với khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhưng mặt khác nó gây nên tác hại về thể chất lẫn tinh thần
nếu trẻ sử dụng quá nhiều (như mắt mờ, béo phì).
Tuy nhiên, việc khôi phục lại đồ chơi dân gian vẫn có ý nghĩa lớn đối với HĐVC của
trẻ. Vì đồ chơi này lưu giữ lâu bền nhất bản sắc dân tộc và có khả năng tác động mạnh mẽ đến
sự phát triển toàn diện của trẻ.
* KLSP: Người lớn làm đồ chơi và Khuyến khích trẻ làm đồ chơi bằng các vật liệu trong
thiên nhiên (cọng rơm, hoa lá, hòn sỏi) hoặc những vật liệu có sẵn trong cuộc sống hàng ngày
như vỏ bao diêm, hộp bia, giấy… việc trẻ tạo ra đồ chơi giúp cho cuộc chơi thêm hào hứng,
say mê. Điều đó đặc biệt cần thiết đối với địa phương kinh phí còn nghèo nàn thì việc vận
động người lớn làm đồ chơi cho trẻ là cần thiết. Tất nhiên là trẻ ở đó rất cần những đồ chơi
được chế tạo bằng công nghệ tiên tiến. Ngược lại, trẻ ở đô thị cũng cần những đồ chơi làm
bằng vật liệu thiên nhiên và trong cuộc sống gần gũi với con người.



*Chủ đề chơi : Là các mảng hiện thực được phản ánh vào trò chơi, nên nó mang tính chất
muôn màu, muôn vẻ.
Chủ đề sinh hoạt gia đình (trò chơi mẹ con, nấu ăn…). Chủ đề bán hàng (trò chơi cửa hàng
bách hóa), chủ đề giao thông vận tải (trò chơi chú lái xe), chủ đề trường học (trò chơi dạy
học..), chủ đề bệnh viện (trò chơi bác sĩ; phòng khám răng)
*Vai chơi:
Vai chơi là trẻ ướm mình vào vị trí của một người lớn nào đó và bắt chước hành động của họ
như là để thực hiện các chức XH
Vai chơi là yếu tố quan trọng để tạo nên trò chơi. Vai chơi luôn gắn liền với hành động chơi (
thực hiện một công việc nào đó mang tính chất nghề nghiệp như cô giáo- dạy học; bác sĩ khám bệnh; công nhân- xây dựng).
Đóng vai chính là con đường để trẻ thâm nhập vào cuộc sống của người lớn xung quanh.
Đóng vai là hành động chủ yếu của trò chơi. nếu trẻ ko biết đóng vai thì TCĐVCĐ ko thành
công. Qua nhiều lần chơi khả năng đóng vai của trẻ ngày một tốt hơn.
* TCĐVCĐ mang tính hợp tác.
Trò chơi này mô phỏng lại cuộc sống xung quanh của người lớn. HĐ của người lớn bao giờ
cũng mang tính hợp tác. Do vậy, để tiến hành trò chơi này phải có nhiều trẻ cùng tham gia,
cùng HĐ với nhau. Do vậy, một "XH trẻ em" được hình thành.
Bản chất của TC này là mô hình hóa những quan hệ XH mà trẻ chịu sự chi phối. Đó là những
MQH giữa những người lớn với nhau trong XH được trẻ em quan tâm và trở thành đối tượng
hành động của chúng ( mẹ - con ; cô giáo- học sinh).
Mỗi trò chơi có hai mặt: mặt thứ nhất là động cơ có tính chất XH, tức là “ý”; Mặt thứ hai là
mặt kỹ thuật (bao gồm các thao tác) tức là "nghĩa". Trò chơi ĐVTCĐ chủ yếu nhằm vào “ý”
tức là nhằm vào hình thành động cơ của trẻ được biểu hiện trong các MQH XH (dù chỉ là mô
phỏng); Còn mặt kỹ thuật ( những thao tác với đồ vật) chỉ là hỗ trợ cho mặt thứ nhất.
Nhờ có trò chơi này mà mỗi trẻ có cách nhìn mới về mình( ko còn nhìn mình một cách chủ
quan như hồi lên ba nữa), mà là người khác, như một nhân vật của đời sống XH. Tức là bằng
trò chơi ĐVTCĐ đứa trẻ đảm nhiệm các chức năng XH và tự biến mình thành một nhân cách
XH, một con người như mọi người (vì trẻ có thể đóng bất cứ vai nào).

chơi (như một mẩu gỗ có thể là mâm ở trò chơi này, nhưng có thể là cái gường ở trò chơi
khác…Nhờ đó, trẻ có thể có bất cứ cái gì mình muốn để thực hiện vai chơi, hành động chơi.
- Chức năng ký hiệu tượng trưng cho phép trẻ tách hành động khỏi đồ vật thật mà hành động
với vật thay thế (hành động phi ngựa bằng gậy- đã mất đi ý nghĩa thực tiễn biến thành một ký
hiệu đánh dấu việc cưỡi ngựa) . Tức là trẻ biết dùng ký hiệu- tượng trưng để nhận thức thế
giới. Nhờ đó các chức năng TL bậc cao được phát triển tốt (TD, tưởng tượng, tình cảm…)
1.2. Phương pháp hướng dẫn trò chơi ĐVTCĐ
1.2.1. Những yêu cầu chung
- Cần tôn trọng tính tự nguyện, tự chủ của trẻ trong khi chơi. Vì khi chơi nếu được tự nguyện,
tự chủ trẻ dễ dàng phát huy sáng kiến và hứng thú cũng lâu bền.
+ Vì sao trẻ MG lại chơi TCĐVCĐ? vì để thỏa mãn lòng mong muốn được sống và làm việc
như người lớn trên cơ sở tự nguyện và chủ động ( tự nghĩ ra dự định chơi, nội dung chơi)
- Cần hướng dẫn trẻ lựa chọn những trò chơi có nội dung tích cực và lành mạnh.
- Cần giúp trẻ thiết lập các mối quan hệ giữa các vai chơi.Bản chất của trò chơi ĐVTCĐ là ở
những mối quan hệ qua lại giữa những người lớn trong XH được trẻ mô phỏng vào trò chơi.
Do đó, cô cần nêu lên cho trẻ thấy những mối quan hệ hiện có trong đời sống xung quanh từ
đơn giản đến phức tạp. Đồng thời cần mở rộng dần chủ đề để các mối quan hệ được phản ánh
vào đó ngày càng phong phú, tạo Đk để trẻ trải nghiệm được nhiều sắc thái khác nhau trong
cuộc sống người lớn. Đó chính là cơ sở để trẻ học làm người. VD : trong trò chơi phòng khám
răng, cô cần hướng dẫn trẻ thiết lập mối quan hệ ứng xử phù hợp giữa bác sĩ và bệnh nhân.
- Cô cần thường xuyên tạo ra tình huống để gợi ra ở trẻ các cách ứng xử khác nhau phù hợp
với từng tình huống xảy ra. Tận dụng các tình huống của cuộc sống để GD là một phương thức
GD đặc trưng của GDMN, TCĐVCĐ là một môi trường thuận lợi để thực hiện phương thức
GD đó. Tình huống luôn luôn xuất hiện trong trò chơi sẽ làm nảy sinh ở trẻ thái độ sống tích
cực, giúp trẻ thêm gắn bó với con người và cuộc sống xung quanh.
- Tạo quan hệ thân tình bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa người hướng dẫn với trẻ, giữa trẻ
em với nhau.
+ Trong TCĐVCĐ cô và trẻ là những người bạn cùng chơi với nhau chứ ko phải như cô- trò ở
trong HĐHT. Cô luôn là nhà GD, người hướng dẫn trẻ chơi, đối với trẻ trong khi chơi phải có
sự bìng đẳng như nhau, khi đó chơi mới thực sự tự nhiên, thoải mái.

chơi khác và đồ chơi khác hấp dẫn hơn.
*Yêu cầu cần đạt:
+ Trẻ phải biết sử dụng đồ dùng, đồ chơi theo đúng nghĩa của nó nhằm mô phỏng hành động
việc làm của người lớn trong Xh và củng cố biểu tượng về đồ vật với ý nghĩa XH của nó.
+ Biết giữ gìn, bao quản đồ chơi, không phá nghịch như quăng, ném, tranh giành đồ chơi.
+ Biết nhận vai và hành động theo vai (thực hiện những hành động đặc trưng nổi bậtt của vai).
+ Biết phối hợp với nhau trong trò chơi.
*hướng dẫn trẻ chơi:
- Cần hướng dẫn cho trẻ biết nhập vai. Vai chơi là linh hồn của trò chơi ĐVTCĐ. Làm thế nào
để trẻ biết nhận vai chơi: biết ướm mình vào những người xung quanh mà trẻ thích?
- Hàng ngày phải chỉ cho trẻ thấy sinh hoạt của người lớn xung quanh và nói rõ cho trẻ biết họ
đang làm gì và làm như thế nào bằng:
- Các câu hỏi như: “Mẹ đang làm gì, làm như thế nào” hay “bố dắt xe đi đâu, làm việc gì. ”
- Bằng truyện kể
- Bằng sự liên tưởng đến những điều trẻ đã trải nghiệm (mắt thấy, tai nghe)
- Bằng hành động mẫu của người lớn khi chơi cùng với trẻ
nhờ sự hướng dẫn của người lớn mà vốn kinh nghiệm ngày càng phong phú.
=> dần dần trẻ biết tự ướm mình vào những người lớn xung quanh mà trẻ thích. Qua đó trẻ trải
nghiệm được những tình cảm và tiếp thu những cách ứng xử của họ trong cuộc sống.
Đến cuối tuổi MG bé trẻ đã quen dần với việc nhập vai và trở nên thích thú hơn. Tiến bộ hơn
là biết phân vai cho nhau. Lúc này tác dụng chủ đạo của TCĐVTCĐ đối với sự phát triển TL
của trẻ đã phát huy khá rõ rệt.
- Cần hướng hành động chơi của trẻ theo một chủ đề nhất định
Khi chơi, trẻ chưa biết tập trung hành động của mình theo một chủ đề nhất định. VD: khi chơi
có trẻ đang ru em bé bằng gối ngủ, sau đó liền đặtt gối xuống ngồi lên đó nhún nhảy như phi
ngựa. Có cháu đang cầm que tiêm cho búp bê, sau đó liền biến que thành bút chì để vẽ vào
giấy.
+Hướng dần như thế nào để trẻ biết chơi tập trung theo một chủ đề ko lan man, tản mản?
- Kể cho trẻ nghe những công việc của người lớn trong chủ đề đó
Trong gia đình (có bố, mẹ, ông, bà); Trong bệnh viện (bác sĩ, bệnh nhân) mỗi người làm gì và

mực( ánh mắt, cử chỉ, nét, mặt..) để tạo ra một kiểu quan hệ tốt đẹp trong XH. Chính trong khi
nhập vào các mối quan hệ đó, trẻ mới dần nhận ra các quy tắc sống, các chuẩn mực đạo đức
giữa người với người trong XH.
+ Cần chuẩn bị thật chu đáo khi tổ chức cho trẻ chơi: Do trẻ MG bé chưa tự lực nhiều trong
khi chơi, trước khi tổ chức cô cần chuẩn bị chu đáo mọi thứ. Từ việc chọn trò chơi, tìm chỗ
chơi, đến việc phân vai, tạo ra các tình huống chơi…đều cần phải suy nghĩ, lựa chọn sao cho
phù hợp với nhóm trẻ. Tốt nhất là cô phải chơi cùng với trẻ để trực tiếp tạo ra tình huống chơi
và làm mẫu các hành động chơi, nhất là sự phối hợp giữa các vai với nhau. Đây cũng là dịp để
người lớn khuyến khích, kịp thời động viên những trẻ chơi đúng, chơi hay, uốn nắn kịp thời
những sai trái của trẻ khi chơi, giúp trẻ duy trì hứng thú chơi và phát huy được sáng kiến.
Tóm lại, TCĐVTCĐ ở trẻ MG bé còn ở dạng sơ khai, nhưng đã phát huy vai trò chủ đạo đối
với sự phát triển TL của trẻ, tuy nhiên vai trò chủ đạo chưa thật mạnh. Nhiệm vụ của các nhà
GD là phải cố gắng hướng dẫn cho trẻ biết chơi, thúc đẩy trò chơi này phát triển thật nhanh để
phát huy vai trò chủ đạo của nó, tạo ra những bước phát triển mới trong đời sống TL của trẻ.
b. Đối với trẻ MG nhỡ:
* Đặc điểm: TCĐVTCĐ ở trẻ MG nhỡ đang phát triển tới mức hoàn thiện:
+ Khi chơi, trẻ thể hiện rõ tính tự lực, tự do, chủ động như tư lực lựa chọn chủ đề chơi, nội
dung chơi (tự thỏa thuận với nhau).
- CĐ chơi phong phú, đa dạng hơn.
- Nội dung muôn hình muôn vẻ: Trò chơi mẹ con không chỉ là cho em ăn, ngủ, rửa mặt, mà
còn cho đi trường MN, đi công viên, đi siêu thị, dạy em học bài.
+ Tự lựa chọn bạn chơi (chọn bạn tâm đầu ý hợp với mình thì chơi mới bền, vui hơn).
+ Tự do tham gia vào trò chơi nào mà mình thích và cũng tự do rút khỏi trò chơi mà mình
không thích (tự chọn trò chơi, tự phân vai cho nhau, tự tìm kiếm đồ chơi, tự quy ước với nhau
13


về vật thay thế và tự thỏa thuận với nhau về cách chơi, lúc chơi thì say sưa hết mình, khi chán
thì bỏ cuộc nhẹ nhàng).
+ Đã biết thiết lập những quan hệ rộng rãi và phong phú với các bạn cùng chơi - một “XH trẻ

sợ hãi, nhút nhát đối với cô. Lúc này người hướng dẫn có thể đóng vai "cô hiệu trưởng" đến
gặp lớp, nhân đó mà tham gia góp ý kiến với "cô": "các cháu trong lớp ngoan thế này cơ mà,
nếu cháu nào sai phạm điều gì, cô nên bảo ban nhẹ nhàng thôi", "còn các cháu cần phải học
hành cho tử tế, nghe lời cô giáo, đừng để cô la rầy rất mệt"…Sau đó, cô hiệu trưởng chào các
cháu và đi nơi khác để các cháu lại tiếp tục tự chơi với nhau. Như thế sẽ giúp cho trẻ sau này
vào lớp một không sợ cô giáo nữa vì trẻ nhận ra rằng giữa cô và HS luôn có MQH thân tình.
+ Ngay cả khi các cháu xảy ra xung đột, cô cũng nên để các cháu tự giải quyết với
nhau, chỉ khi nào các cháu ko tự giải quyết được, cô mới nên giúp trẻ cách giải quyết như thế
nào cho thỏa đáng.
+ Nếu khi chơi, tính tự nguyện tự lực của trẻ được phát huy cao độ thì sẽ nảy ra nhiều
sáng kiến trong việc đóng vai, tìm kiếm đồ chơi, tìm vật thay thế…Đó là tiền đề của hoạt động
sáng tạo sau này.
- Cần mở rộng mối quan hệ trong trò chơi ĐVTCĐ
Ở trẻ MG nhỡ các MQH giữa các vai trong trò chơi đã trở nên bền vững hơn. Điều này đôi
khi dẫn đến sự trở ngại cho việc mở rộng các MQH, vì trẻ dễ theo thói quen, ngày nào cũng
14


chơi như nhau, có khi hàng tháng nhưng MQH của trẻ trong khi chơi vẫn không được mở rộng
do đó trò chơi không thể phát triển được.
+ Cần phải hướng dẫn trẻ mở rộng chủ đề chơi (mở rộng nội dung chơi trong chủ đề). VD như
trò chơi chủ đề "gia đình" không phải lúc nào cũng chỉ có mẹ với con mà còn có cả những
người khác nữa, như con đau mẹ phải đưa con vào bệnh viện, ở đó mẹ còn trao đổi với bác sĩ
bệnh tình của con mình. Như vậy là mở rộng thêm được một MQH nữa, cứ như thế các MQh
dần dần được mở rộng.
+ Cần hướng dẫn trẻ liên kết các nhóm chơi theo các chủ đề khác nhau lại, cô gợi ý cho các
nhóm chơi để các cháu thấy cần phải liên kết với các nhóm chơi khác. (cô tạo tình huống để
"mẹ " đưa con đến phòng khám răng để khám, rồi sau đó ra cửa hàng thực phẩm để mua rau,
cứ như thế các MQh ngày càng được mở rộng ra và trở nên đa dạng, đây là điều rất cần cho trẻ
vì càng thiết lập nhiều mối quan hệ giữa các vai chơi thì việc trải nghiệm của trẻ càng phong

chứ không phải ở má, ở trán), ghi đơn như thế nào? Tất cả chuỗi thao tác đó chỉ là mô phỏng
nhưng dáng vẻ bên ngoài cũng cần phải đúng để giống như thật thì trò chơi mới thú vị.
Để phát triển hoàn thiện trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ MG nhỡ
+ Cô cần phải giúp trẻ mở rộng vốn hiểu biết xã hội, đặc biệt là các mối quan hệ người- người
trong xã hội bằng nhiều con đường khác nhau như: Kể chuyện, xem tranh ảnh, truyền hình,
tham quan, giao tiếp với xã hội…vốn hiểu biết của trẻ càng phong phú thì nội dung chơi, chủ
để chơi càng phản ánh đầy đủ hơn cuộc sống XH.
15


c. Đối với trẻ MG lớn
* Đặc điểm trò chơi
- Trẻ đã có kĩ năng tổ chức trò chơi và chơi một cách độc lập, sáng tạo phản ánh sinh động
cuộc sống Xh của người lớn.
- Khả năng phối hợp giữa các nhóm chơi ngày càng tốt hơn làm cho giờ chơi ngày càng sôi nổi
và nhộn nhịp hơn. Trong khi chơi khả năng tự tổ chức, tự đánh giá của trẻ ngày càng tốt.
- Đặc điểm bổi bật nữa là trẻ đã ý thức được chơi chỉ là giả vờ ko phải là thật, nên tính tự do,
tính sáng tạo trong khi chơi ngày càng cao.
* Yêu cầu cần đạt
- Trẻ biết tự tổ chức các trò chơi và biết phối hợp giữa các nhóm chơi với nhau.
- Trẻ biết cùng nhau thảo luận, bàn bạc về chủ đề chơi, về nội dung chơi, phân vai chơi
và cách tổ chức trò chơi.
- Trẻ biết tự đánh giá mình và đánh giá bạn căn cứ vào yêu cầu đưa ra của tập thể.
Hướng dẫn trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ MG lớn
Đối với trẻ MGL, trò chơi ĐVTCĐ đã trở nên quen thuộc, những biện pháp tổ chức như ở trẻ
MGN vẫn phát huy tác dụng, ngoài ra cần chú ý một số điểm sau:
- Cần mở rộng thêm những chủ đề chơi mới để duy trì hứng thú chơi và kích thích trí tưởng
tượng của trẻ.
- Hướng dẫn trẻ chú ý đến luật chơi nhiều hơn. Vì trò chơi có luật là bước phát triển mới của
trò chơi ĐVTCĐ.

3. Hướng dẫn trò chơi xây dựng ở trường mầm non
3.1. Những yêu cầu chung
- Cần chuẩn bị đồ chơi, vật liệu xây dựng đầy đủ và sắp xếp thành một môi trường chơi hấp
dẫn để giúp trẻ nảy sinh ý đồ xây dựng.
- Trò chơi XD là một loại HĐ có sản phẩm, nhưng SP dùng để chơi chứ ko phải để dùng. Vì
vậy, cô cần phải biết duy trì không khí vui chơi cho trẻ. Nếu biến trò chơi XD thành một việc
làm nghiêm túc thì ko còn là chơi nữa.
Muốn vậy: Cô cần tạo điều kiện cho trẻ hoạt động một cách tự do thoải mái (tuy vẫn theo ý đồ
XD). Trước hết cô cần lôi cuốn trẻ tự nguyện đến với trò chơi XD bằng sức hấp dẫn của chính
trò chơi này.
- Cần phát huy tính tự lực và sáng kiến của trẻ. Trò chơi XD vừa là hoạt động mang tính nghệ
thuật vừa là HĐ mang tính kỹ thuật, nó đòi hỏi tính tự lực cao và nhiều sáng kiến.
+ Cô cần phát huy tính tự lực và sáng kiến của trẻ (từ việc hình thành ý đồ XD, lên kế hoạch
XD, tìm vật liệu..). Đặc biệt cần phát huy sáng kiến của trẻ trong việc giải quyết những khó
khăn gặp phải khi chơi (như chưa hình thành được ý đồ XD một cách rõ ràng, lúng túng khi
lên kế hoạch XD, tìm vật liệu phù hợp) .
+ Cô khuyến khích trẻ suy nghĩ tự tìm cách giải quyết và khen ngợi kịp thời những trẻ có sáng
kiến.
- Mở rộng hiểu biết và làm giàu vốn biểu tượng cho trẻ về thế giới xung quanh, đặc biệt là
những công trình xây dựng.
17


- Hướng dẫn trẻ phối hợp với nhau trong khi chơi để tạo thành một sản phẩm xây dựng hoàn
chỉnh, phù hợp với hiện thực.
3.2. Hướng dẫn trò chơi xây dựng cho trẻ mẫu giáo theo độ tuổi
3.2.1. Đối với trẻ MG bé
Đặc điểm:
- Chủ đề XD còn mờ nhạt, đơn giản, chưa ổn định, xoay quanh mấy đối tượng quen thuộc:
Xây cái bàn, cái ghế, ao cá, ngôi nhà.

hình chữ nhật đặt làm tường, sau đó khối gỗ hình tam giác xếp chồng lên làm mái nhà, rồi xây
đường vào, tường bao quanh.
+ Khi trẻ đã có kĩ năng chơi, cô gợi ý để trẻ sử dụng đồ chơi, vật liệu XD khác nhau để xếp
thành các sản phẩm đơn giản, gần gũi với trẻ: cái bàn, cái ghế, ngôi nhà… Sau đó, hướng dẫn
trẻ hợp tác với nhau, liên kết các công trình đơn lẻ thành một chủ đề như Xây nhà cho Thỏ,
xây công viên cho búp bê chơi. Bắt đầu có sự phân công mỗi người mỗi việc, mới đầu tuy có
chuệnh choạc, ko ăn nhập với nhau, nhưng nếu được sự hướng dẫn của cô, thì sự phối hợp ấy
sẽ trở nên nhịp nhàng hơn. Lúc này trẻ mới nhận ra được chơi trong nhóm bạn bè rất thú vị.
+ Cô còn động viên kịp thời khi trẻ biết sử dụng đồ chơi- vật liệu xây dựng để tạo ra công
trình hợp lý nhằm tạo hứng thú chơi ở trẻ. Đồng thời cô cũng cần giúp đỡ những trẻ chưa có kĩ
năng chơi, chưa biết sử dụng vật liệu xây dựng. Ngoài ra cô còn có thể lôi cuốn trẻ khác
"chiêm ngưỡng" công trình của bạn (VD bác Minh Tú xem này! Cái nhà bác Bảo Khanh xây
18


có đẹp không!) Hoặc mời các bạn ở các góc khác đến "tham quan" các "công trình" ở góc xây
dựng.
- Kết thúc chơi: Cô khích lệ trẻ cất dọn đồ chơi, vật liệu XD vào nơi quy định và nhẹ nhàng
chuyển hứng thú của trẻ sang hoạt động khác.
3.2.2.. hướng dẫn trò chơi xây dựng ở trẻ mẫu giáo nhỡ
a) Đặc điểm:
- Khác với trẻ MG bé chỉ mới chú ý đến quá trình chơi, trẻ MG Nhỡ lại chú ý nhiều hơn đến
sản phẩm xây dựng của mình, trẻ biết nhận xét công trình XD đã được chưa, có giống thật
không, vì thế cái thúc đẩy trẻ chơi ko chỉ hành động chơi mà sản phẩm chơi sao cho đẹp, sao
cho như thật.
- Trẻ đã nắm được một số kĩ năng xây dựng cơ bản như xây đường thẳng, đường cong, bậc
thang, và sắp xếp các bộ phận thành một công trình hợp lý. Như trẻ đã biết xây một ngôi nhà
hợp lý có mái ngói, có cửa ra vào, có cửa sổ, đường vào..
- Chủ đề chơi mở rộng, ổn định hơn ( xây trường MN, xây công viên, xây lăng Bác..)với nhiều
chi tiết (bộ phận) phong phú phức tạp hơn ( như trường MN ko chỉ có khu lớp học, hàng rào,

trình có nhiều bộ phận, chi tiết hơn, mang tính tổng hợp hơn.
+ Cô cần động viên kịp thời sản phẩm XD đẹp, hợp lí của trẻ. Đồng thời, gợi mở hướng dẫn
trẻ điều chỉnh công trình sao cho đẹp hơn, hấp dẫn hơn, phù hợp với hiện thực hơn.
19


+ Cô gợi ý sử dụng sản phẩm công trình XD vào các trò chơi khác. VD sau khi xây xong công
viên, nhóm Xd tổ chức văn nghệ "khánh thành" hay mời các cháu ở trường MN (góc đóng vai)
đến tham quan, dạo mát công viên.
- Kết thúc chơi: Cô khích lệ trẻ cất dọn đồ chơi, vật liệu XD vào nơi quy định và nhẹ nhàng
chuyển hứng thú của trẻ sang hoạt động khác.
2.2.3. hướng dẫn trò chơi XD cho trẻ MG lớn
a) Đặc điểm:
- Chủ đề XD của trẻ ngày càng mở rộng do vốn sống của trẻ ngày càng phong phú. Trẻ thường
xây các công trình phức tạp từ trí tưởng tượng sáng tạo của mình. Trẻ XD công viên ngoài
những bộ phận chi tiết như trẻ MG nhỡ: cổng, hàng rào, vườn rau, ao cá. Trẻ MG lớn còn xây
dựng cả "cổng phụ", "quầy bán vé ra vào".
- Công trình của trẻ thường có bố cục hợp lý, hài hòa, sáng tạo hơn, màu sắc đẹp, hấp dẫn hơn
vì nhờ kĩ năng chơi của trẻ đã thành thạo.
- Khả năng hợp tác- phối hợp trong khi chơi của trẻ ngày càng tốt hơn. Trẻ tự bàn bạc với nhau
về ý đồ XD, tự lựa chọn vật liệu, tự phân công công việc cho nhau, tự điều khiển trò chơi của
mình. Vai trò người thủ lĩnh- chỉ huy công trình ngày càng thể hiện rõ. Người thủ lĩnh quán
xuyến, đôn đốc các đội XD hoàn thành công trình. Góc chơi XD trở nên sôi động ko khác nào
công trường đang thi công.
- Trẻ không chỉ biết đánh giá nhận xét công trình của bản thân mà còn biết đánh giá nhận xét
công trình của bạn, của cả nhóm.
+Khi công trình hoàn thành trẻ MG lớn thường chủ động trong việc sử dụng công trình để chơi
một trò chơi khác như tổ chức tham quan du lịch công viên, tổ chức văn nghệ làm lễ khánh
thành…
b) Hướng dẫn trẻ MG lớn chơi XD

Để tham gia vào trò chơi này thì trẻ phải cảm thụ được tác phẩm văn học, nắm được cốt
truyện, tính cách nhân vật. Trên cơ sở đó tái hiện lại tính cách nhân vật theo một kịch bản. Trò
chơi này phù hợp với lứa tuổi MG khi vốn sống, vốn ngôn ngữ của trẻ đã khá phát triển.
3.1.2. ý nghĩa của trò chơi đóng kịch đối với trẻ MN
- Trò chơi ĐK là một trong những con đường giúp trẻ tiếp nhận tác phẩm văn học có
hiệu quả nhất.
+ Vì trẻ ko chỉ nghe đọc, nghe kể, phân tích về tác phẩm, về tính cách các nhân vật
trong tác phẩm mà còn được trải nghiệm, được hóa thân vào nhân vật, qua đó trẻ cảm nhận
một cách sâu sắc tác phẩm.
- Khi tham gia trò chơi ĐK, trẻ được nhập vai và trải nghiệm đời sống tình cảm của các
vai, giúp trẻ hiểu được chân, thiện, mĩ. Từ đó bồi dưỡng tình cảm hướng thiện, yêu cái thiện,
khinh ghét cái ác và giáo dục lòng nhân ái cho trẻ.
- Khi chơi, trẻ nhập vai và phản ánh tính cách của nhân vật bằng lời nói, cử chỉ, điệu
bộ…qua đó ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ nghệ thuật của trẻ nói riêng được phát triển; hình
thành ở trẻ tâm hồn nghệ sĩ, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần cho trẻ.
- Suốt trong quá trình chơi, đòi hỏi trẻ phải huy động tất cả các chức năng TL như ngôn
ngữ, trí nhớ, óc tưởng tượng, tư duy, xúc cảm… để thể hiện tính cách nhân vật, do vậy mà các
chức năng TL đó phát triển.
3.2. Đặc điểm của trò chơi đóng kịch
- Là loại trò chơi có chủ đề, vai chơi, nội dung chơi nhưng được xác định trước trong tác phẩm
văn học (không phải do trẻ tự nghĩ ra).
- Tính sáng tạo của trẻ được thể hiện ở cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, lời nói làm nổi bật tính cách
nhân vật của tác phẩm văn học chứ ko làm sai lệch tính cách nhân vật ( nhân vật tốt, đáng yêu
thì trở nên đáng yêu hơn, nhận vật xấu, đáng ghét thì trở nên xấu xa, đáng ghét hơn).
- Là loại trò chơi mang tính nghệ thuật. Tính nghệ thuật và tính chất chơi là hai yếu tố kết hợp
chặt chẽ với nhau trong nội dung chơi cũng như quá trình tổ chức chơi.
+ yếu tố nghệ thuật thể hiện:
Trò chơi đóng kịch bao giờ cũng có kịch bản (kịch bản chuyển thể có hấp dẫn hay ko, có làm
nổi bật tính cách nhân vật hay k, có phù hợp với khả năng của trẻ hay ko..). Vì vậy việc chuẩn
bị kịch bản có ý nghĩa quan trọng khi tổ chức trò chơi đóng kịch.

Trò chơi Đk của trẻ MG chỉ là mô phỏng lại nghệ thuật kịch chứ ko phải là đóng kịch thực sự.
Do vậy, trong trò chơi này cả diễn viên và khán giả đều thuộc lời nói, hành động của các nhân
vật và có thể hoán đổi vị trí cho nhau (giữa khán giả và diễn viên)
3.3. Các bước tiến hành tổ chức trò chơi đóng kịch
3.3.1. Chuẩn bị
Về kịch bản: Cần lựa chọn tác phẩm có nội dung rõ ràng để biên soạn hay chuyển thể thành
những kịch bản ngắn, có cốt truyện phát triển mạch lạc, với những nhân vật giàu màu sắc thẫm
mĩ về tính cách hành động và ngôn ngữ.
- Đối với tác phẩm dài cần lược bỏ những gì ko cần thiết hoặc chỉ chọn lựa những trích đoạn
có ý nghĩa nhất chuyển thể thành kịch bản cho trẻ tập đóng vai.
. Cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học và kịch bản
- Kể hoặc đọc cho trẻ nghe toàn bộ tác phẩm VH bằng nghệ thuật đọc và kể diễn cảm (có thể
nhiều lần).
- Trò chuyện với trẻ về tác phẩm văn học, gợi mở giúp trẻ cảm thụ được tác phẩm: nhớ cốt
truyện, tên nhân vật, nhớ hành động của nhân vật, nhận ra tính cách của nhân vật, biết đánh giá
hành động của nhân vật (ở mức tốt, xấu, đúng, sai..).
- Đọc kịch bản cho trẻ nghe, giúp trẻ phân biệt được sắc thái giọng điệu, lời nói của các nhân
vật khác nhau, qua đó mà khắc họa rõ thêm tính cách của nhân vật.
Bên cạnh đó còn chọn các bài hát, dựng các điệu múa cho phù hợp với kịch bản
. Phân vai và luyện tập đóng vai
- Phân vai cho từng trẻ (có thể cho nhiều trẻ đóng cùng một vai, số lượng tùy thuộc vào số trẻ
trong nhóm), cô trò chuyện với trẻ giúp trẻ hiểu sâu hơn nhân vật mình sẽ đóng.
- Giúp trẻ ghi nhớ ngôn ngữ ( theo kịch bản). Trước hết cần nhắc lại cho trẻ nghe toàn bộ kịch
bản, sau đó hướng dẫn riêng cho mỗi trẻ trong nhóm (một lớp có thể chia nhiều nhóm, mỗi
nhóm gồm có đủ các vai của nhân vật trong kịch bản) về lời nói, cử chỉ, điệu bộ của vai mình
đóng, nên luân chuyển vai đóng cho trẻ.
- Lần lượt cho từng nhóm tập kết hợp lời nói và cử chỉ điệu bộ của vai mình đóng với những
vai khác. Khi trẻ tập nhập vai thì cô giáo vừa là người "nhắc", vừa là người dẫn chuyện, vừa là
người đạo diễn.
. Sân khấu, đạo cụ, hóa trang

chơi này lại mang tính chất nghệ thuật, nên cần phải tổ chức chu đáo, cẩn thận.
Tổ chức buổi diễn là tạo dựng một mảng cuộc sống trong sinh hoạt văn hóa, đó là xem kịch và
diễn kịch. Đây cũng là mô phỏng cuộc sống người lớn vào trò chơi chứ ko phải là diễn kịch
thực sự, vì thế tổ chức diễn kịch gồm nhiều mặt cho tất cả mọi trẻ đều tham gia.
. Tổ chức sân khấu và phòng xem biểu diễn
Buổi diễn vừa là một buổi chơi, vừa là một buổi sinh hoạt văn hóa đặc biệt của trẻ. Do đó cần
phải tổ chức một không gian hợp lý, thuận lợi cho người diễn lẫn người xem, bao gồm cả việc
thiết kế sân khấu, lẫn việc sắp xếp chỗ ngồi. Việc này chủ yếu người lớn làm, có thể thêm một
số cháu khỏe mạnh cùng tham gia.
Chọn nhóm biểu diễn của đoàn kịch
Buổi đầu thường chọn các cháu đóng vai đạt nhất, sau đó cần luân phiên các nhóm khác vào
các buổi tiếp theo. Có thể đặt tên cho đoàn kịch để gây hào hứng cho trẻ hơn như "Đoàn kịch
Hoa Sen"…Cần phải chọn người giới thiệu- thường là người dẫn chuyện (cô hay trẻ)
Phân công thành phần còn lại theo chức năng
- Trang trí sân khấu.
- Sắp xếp ghế cho khán giả ngồi.
- Bán vé và kiểm soát vé.
- Giữ trật tự và hướng dẫn người xem ngồi đúng chỗ.
- Thành phần đông đảo nhất là người xem. Các cháu có thể đóng vai mẹ dẫn con đi xem.
Người xem phải làm đúng một số thủ tục như mua vé, đưa cho người soát vé, theo người
hướng dẫn ngồi đúng chỗ, trong khi xem ko được nói chuyện ồn ào.
Tổ chức giao lưu giữa người diễn và người xem
Xem kịch là một hoạt động văn hóa. Kết quả buổi biểu diễn tốt hay ko là tùy thuộc về hai phía:
Sự cố gắng của diễn viên trong vai diễn và sự hưởng ứng của người xem bằng những lời tán
thưởng, khen ngợi; bằng những tràng vỗ tay nồng nhiệt hay những đóa hoa trao tặng cho diễn
viên. Vì vậy cần GD cho trẻ thái độ trân trọng đối với người diễn và vở diễn. Hơn nữa còn cần
tạo ra một mối giao lưu nồng thắm giữa người diễn và người xem. Đôi khi người xem còn hát
múa cùng người diễn làm cho không khí kịch trở nên sôi động. Nhờ đó thu hẹp khoảng cách
giữa người diễn và người xem, tạo sự đồng cảm giữa hai bên. Trẻ thêm hào hứng và sự tiếp
23

Cô theo dõi quá trình chơi của trẻ để kịp thời sửa sai hoặc khen ngợi, giúp trẻ biết cách
chơi.
c) Đối với trẻ MG Lớn
Trẻ lứa tuổi này tham gia tích cực vào trò chơi đóng kịch.
- Trẻ tự tổ chức trò chơi, trẻ vừa là người điều khiển, vừa là khán giả trong buổi chơi.
- Cô theo dõi quá trình chơi của trẻ, hướng dẫn trẻ chọn chủ đề, phân vai, nhớ lại nọi
dung tác phẩm.
- Cô chỉ đóng vai cố vấn, giúp đỡ trẻ khi cần thiết.
Đối với lứa tuổi này trò chơi ĐK có thể trở thành chủ đề lớn, trung tâm của trò chơi
đóng vai theo chủ đề (Vd chủ đề "nhà hát").
*Thực hành: hướng dẫn trò chơi đóng kịch cho trẻ ở trường MN
4. TRÒ CHƠI HỌC TẬP
4.1. Khái niệm và ý nghĩa của trò chơi học tập đối với trẻ MN
4.1.1. Khái niệm
Trò chơi học tập là loại trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi. Đó là loại
trò chơi đòi hỏi trẻ phải thực hiện một quá trình hoạt động trí tuệ để giải quyết nhiệm vụ học
tập được đặt ra như nhiệm vụ chơi, qua đó mà trí tuệ của trẻ được phát triển.
4.1.2. ý nghĩa của trò chơi học tập đối với trẻ MN
Trò chơi HT là phương tiện, con đường cơ bản quan trọng nhất để phát triển trí tuệ cho trẻ
MN.
24


+ Vì nó phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ MN trong việc rèn luyện sự nhạy bén
của các giác quan, sự khéo léo linh hoạt trong hành động và phát triển óc quan sát, khả năng
định hướng trong không gian, thời gian. Vd khi tổ chức các trò chơi: "Con gì biến mất", "Tai
ai thính", "Chiếc túi kỳ lạ"…Không chỉ rèn luyện sự tinh nhạy của các giác quan mà còn phát
triển óc quan sát, khả năng định hướng khôn gian cho trẻ.
+ Là phương tiện, là con đường cung cấp biểu tượng mới, tri thức mới, củng cố những
biểu tượng, tri thức đã có cho trẻ.

=> Học mà chơi, chơi mà học là phương thức HT độc đáo của trẻ lứa tuổi MN.
Trò chơi HT có cấu trúc rõ ràng gồm 3 thành phần: nội dung chơi, hành động chơi, luật chơi.
Ba thành phần đó có MQH mật thiết với nhau. Nếu thiếu một trong ba thanh phần đó thì trò
chơi HT ko thể diễn ra.
- Nội dung chơi: Chứa đựng nhiệm vụ nhận thức như: phát triển một vài chức năng TL nào đó
của hoạt động trí tuệ ( Quan sát, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ, chú ý) hay nhận thức một
điều gì mới mẻ, hoặc củng cố biểu tượng mà trẻ đã biết. VD trò chơi "Tai ai thính", rèn luyện
cho trẻ sự tâp trung chú ý, khả năng tri giác nghe; trò chơi " Chiếc túi kỳ lạ" rèn luyện khả
năng tri giác xúc giác, củng cố một số biểu tượng về con vật mà trẻ đã biết.
- Hành động chơi: Là hệ thống các thao tác, chủ yếu là thao tác trí óc nhằm thực hiện nhiệm vụ
nhận thức mà trò chơi đặt ra. Hệ thống thao tác trong hành động chơi là do nhiệm vụ chơi quy
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status