TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC - MẦM NON
========= o0o ========
GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ)
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẦM NON
(Dành cho Cao đẳng giáo dục mầm non hệ chính quy)
Tác giả: Lê Thị Vân
Năm 2017
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC.......................................................................................................................1
LỜI NÓI ĐẦU.................................................................................................................5
Chương 1.........................................................................................................................6
HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON .................................6
1.1. KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI.............................................................6
1.1.1. Vui chơi là hoạt động đặc trưng của trẻ ở trường mầm non ................................ 6
1.1.2. Đặc điểm hoạt động vui chơi của trẻ em lứa tuổi mầm non ................................ 7
1.2. NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI ...................11
1.2.1. Sự xuất hiện của trò chơi ..................................................................................... 11
1.2.2. Sự phát triển của trò chơi ..................................................................................... 12
1.2.3. Bản chất của hoạt động vui chơi ......................................................................... 14
1.3. Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA TRẺ EM ...........................................................................................................14
1.3.1. Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em ......................................... 14
3.2.2. Đặc điểm ............................................................................................................... 36
3.2.3. Phương pháp tổ chức ............................................................................................ 37
3.3. PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH ..........................38
3.3.1. Khái niệm .............................................................................................................. 38
3.3.2. Đặc điểm ............................................................................................................... 39
3.3.3. Phương pháp tổ chức ............................................................................................ 40
3.4. PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ (TRÒ CHƠI HỌC
TẬP)...........................................................................................................................50
3.4.1. Khái niệm .............................................................................................................. 50
3.4.2. Đặc điểm............................................................................................................... 50
3.4.3. Phương pháp tổ chức ............................................................................................ 51
3.5. PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG ............................52
3.5.1. Khái niệm .............................................................................................................. 52
3.5.2. Đặc điểm ............................................................................................................... 52
3.5.3. Phương pháp tổ chức ............................................................................................ 52
3.6. PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN TRÒ CHƠI DÂN GIAN ..............................55
3.6.1. Khái niệm
3.6.2. Đặc điểm của trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam .............................................. 55
3.6.3. Hướng dẫn trò chơi dân gian cho trẻ ở trường mầm non ................................... 55
3.7. TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ ........................................................................................58
3.7.1. Khái niệm
3.7.2. Đặc điểm và ý nghĩa của trò chơi điện tử ........................................................... 58
3.7.3. Hướng dẫn trò chơi điện tử cho trẻ ở trường mầm non ..................................... 58
3.9. ĐỒ CHƠI............................................................................................................59
3.9.1. Khái niệm .............................................................................................................. 59
3.9.2. Ý nghĩa của đồ chơi.............................................................................................. 59
3.9.3. Các loại đồ chơi .................................................................................................... 60
Chương 4.......................................................................................................................64
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI TRONG CHẾ ĐỘ SINH HOẠT...................64
CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON ...........................................................................64
4
LỜI NÓI ĐẦU
Chơi là hoạt động rất tự nhiên trong cuộc sống của mọi người, nó đặc
biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em. Không chơi, trẻ không thể phát
triển, không chơi đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không phải là đang sống. Đó là một
thực tế mang tính quy luật.
Chúng ta không chỉ biết lo lắng đến kết quả học tập của trẻ hoặc chỉ xem
trẻ có hoàn thành các công việc được giao không mà rất cần phải chú ý xem
trong lúc nhàn rỗi trẻ làm gì?
Thực ra nhân cách của trẻ không chỉ được hình thành trong học tập,
trong lao động mà còn được hình thành trong hoạt động vui chơi. Đối với trẻ em
thì vui chơi lại là một hoạt động tích cực nhất, nhiều khi còn ảnh hưởng mạnh
mẽ đến sự hình thành nhân cách hơn cả việc học tập hay lao động. Nhưng
không phải bất cứ trò chơi nào và chơi như thế nào đều có tác động tích cực
đến trẻ em.
Muốn cho hoạt động vui chơi thực sự phát huy được tác dụng tích cực của
nó người lớn cần giúp trẻ lựa chọn những trò chơi tốt, lại phải biết cách hướng
dẫn tổ chức hoạt động chơi một cách khoa học giúp cho trẻ chơi vừa được hào
hứng, vui thích lại vừa bổ ích cho sự phát triển của chúng.
Giáo trình “Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ” giúp cho sinh viên có
được sự hiểu biết khoa học về vui chơi và cách hướng dẫn tổ chức hoạt động vui
chơi cho trẻ. Tài liệu cũng giới thiệu cho sinh viên một số trò chơi thông thường
từ những trò chơi phát triển thể lực đến những trò chơi phát triển trí tuệ, đạo
đức, thẩm mỹ, từ những trò chơi cho một người hay cho nhóm ít người đến
những trò chơi cho đông đảo trẻ em mang tính tập thể…
Tài liệu được biên soạn lần đầu, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
sót. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp và xây dựng của bạn đọc.
của con người. Trò chơi của trẻ em không có nguồn gốc sinh học mà có nguồn
gốc xã hội, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua con đường
giáo dục.
Chơi là một hoạt động vô tư, người chơi không chủ tâm nhằm vào một lợi
ích thiết thực nào cả, trong khi chơi các mối quan hệ của con người với tự nhiên
và với xã hội được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một trạng thái
tinh thần vui vẻ, thoải mái, dễ chịu. Do đó, chơi vẫn thường được gọi là vui
chơi.
Hoạt động vui chơi là một trong các loại hình hoạt động của trẻ ở trường
mầm non, là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo được người lớn tổ chức, hướng
6
dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời nhằm
giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động vui chơi của trẻ em lứa tuổi mầm non
Chơi là cuộc sống của trẻ em lứa tuổi mầm non. Ngay từ tuổi hài nhi,
những hành động của trẻ với đồ vật dù chỉ là vu vơ, tình cờ nhưng mang lại
niềm vui, sự ngạc nhiên và khiến trẻ quan tâm một cách hứng thú. Trẻ túm được
sợi dây, giật giật thấy đồ chơi mẹ treo trên cao xoay chuyển; bóp con chút chít
thấy phát ra tiếng kêu...trẻ thích thú lặp lại mãi. Bước vào tuổi ấu nhi, mối quan
hệ của trẻ với thế giới xung quanh thay đổi đáng kể. Trẻ hành động với đồ vật
mang tính chủ tâm, tích cực hơn. Hoạt động với đồ vật không chỉ thỏa mãn trí tò
mò của trẻ mà còn mang lại niềm vui vô tận cho trẻ. Trẻ say sưa lắp vào tháo ra;
xây rồi lại phá, phá rồi lại xây mãi không biế chán; trẻ nói chuyện với đồ vật
như nói chuyện với người bạn, người thân của mình. Lúc này đồ chơi trở thành
một phương tiện quan trọng để giáo dục trẻ em. Bước sang tuổi mẫu giáo, vốn
sống của trẻ phong phú hơn, trò chơi trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ. Hoạt
động này không chỉ chiếm nhiều thời gian trong cuộc sống của trẻ mà quan
trọng hơn là nó quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ, tạo nên những cấu trúc
Tính tự do của hoạt động vui chơi còn được thể hiện ở chỗ hành động
chơi hoàn toàn xuất phát từ nguyện vọng và hứng thú cá nhân, chứ không thể từ
một sự áp đặt nào ở phía bên ngoài. Đứa trẻ chơi là vì thích chứ không thể do ai
ép buộc được. Trong trò chơi đứa trẻ có quyền được chơi và có quyền được thôi
chơi khi đã chán; có quyền lựa chọn trò chơi, bạn chơi. Người lớn khi tổ chức
cho đứa trẻ chơi chỉ có thể hướng dẫn, gợi ý chứ không thể bắt buộc. Chơi mà bị
bắt buộc, bị cưỡng bức thì không còn là chơi nữa.
Ngay cả trong trò chơi có luật là loại trò chơi mà mọi hành động chơi của
người chơi đều bị buộc phải tuân thủ theo luật của trò chơi, thì đứa trẻ vẫn có
quyền tự do. Bởi vì một khi đứa trẻ đã tự nguyện tham gia vào trò chơi cũng tức
là nó đã tự nguyện tuân thủ luật chơi. Một hành động tự nguyện như vậy chính
là hành động tự do. Tính tự do, tự nguyện đã giúp trẻ có được sự thoải mái, vui
vẻ trong khi chơi. Đây chính là điều kiện để trẻ hăng say tìm tòi, khám phá và
làm nảy sinh nhiều sáng kiến.
- Hoạt động vui chơi là hoạt động mang màu sắc cảm xúc chân thực
mạnh mẽ
Đứa trẻ tham gia vào cuộc chơi với tất cả sự say mê và lòng nhiệt tình vốn
có của nó. Trò chơi tác động mạnh mẽ và toàn diện đến trẻ chính là vì nó thâm
nhập dễ dàng hơn cả vào thế giới tình cảm của trẻ, mà tình cảm đối với trẻ là
động cơ mạnh mẽ nhất. Dẫu biết rằng trong trò chơi, mọi cái đều mang ý nghĩa
tưởng tượng, đều là không có thật (chỉ là giả vờ nhưng mang tính chất thật)
nhưng tình cảm mà các em biểu hiện trong đó là tình cảm chân thực, hồn nhiên
và thẳng thắn không mang tính giả tạo. Khi mô phỏng cuộc sống con người vào
trò chơi, đứa trẻ lúc thì vui vẻ, lúc thì buồn rầu, điều đó là tuỳ thuộc vào hoàn
cảnh được tạo nên bởi trí tưởng tượng mà trí tưởng tượng của trẻ trong khi chơi
bao giờ cũng hoạt động rất tích cực tạo ra nhiều hoàn cảnh chơi, nhờ vậy mà xúc
cảm của trẻ được biểu hiện với nhiều sắc thái muôn màu muôn vẻ.
8
say mê đến tận cùng với bao ước mơ ngộ nghĩnh và thú vị. Chơi mà giống y như
thật thì không còn là trò chơi nữa.
Sự mô phỏng hay nói chính xác hơn là tính tượng trưng là đặc tính của trò
chơi trẻ em, nhờ đó trí tưởng tượng của chúng được nảy sinh và phát triển thuận
9
lợi. Như vậy, trò chơi đã làm nảy sinh trí tưởng tượng của trẻ em, kích thích cho
trí tưởng tượng phát triển.
Tính chất tượng trưng của trò chơi được thể hiện rõ ở chỗ khi chơi trẻ thử
ướm mình vào một nhân vật nào đó trong cuộc sống và hành động ngụ ý vào
những vật thay thế. Tất cả những cái đó đều chỉ là giả bộ, là kí hiệu, nhưng lại
mang ý nghĩa rất thực, vì nó đã mô phỏng được những điều có thực đã xảy ra
như vậy trong cuộc sống. Từ đó, ở trẻ em đã ra đời một chức năng tâm lý mới
chức năng kí hiệu - tượng trưng. Sự ra đời của chức năng này chứng tỏ trẻ đã
bước sang một bước mới của việc nhận thức thế giới, nhờ một loại hình đặc
trưng của con người, đó là nhận thức thế giới thông qua các hệ thống kí hiệu.
- Hoạt động vui chơi của trẻ em mang tính sáng tạo
Tính sáng tạo trong hoạt động vui chơi của trẻ thể hiện rất đa dạng: Trong
việc lựa chọn trong việc lựa chọn trò chơi, đồ chơi, nội dung chơi, hoàn cảnh
chơi, cách chơi...Dù là mô phỏng, bắt chước cuộc sống, hoạt động nghề nghiệp
của người lớn, song trẻ không bắt chước một cách nguyên xi mà trẻ hành động,
tỏ thái độ...theo hứng thú, ý muốn và cảm nhận của mình. Tính sáng tạo trong
hoạt động vui chơi còn được thể hiện rất rõ trong việc sử dụng vật thay thế khi
chơi. Cùng một mẫu gỗ, trong trò chơi này, trẻ tưởng tượng là cái giường cho
búp bê nằm, trong trò chơi khác là cái mâm ăn cơm; một chiếc ghế khi là đầu
tàu hỏa, khi thì là nhà của búp bê, khi thì là tàu vượt sóng đại dương...
- Hoạt động vui chơi của trẻ em là một hoạt động độc lập và tự điều
khiển
xoay quanh cuộc sống hàng ngày của trẻ: trò chơi bế em, trò chơi bác sĩ...với
những hành động ít ỏi: cho búp bê ăn, cho búp bê ngủ, rửa mặt cho búp bê (trò
chơi mẹ con); khám bệnh cho búp bê, tiêm cho búp bê (trò chơi bác sĩ), nếu
không có sự hướng dẫn của người lớn trẻ thường chơi một mình (như hoạt động
với đồ vật của trẻ ấu nhi). Song đến tuổi mẫu giáo nhỡ, mẫu giáo lớn, chủ đề
chơi, nội dung chơi, hành động chơi phong phú hơn, đa dạng hơn. Trẻ đã biết
phối hợp giữa các bạn chơi trong nhóm chơi, giữa các nhóm chơi với nhau làm
cho giờ chơi trở nên sôi nổi hơn, hứng thú hơn.
1.2. NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI
1.2.1. Sự xuất hiện của trò chơi
Buổi đầu của xã hội loài người, việc sinh sống của người thượng cổ còn
hết sức đơn giản, chỉ là hái lượm, đào bới bằng những công cụ hết sức đơn giản,
thô sơ. Trẻ em sinh ra lẫm chẫm biết đi là phải theo cha mẹ kiếm ăn. Phương
thức kiếm ăn của người lớn và trẻ em lúc này không khác biệt nhau lắm, chỉ
khác về kích cỡ, về lượng chứ không phải về chất. Bởi vì hoạt động của người
lớn không cao hơn hẳn trẻ em. Do đó, tuy còn bé nhưng trẻ em đã biết kiếm ăn
thực sự, khiến cho sự khác biết giữa trẻ em và người lớn coi như không đáng kể.
Lúc này hoạt động vui chơi chưa xuất hiện, do đó tuổi thơ cũng chưa xuất hiện ở
xã hội loài người.
Xã hội càng văn minh, công cụ lao động càng trở nên phức tạp đòi hỏi
con người cần có một trình độ hiểu biết và nắm một số kĩ năng nhất định mới
11
thực hiện các thao tác sử dụng công cụ lao động. Do vậy, lúc này đứa trẻ chưa
thể lao động như người lớn, nó cần được tập dượt, làm thử trên những đồ vật
thay thế cho công cụ sản xuất, tức là đồ chơi. Đó chính là đứa trẻ đang chơi chứ
không phải là làm việc thực sự. Hoạt động vui chơi xuất hiện, điều đó cũng có
nghĩa là con người đã bắt đầu có tuổi thơi.
12
ngày gần gũi như: cho em ăn, ru em ngủ, đi chợ, nấu ăn… được gọi là trò chơi
mô phỏng (có ở trẻ 2 - 3 tuổi).
Sau đó, trẻ mô phỏng cả một mảng cuộc sống của người lớn trong xã hội
với những mối quan hệ và công việc của họ. Lúc này mỗi đứa trẻ không thể chơi
riêng lẻ một mình được mà phải chơi theo nhóm để có thể phân nhau đóng vai
các vai như người lớn trong xã hội. Chơi như thế gọi là chơi đóng vai theo chủ
đề (có ở trẻ lên 3). Đây là trò chơi mang đầy đủ đặc tính của hoạt động ở dạng
chính thức và là dạng hoạt động chủ đạo của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo.
Bên cạnh trò chơi đóng vai theo chủ đề, các dạng trò chơi khác lần lượt
xuất hiện như trò chơi xây dựng, trò chơi đóng kịch, nhiều nhất là trò chơi có
luật.
Ở trò chơi đóng vai theo chủ đề, vai chơi là yếu tố chủ yếu, yếu tố nổi lên
hàng đầu, còn luật chơi là yếu tố phụ, bị chìm xuống hàng thứ yếu. Bởi khi chơi
trò chơi này trẻ chỉ chú ý đến vai mình đóng để hành động sao cho đúng với
nhân vật mà mình thể hiện, đặc biệt là trẻ cố bắt chước cho giống người lớn
trong giao tiếp và ứng xử với các vai khác. Nhưng ở trò chơi có luật thì người
chơi lại chỉ chú ý đến luật chơi để khỏi phải phạm luật. Ở đây luật chơi lại là yếu
tố chủ yếu, nổi lên hàng đầu còn vai chơi thì chìm xuống thứ yếu.
Nắm được luật chơi đối với trẻ nhỏ không phải là một việc dễ dàng mà là
cả một quá trình hình thành trong hoạt động vui chơi. Nắm luật chơi tức là hiểu
được những điều quy định mà khi chơi phải biết tuân thủ quy định đó thì đứa trẻ
3 tuổi khó có thể nắm được luật chơi. Ví dụ: khi trẻ chơi “Trốn tìm” với mẹ, đứa
bé lên 3 tuổi còn một đứa lên 6. Trong khi hai anh em đang nấp sau cánh cửa thì
người mẹ đi tìm, nhưng một lúc chưa thấy mẹ tìm thấy. Cậu bé sốt ruột liền
nhảy ra ngoài kêu toáng lên “Mẹ ơi! con đây”, trong khi đó đứa anh thì kéo em
vào và nói “trốn ngay, em im lặng đi…”.
theo chủ đề là loại trò chơi mô phỏng lại đời sống xã hội của người lớn. Trong
đó, các nhân vật là con người cụ thể, có tư tưởng, tình cảm, đạo đức...phản ánh
lối sống, nghề nghiệp của một xã hội nhất định. Qua trò chơi của trẻ em ta thấy
dấu vết của xã hội - thời đại.
Như vậy, các trò chơi của trẻ em ở các dân tộc và ở mọi thời đaị đều
mang trong mình dấu ấn sâu sắc về sự phát triển của xã hội. Khẳng định bản
chất xã hội trò chơi trẻ em cũng là khẳng định tác động tích cực của người lớn
đến trò chơi trẻ em. Trong khi cần để trẻ em chơi một cách tự nhiên, chủ động,
người lớn cũng cần hướng dẫn trẻ em chơi một cách có mục đích, có phương
hướng và có kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục của hoạt động chơi.
1.3. Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
TRẺ EM
1.3.1. Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em
Chơi là hoạt động đặc trưng của trẻ em lứa tuổi mầm non. Mỗi lứa tuổi,
nội dung chơi, tính chất chơi khác nhau. Thoạt đầu, chơi chỉ mang tính ngẫu
nhiên, tình cờ, dần dần mang tính chủ tâm hơn, đến tuổi mẫu giáo, chơi trở
thành hoạt động chủ đạo, ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển mọi mặt trong đời
14
sống tâm lý nhân cách của trẻ. Chính vì lẽ đó, các nhà giáo dục sử dụng trò chơi
như là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ em.
Trẻ 3 tuổi bắt đầu có ý thức về mình, bắt đầu chú ý và bắt chước người
lớn về hành vi, cách ứng xử, nói năng, ăn mặc...Trẻ muốn khẳng định mình bằng
cách “Tập làm người lớn”, nhưng thực tế, trẻ chưa đủ sức lực và tri thức để làm
những công việc của người lớn. Vì thế, trẻ ở 3 tuổi diễn ra mâu thuẫn gay gắt
giữa nhu cầu và khả năng của trẻ.
Hoạt động vui chơi, trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề đã giúp trẻ giải
quyết mâu thuẫn trên. Trẻ thể hiện được tính độc lập và tập khẳng định “cái tôi”
động chơi, thao tác chơi, trẻ nhận ra được một vài thuộc tính, mối quan hệ của
các sự vật hiện tượng.
Ví dụ, trẻ hình dung ra được thế nào là to hơn, nhỏ hơn; thế nào là cao
hơn, thấp hơn; thế nào là gần hơn, xa hơn...Chính nhờ phát hiện ra những tri
thức mới đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính tích cực nhận thức của trẻ, thôi
thúc trẻ tham gia một cách chủ động, sáng tạo trong khi chơi.
Chơi là phương tiện phát triển các quá trình tâm lý nhận thức của trẻ.
Chơi không chỉ là phương tiện củng cố, mở rộng, chính xác hóa biểu tượng đã
có; cung cấp những tri thức mới cho trẻ mà còn là phương tiện phát triển các quá
trình tâm lý nhận thức cho trẻ như: cảm giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng và
ngôn ngữ.
Khi tham gia vào trò chơi, các chuẩn cảm giác về hình dạng, kích thước,
màu sắc của trẻ được củng cố và chính xác hóa, nhờ đó trẻ dễ dàng thực hiện
hành động chơi, nội dung chơi (xếp được ngôi nhà hợp lí; phân loại đồ vật theo
màu sắc,...). Đặc biệt là khi tham gia vào trò chơi, có tính chủ định trong quá
trình tri giác, chú ý, trí nhớ của trẻ được hình thành.
Ví dụ, trẻ phải chú ý lắng nghe xem tiếng kêu đó là tiếng của con gì (trong
trò chơi “tai ai tinh”) để giải quyết nhiệm vụ chơi.
Khi Tham gia vào trò chơi, trí tưởng tượng của trẻ được phát triển mạnh
mẽ. Trong quá trình chơi, đứa trẻ học thay thế đề vật này bằng đồ vật khác; nhận
đóng vai này , vai kia; nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng;...để thực hiện hành
động chơi, nội dung chơi. Đó là cơ sở quan trọng để nảy sinh và phát triển trí
tưởng tượng của trẻ. Thật vây, trong khi chơi (đặc biệt là trò chơi đóng vai theo
chủ đề) trẻ có thể làm bất cứ việc gì (nào là lái xe, chữa bênh, bán hàng, cô
giáo...), có bất cứ cái gì mình muốn (muốn có ngựa thì dùng chiếc gậy hay dùng
tàu lá cau, muốn có ô tô, đầu tàu hỏa thì chỉ cần một cái ghế hai tay bám vào vai
ghế là có...); trẻ hình dung sàn nhà lớp học khi thì là con đường từ đồng về làng
mà con ngựa đang “nhông nhông nhông ngựa ông đã về” , khi thì là đường tàu
hỏa “tu tu tu, xình xình xịch”; khi thì là sân bay “ù ù ù”. Khi đang tham gia vào
trò chơi, trẻ suy nghĩ về hành động chơi, thao tác chơi (làm bác sĩ thì phải làm
Thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ biết đối xử nhẹ nhàng, yêu
thương, che chở các em nhỏ hơn, biết nhăm sóc, lo lắng cho người thân khi
người thân bị ốm đau...Nghĩa là các quy tắc ứng xử “bên ngoài” do động cơ chơi
đã trở thành các quy tắc ứng xử “bên trong” của trẻ như cảm thông, chia sẻ,
quan tâm, thật thà, dũng cảm, lòng nhân ái...
Có thể nói rằng, vui chơi là mắt xích nối liền trẻ với quy tắc chuẩn mực
đạo đức xã hội, nó giúp cho quá trình hình thành các phẩm chất đạo đức diễn ra
tự nhiên, hiệu quả và bền vững hơn mặc dù chơi chỉ là giả vờ nhưng hiệu giáo
dục lại rất thật, rất lớn lao.
1.3.2.3.Hoạt động vui chơi là phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ em.
Chơi mang lại niềm vui cho trẻ, làm cho tinh thần của trẻ được sảng khoái
– một yếu tố quan trọng để phát triển thể chất cho trẻ, vì tinh thần sảng khoái,
thỏa mãn sẽ làm cho thể lực được phát triển tốt hơn.
17
Khi tham gia vào trò chơi, các cơ quan trong cơ thể được vận động một
cách tích cực, thúc đẩy sự trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoàn
máu...góp phần tăng cường sức khỏe cho trẻ
Các trò chơi vận động phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi giúp đẩy
mạnh trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoàn máu, giúp trẻ phát triển thể
chất và hoàn thiện các vận động cơ bản: đi, chạy, nhảy, leo, trèo, ném, bắt và
góp phần rèn luyện tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền và sự
khéo léo nhưng cần có sự hướng dẫn của giáo viên.
1.3.2.4.Hoạt động vui chơi là phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em.
Chơi là hoạt động phản ánh cuộc sống của xã hội. Khi tham gia trò chơi,
trẻ cảm nhận được cái đẹp ở sự phong phú, đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích
thước, âm thanh của đồ vật, đồ chơi. Đặc biệt trong khi chơi, nhất là trò chơi
đóng vai theo chủ đề, trẻ cảm nhận được vẻ đẹp trong hành vi, trong giao tiếp,
mặt trong các hoạt động khác của trẻ, như hoạt động học tập, hoạt động lao
động, trong giao tiếp và sinh hoạt hằng ngày của trẻ. Do vậy, việc tổ chức cho
trẻ chơi vừa là nhiệm vụ, vừa là con đường giáo dục có hiệu quả cho trẻ em.
Chơi là phương thức thỏa mãn nhu cầu được sống và được làm việc như
người lớn. Trong một giờ chơi phản ánh một mảng của hiện thực đời sống xã
hội: bệnh viện, trường học, cửa hàng bách hóa, công viên...mỗi trẻ có vị trí nhất
định trong nhóm chơi. Trong khi chơi trẻ không chỉ phối hợp với nhau trong
nhóm chơi mà còn phối hợp với nhau giữa các nhóm chơi, sự phối hợp giữa trẻ
với nhau như vậy đã hình thành một “xã hội trẻ em” trong khi chơi. Trong xã
hội ấy, trẻ thỏa sức hành động, được sống trong xã hội của người lớn thu nhỏ,
được làm việc, được nói năng, được xưng hô như người lớn...vì thế trẻ luôn là
chủ thể tích cực. Ở đây, trẻ tìm thấy vị trí của mình trong nhóm bạn bè và cũng
ở đây, trẻ cảm thấy mình được tự do thoải mái và tự tin vào bản thân mình hơn.
Chính vì thế có thể nói “xã hội trẻ em” là hình thức đầu tiên giúp trẻ được sống
và làm việc cùng nhau, được sống cuộc sống của người lớn.
Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ. Do
đó, người lớn cầntổ chức tốt các hoạt động của “xã hội trẻ em”, tạo ra môi
trường lành mạnh, có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với trẻ. Muốn vậy, người
lớn phải chú ý tổ chức cho trẻ được chơi thoải mái, tạo môi trường, tình huống
cho trẻ phối hợp – liên kết với nhau trong các nhóm chơi và làm cho hoạt động
chơi của trẻ thực sự là một hình thức tổ chức đời sống của trẻ ở trường mầm
non.
1.4. PHÂN LOẠI TRÒ CHƠI CỦA TRẺ EM
1.4.1. Phân loại trò chơi theo chức năng giáo dục và phát triển
Đại diện cho kiểu phân loại này là hai nhà giáo dục học Ph. Phriben (Đức)
và MOoontexori (Ý) các tác giẻ chia trò chơi thành ba nhóm:
Nhóm 1: Gồm các trò chơi nhằm rèn luyện và phát triển các giác quan cho
trẻ.
Nhóm 2: Gồm các trò chơi vận động nhằm phát triển và tập luyện vận
Ưu điểm: Ông đã phân loại trò chơi theo sự phát triển của đứa trẻ. Nhóm
trò chơi luyện tập xuất hiện ngay từ những tháng đầu tiên của cuộc sống trẻ.
Những trò chơi luyện tập này có tác dụng giáo dục và phát triển khả năng cảm
nhận và vận động của trẻ.
Hạn chế: Ông phủ nhận tính bắt chước của trẻ và cho rằng, trò chơi “kí
hiệu” là do trẻ tự tưởng tượng ra, tự nghĩ ra trong đầu
Theo ông, các trò chơi có luật xuất hiện ở lứa tuổi học sinh phổ thông (7 –
12 tuổi). Song trong thực tế, nhiều trò chơi có luật đã được trẻ chơi nhiều ngay
từ lứa tuổi mầm non.
Ứng dụng: Sự phân loại của ông được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới.
1.4.3. Phân loại trò chơi của hệ thống giáo dục học Xô viết cũ
20
Nhóm giáo dục học Xô viết trước đây đã chia trò chơi trẻ em thành hai
nhóm:
Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo, bao gồm các trò chơi như sau:
- Trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Trò chơi lắp ghép – xây dựng
- Trò chơi đóng kịch
Nhóm 2: Nhóm trò chơi có luật bao gồm các trò chơi như sau:
- Trò chơi học tập
- Trò chơi vận động
Ưu điểm: thừa nhận khả năng sáng tạo của trẻ trong khi chơi. Coi chơi là
hoạt động tự lập của trẻ (chúng tự nghĩ ra ý định, chủ đề, nội dung, tự thảo luận
với nhau và tìm các phương tiện cần thiết để thực hiện trò chơi của chúng...).
Chơi mang lại sự thỏa mãn nhu cầu đươc chơi của trẻ, chơi tạo điều kiện cho trẻ
được tích cực hoạt động trong nhóm bạn bè. Trong khi chơi, trẻ cố gắng hết
mình để hoàn thành nhiệm vụ được giao, biết thiết lập các mối quan hệ với bạn
bè và điều chỉnh hành vi phù hợp với nhóm chơi.
tuổi ấu nhi trò chơi đã có ý nghĩa lớn trong đời sống của trẻ em. Theo họ, trò
chơi giả bộ là trò chơi đặc trưng - trò chơi trung tâm của trẻ em lứa tuổi mầm
non. Sự phát triển của trò chơi này có hai giai đoạn rõ rết. Giai đoạn đầu: Trò
chơi phản ánh sinh hoạt ở lứa tuổi ấu nhi; giai đoạn sau (giai đoạn phát triển
hoàn chỉnh): Trò chơi đóng vai có chủ đề ở lứa tuổi mẫu giáo.
Gồm các loại trò chơi như sau:
- Trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Trò chơi xây dựng
- Trò chơi đóng kịch
- Trò chơi học tập
- Trò chơi vận động
- Trò chơi dân gian
- Trò chơi hiện đại
22
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Tại sao nói chơi là hoạt động đặc trưng của trẻ ở trường mầm non.
2. Phân tích những đạc điểm đặc trưng của hoạt động vui chơi của trẻ
em lứa tuổi mầm non. Cho ví dụ minh họa.
3. Chứng minh rằng chơi là một phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ
em lứa tuổi mầm non. Từ đó bạn có suy nghĩ gì về việc tổ chức hoạt
động vui chơi cho trẻ em?
4. Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động vui chơi với hoạt động học tập,
hoạt động lao động và hoạt động nhệ thuật của trẻ ở trường mầm non.
5. Phân tích những đặc điểm chủ yếu của đồ chơi trẻ em. Cho ví dụ
minh họa.
6. Nêu những yêu càu cơ bản khi sưu tầm, lựa chọn, làm đồ chơi cho trẻ
ngắm nghía, sờ mó, thao tác...với đồ vật. Được sự hướng dẫn của người lớn,
những chuẩn cảm giác ở trẻ được hình thành trong quá trình hoạt động với đồ
vật.
Thông qua hoạt động với đồ vật, được sự hướng dẫn của người lớn, trẻ
nắm tên gọi của đồ vật, màu sắc, kích thước, âm thanh, vật liệu... nắm được
công dụng, cách thức sử dụng đồ vật và tiếp nhận được những quy tắc hành vi
xã hội gắn liền với đồ vật đó. Trên cơ sở đó, trẻ biết so sánh, phân biệt đồ vật
này với đồ vật khác, biết xếp lại những vật giống nhau... Nghĩa là tư duy của trẻ
được phát triển. Mặt khác, nhờ sự phong phú, đa dạng về màu sắc, hình dạng,
kích thước, âm thanh và đặc biệt là sự khám phá ra chức năng và phương thức
24
sử dụng đồ vật làm cho xúc cảm nói chung và xúc cảm trí tuệ của trẻ nói riêng
được hình thành.
Hoạt động với đồ vật còn có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển vận động,
đặc biệt là sự khéo léo, linh hoạt của bàn tay và ngón tay của trẻ. Từ chỗ trẻ nắm
đồ vật bằng cả bàn tay còn rất vụng về đến chỗ trẻ biết thao tác với đồ vật một
cách khéo léo, linh hoạt. Có thể nói, hoạt động với đồ vật là con đường cơ bản
để rèn luyện sự khéo léo tinh tế của đôi bàn tay và các ngón tay của trẻ.
2.2. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VỚI
ĐỒ VẬT CHO TRẺ TỪ 0 ĐẾN 3 TUỔI
Hoạt động với đồ vật là hoạt động lôi cuốn tâm trí của trẻ mạnh mẽ, ngoài
những giờ chơi - tập có chủ đích, cô giáo có thể tổ chức cho trẻ chơi vào những
thời điểm khác nhau trong ngày: chơi vào đầu giờ đón trẻ, chơi sau khi thức
tỉnh, chơi vào giờ chơi tự do. Tuy nhiên, mục đích chơi - tập, nội dung chơi tập, yêu cầu chơi - tập có thể khác nhau, nhưng để nâng cao hiệu quả của các
hoạt động chơi - tập nói trên, phương pháp, biện pháp tổ chức, hướng dẫn của cô
giáo giữ vai trò quan trọng.