Thiết kế một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi - Pdf 44

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

KHUẤT THỊ THANH KIM

THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI
HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin trân thành cảm ơn các thầy cô giáo trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo khoa giáo dục mầm non và các thầy cô giáo trong tổ
bộ môn phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp em trong quá trình học tập
tại trƣờng và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo – T.S. Đỗ Thị Thu
Hƣơng - ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập,
nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế.
Kính mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để
đề tài đƣợc hoàn thiện hơn.
Em xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017
Sinh viên


1.2. Thực trạng việc thiết kế trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 56 tuổi ở trƣờng mầm non ................................................................................. 30
1.2.1.Khái quát khảo sát thực trạng................................................................. 30
1.2.2. Phân tích kết quả khảo sát ..................................................................... 30
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1.................................................................................. 30
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN
TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI ........................................................... 35
2.1. Nguyên tắc lựa chọn và tổ chức trò chơi học tập cho trẻ mẫu giáo ........ 35
2.1.1. Nguyên tắc lựa chọn trò chơi học tập ................................................... 35
2.1.2. Tổ chức trò chơi học tập ....................................................................... 35
2.2. Một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn..... 37


2.2.1. Trò chơi: “Ai giỏi nhất” ........................................................................ 37
2.2.2. Trò chơi: “Thi xem ai nói đúng” ........................................................... 38
2.2.3. Trò chơi: “Kể đủ ba thứ”....................................................................... 38
2.2.4. Trò chơi: “Hãy nói từ trái nghĩa” .......................................................... 39
2.2.5. Trò chơi: “Cái gì đã thay đổi” ............................................................... 40
2.2.6. Trò chơi: “Ngƣời đƣa thƣ” .................................................................... 41
2.2.7. Trò chơi: “Ngƣời chăn nuôi giỏi” ......................................................... 42
2.2.8. Trò chơi: “Cái túi bí mật” ..................................................................... 43
2.2.9. Trò chơi: “Tôi muốn, tôi muốn” ........................................................... 43
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2.................................................................................. 45
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................... 46
3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................. 46
3.2. Địa điểm và phạm vi thử nghiệm ............................................................. 46
3.3. Nội dung và phƣơng pháp thực nghiệm ................................................... 46
3.4 Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 60
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3.................................................................................. 61
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƢ PHẠM.......................................... 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 64

1


đó, trò chơi học tập là một trò chơi đƣợc các giáo viên mầm non sử dụng khá
nhiều trong quá trình dạy học cho trẻ. Khi tham gia vào trò chơi học tập trẻ sẽ
lĩnh hội đƣợc ở cả hai mặt: vui chơi và nhận thức. Trẻ sẽ vừa đƣợc vui chơi,
vừa đƣợc lĩnh hội những kiến thức có trong trò chơi mà không cảm thấy bị
căng thẳng hay gò bó. Chính vì vậy mà trò chơi học tập đƣợc sử dụng vừa là
phƣơng pháp dạy học vừa là hình thức tổ chức dạy học cho trẻ mẫu giáo với
phƣơng châm “học mà chơi, chơi mà học”.
Hiện nay, ở các trƣờng mầm non, việc sử dụng trò chơi vào hình thức dạy
học rất phổ biến. Tuy nhiên, thƣờng thì các trò chơi sẽ đƣợc phục vụ cho các
hoạt động học nhƣ: hoạt động làm quen môi trƣờng xung quanh, hoạt động
làm quen với các biểu tƣợng toán, hoạt động tạo hình… còn ở hoạt động phát
triển ngôn ngữ cho trẻ còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi học
tập vẫn phổ biến nhƣng không đƣợc giáo viên chú trọng vào các hoạt động
học. Và trò chơi học tập kích thích sự phát triển vốn từ ở trẻ còn khá ít,
thƣờng thì công việc phát triển vốn từ chỉ đƣợc thực hiện khi cô trao đổi với
trẻ về một điều gì đó, hoặc thông qua những cuộc đối thoại giữa trẻ với ngƣời
lớn. Giáo viên sẽ ít khi nào để ý đến việc trẻ phát ra âm thanh của từ và hiểu
ý nghĩa của từ đó có đúng hay không. Trong khi đối với trẻ ở lứa tuổi mẫu
giáo, công việc phát triển vốn từ là một điều hết sức quan trọng và đáng đƣợc
quan tâm ở các trƣờng mầm non.
Chính vì những lí do trên, chúng tôi hiểu rõ nhiệm vụ cơ bản của việc phát
triển vốn từ cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn, cũng nhƣ vai trò to
lớn của trò chơi học tập trong việc phát triển vốn từ cho trẻ và mạnh dạn
nghiên cứu đề tài: “Thiết kế một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”.

2



phát triển lời nói mạch lạc, phát triển vốn từ nghệ thuật cho trẻ qua tác phẩm
văn học, để tạo tiền đề tốt cho trẻ chuẩn bị bƣớc vào lớp Một.
Tác giả Lê Thu Hƣơng đã đƣa ra một số trò chơi học tập phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo trong cuốn “Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện,
câu đố theo chủ đề, trẻ 5 – 6 tuổi.” [2].
Trong cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non” [9], tác giả Nguyễn Ánh
Tuyết cũng đã trình bày sự phát triển vốn từ ở từng giai đoạn, lứa tuổi.
Bài “Một số khuynh hướng nghiên cứu về mối liên hệ giữa giới và sự phát
triển ngôn ngữ ở trẻ em” của tác giả Nguyễn Thanh Bình đăng trong tạp chí
Ngôn ngữ số 1 năm 2003 cũng đã đề cập đến vốn từ của trẻ về mặt số lƣợng
cũng nhƣ cơ cấu từ loại.
Tạp chí Giáo dục mầm non có rất nhiều bài viết về cách tổ chức, quản lí
những sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên và cán bộ quản lí ngành mầm
non. Trong đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mầm non. Trong tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2006 tác giả Đinh Thị
Uyên có bài dịch tìm hiểu về chƣơng trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non Hàn Quốc. Đây là một góc nhìn mở cho nền giáo dục mầm non Việt Nam
hiện nay.
Tạp chí Giáo dục mầm non số 01/2009, có bài “Một số biện pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến cũng đề cập tới
việc tạo thói quen nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp với trẻ.
Có nhiều công trình nghiên cứu về phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ
nhƣng hầu hết các tác giả đƣa ra phƣơng pháp chung trong việc phát triển vốn
từ cho trẻ, chƣa có tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu vấn đề phát triển vốn từ
cho trẻ thông qua trò chơi học tập. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của vấn đề
chúng tôi đã tìm hiểu về đề tài “Thiết kế một số trò chơi học tập nhằm phát
triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”.



5


8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung khóa luận gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Chƣơng 2: Một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.

6


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận về thiết kế một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn
từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
1.1.1. Một số vấn đề lí luận về ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm về ngôn ngữ
Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài ngƣời, có ngôn ngữ và
khả năng sử dụng ngôn ngữ là đặc trƣng quan trọng để phân biệt con ngƣời và
động vật. Nó là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên
trong xã hội loài ngƣời, nhờ có ngôn ngữ con ngƣời có thể trao đổi cho nhau
những hiểu biết và truyền cho nhau những kinh nghiệm.
Ngôn ngữ mang tính xã hội, ngôn ngữ không chỉ tồn tại cho riêng một cá
nhân một ngƣời nào mà cho cả cộng đồng. Ngôn ngữ chính là phƣơng tiện
giao tiếp và là công cụ tƣ duy của con ngƣời. Mặt khác, ngôn ngữ không
mang tính giai cấp, nó ứng xử bình đẳng với mọi ngƣời trong xã hội. Ngôn
ngữ giúp cho con ngƣời giao tiếp trong mọi hoạt động, giúp con ngƣời biểu lộ
cảm xúc, bày tỏ những nguyện vọng của mình với ngƣời đối diện.

giao lƣu tình cảm trong lúc chơi, phát triển tƣ duy và trí tƣởng tƣợng của trẻ.
b. Ngôn ngữ là phƣơng tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ
Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất. Đặc biệt, đối với trẻ
nhỏ, đó là phƣơng tiện giúp trẻ giao lƣu cảm xúc với những ngƣời xung
quanh, hình thành những cảm xúc tích cực. Bằng những câu hát ru, những câu
nói âu yếm đã mang lại cho trẻ những cảm giác bình yên, sự vui mừng hớn
hở. Những tiếng ầu ơ của mẹ chính là sự giao lƣu cảm xúc và ngôn ngữ đầu
tiên. Những cuộc nói chuyện đặc biệt này sẽ làm cho trẻ có những tình cảm
thân thƣơng với những ngƣời xung quanh.
Trong quá trình giao tiếp, ngƣời lớn luôn hƣớng dẫn, uốn nắn hành vi của
trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ cƣời khiến trẻ có thể nhận ra hành vi của mình

8


đúng hay sai. Bằng con đƣờng đó, trẻ sẽ dần dần hình thành đƣợc những thói
quen tốt và học đƣợc những cách ứng xử đúng đắn.
Ngôn ngữ giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mỹ trong thơ ca, truyện
kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên ngƣời lớn có thể đem đến cho
trẻ từ những ngày thơ ấu. Sự tác động của lời nói nghệ thuật nhƣ một phƣơng
tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mỹ cho trẻ.
c. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành
viên của cộng đồng.
Ngôn ngữ chính là một trong những phƣơng tiện thúc đẩy trẻ trở thành một
thành viên của xã hội loài ngƣời. Nhờ có lời chỉ dẫn của ngƣời lớn, trẻ dần
dần hiểu đƣợc những quy định chung của cộng đồng, trƣớc hết là nề nếp sinh
hoạt của gia đình, trƣờng mầm non, sau đó là một số quy định ngoài xã hội.
Những gì trẻ đƣợc phép làm và những gì không đƣợc làm. Ngoài ra ngôn ngữ
còn là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của
mình từ khi còn rất nhỏ để ngƣời lớn có thể chăm sóc, giáo dục trẻ. Điều đó

đẩy quá trình tiếp thu ngôn ngữ của trẻ. So với tuổi nhà trẻ (0 – 3 tuổi), trẻ lứa
tuổi mẫu giáo (3 – 6 tuổi) có số lƣợng từ nhiều hẳn. Về số lƣợng từ của trẻ
mẫu giáo, các nhà ngôn ngữ học và tâm lí học có đƣa ra các số liệu khác
nhau:
N.D.Levitop:

3 – 5 tuổi

1000 từ

YU.U.Pratuxevich:

4 – 5 tuổi

1900 – 2500 từ

M.Becgiơrông:

3 – 5 tuổi

1222 từ

Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ nội thành
Hà Nội thì vốn từ của trẻ mẫu giáo là:
Trẻ 4 tuổi: 1900 – 2000 từ
Trẻ 5 tuổi: 2500 – 2600 từ
Trẻ 6 tuổi: 3000 – 4000 từ.

10



Theo nhà nghiên cứu Lƣu Thị Lan, trẻ mẫu giáo có tỉ lệ các từ loại nhƣ
tính từ, trạng từ, quan hệ từ tăng lên, động từ giảm đi so với lứa tuổi nhà trẻ.
Bảng 1.1. Cơ cấu từ loại của các lứa tuổi

Từ loại/ tỉ lệ %
Lứa tuổi
Danh từ

Tính từ

Trạng từ

3 tuổi

40,2%

7,8%

2,4%

5 tuổi

35,52%

8,64%

3,73%

6 tuổi

nói Anh đền em đi ).
- Dùng tính từ chƣa chính xác. Ví dụ: màu hồng trẻ nói sai là màu đỏ,
màu vàng; màu nâu trẻ nói là màu xám; hoặc màu tím trẻ lại gọi là màu nâu…
- Hƣ từ chỉ khái niệm về quan hệ, lại càng khó nắm hơn nữa đối với trẻ
em, nhất là trẻ mầm non. Ví dụ: Áo anh đẹp, áo em cũng vẫn đẹp cơ! (đáng lẽ
phải nói: Áo anh đẹp, áo em cũng đẹp cơ!).
 Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mẫu giáo
Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát
của từ nhƣ sau:
- Mức độ zero (mức độ 0): Mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó. Cuối tuổi
lên một, đầu tuổi lên hai, trẻ hiểu đƣợc những từ ngữ thể hiện một sự vật đơn
lẻ, cụ thể, tách biệt, những từ ngữ ở mức độ khái quát (nghĩa biểu danh).
Ví dụ: bố, mẹ, bàn, bát…
- Mức độ thứ nhất của sự khái quát: Cuối tuổi lên hai, trẻ nắm đƣợc
mức độ thứ nhất của sự khái quát – ý nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp, tức là
tên gọi chung của đối tƣợng cùng loại (đồ vật, hành động, tính chất)

13


Ví dụ: Bóng chỉ một quả bóng bất kì nào, Búp bê chỉ một con búp bê bất
kì nào,…
- Mức độ thứ hai của sự khái quát: Trẻ nắm đƣợc những từ ngữ thể hiện
sự khái quát về giống.
Ví dụ: Quả có thể chỉ bất kì loại quả nào (quả cam, quả đu đủ, quả
chuối…); xe có thể chỉ bất kì loại xe nào (xe ô tô, xe đạp, xe xích lô…); con
có thể có nhiều loại con (gà, mèo, chó…).
Cam, đu đủ, chuối: Mức độ thứ nhất của sự khái quát; quả: Mức độ thứ
hai của sự khái quát.
- Mức độ thứ ba của sự khái quát: Trẻ 5 – 6 tuổi có thể nắm đƣợc mức

chỉ sắc thái khác nhau nhƣ: chạy vèo vèo, chạy lung tung…; xuất hiện thêm
những động từ có nghĩa trừu tƣợng nhƣ: giáo dục, khánh thành…
Về tính từ: phát triển về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng, trẻ sử dụng nhiều
những từ có tính chất gợi cảm nhƣ: to đùng, tròn xoe, ngọt lịm, chua loét…
Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ tính chất không gian nhƣ: cao – thấp, dài
– ngắn, rộng – hẹp…, các từ chỉ tốc độ nhƣ: nhanh, chậm…, các từ chỉ màu
sắc: đỏ, xanh, vàng, trắng… Một số trẻ còn biết sử dụng các từ chỉ màu sắc
nhƣ: xanh lá cây, xám, da cam…
Ngoài ra, các loại từ khác nhƣ đại từ, trạng từ, quan hệ từ, phụ từ … cũng
đƣợc dùng nhiều hơn các lứa tuổi khác; trạng từ đƣợc mở rộng; trẻ cũng đã
biết sử dụng các quan hệ từ nhƣ: nếu, thì, thì mà, thế là, nhưng, của, và, để,
vì…
Theo Nguyễn Minh Loan, tìm hiểu vốn từ của trẻ mẫu giáo 5 tuổi, Khóa
luận tốt nghiệp khoa Mẫu giáo, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 1993, các từ
loại trong lời nói của trẻ 5 tuổi:
Bảng 1.2: Các từ loại trong lời nói của trẻ 5 tuổi

15


Số lƣợng

Từ loại

Tỉ lệ (so với vốn
từ) đã thống kê

Thực từ

Hƣ từ


Phó từ

62

7,5%

Ngữ thái từ

38

4,6%

Quan hệ từ

16

1,5%

Tóm lại, trong các độ tuổi của mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ đƣợc phát triển
dần về các mặt: vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp và xuất hiện dần kiểu
ngôn ngữ mạch lạc. Đến cuối tuổi mẫu giáo (5-6 tuổi) trẻ đã có khả năng nắm
đƣợc ngữ nghĩa của từ vựng thông dụng, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn
cảnh giao tiếp và đặc biệt là nắm đƣợc hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm
những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phƣơng tiện cú pháp và về phƣơng
diện tu từ, trẻ nói năng mạch lạc và thoải mái. Trẻ đã thực sự nắm vững tiếng
mẹ đẻ trong phong cách sinh hoạt và ở mức độ nào đó là phong cách nghệ
thuật (tức là nói năng có văn hóa).
1.1.2. Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
1.1.2.1. Khái niệm từ

nhau. Trong vốn từ vựng của bất kỳ ngôn ngữ nào cũng tồn tại những từ mới
và những từ cũ, những từ phổ biến chung và những từ địa phƣơng, những từ
chuẩn mực và những từ vay mƣợn, từ chuyên môn .
Ví dụ: Vốn từ của ngôn ngữ Tiếng Việt có nhiều từ vay mƣợn từ tiếng Hán
hoặc tiếng Pháp (ghi - đông, gác – ba - ga... )

17


Dựa vào tần số sử dụng của các từ trong đời sống xã hội, ngƣời ta phân
chia vốn từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động. Vốn từ tích cực
là những từ đƣợc con ngƣời nắm vững, có tần số sử dụng cao trong cuộc sống
hằng ngày. Vốn từ thụ động: gồm những từ ít hoặc không đƣợc sử dụng. Đó
là những từ không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại (bao cấp, tem phiếu...)
hoặc mang nghĩa riêng, chƣa đƣợc sử dụng rộng rãi.
Đối với trẻ mầm non, vốn từ tích cực là những từ trẻ hiểu đƣợc và biết vận
dụng trong các tình huống giao tiếp. Còn vốn từ thụ động là những từ trẻ chƣa
hiểu ý nghĩa hoặc có hiểu nhƣng không biết vận dụng trong giao tiếp (không
nói ra đƣợc). Nhƣ vậy nghiên cứu phát triển vốn từ cho trẻ không chỉ là mở
rộng vốn từ, làm giàu vốn từ về mặt số lƣợng mà phải tích cực hoá vốn từ
trong giao tiếp .
1.1.2.3. Từ loại
Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp. Đó là những
lớp từ có chung ngữ pháp. Những đặc trƣng của lớp từ đó đƣợc sử dụng là
tiêu chuẩn tập hợp và phân loại.
Theo tác giả Lê Biên trong cuốn “Từ loại Tiếng Viết hiện đại”, căn cứ vào
chức năng cú pháp của từ, ông đã chia vốn từ Tiếng Viết thành hai loại lớn,
đó là thực từ và hƣ từ:
1. Thực từ: gồm các loại danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ.
2. Hƣ từ: gồm các loại từ định từ, phó từ, kết từ, tình thái từ.

a. Làm giàu vốn từ ngữ của trẻ
Trên cơ sở đặc điểm tƣ duy của trẻ mẫu giáo, việc làm giàu vốn từ cần tiến
hành theo nguyên tắc mở rộng dần từ cụ thể đến khái quát.
Ở giai đoạn đầu, cần cung cấp cho trẻ những từ ngữ mang ý nghĩa cụ thể
nhƣ các đồ vật trong gia đình, các con vật, cây cối, hoa quả gần gũi quen
thuộc, tên gọi các ngƣời thân trong gia đình.

19


Khó khăn lớn đối với trẻ là những từ chỉ số, những từ trừu tƣợng của từ
ngữ. Những từ ngữ trong lời nói của trẻ phần lớn đƣợc tiến hành ở những tiết
học phát triển những khái niệm cơ bản của môn toán, và đƣợc củng cố ở
những tiết về phát triển tiếng Việt.
Đối với lớp mẫu giáo nhỡ và lớn, cần cho trẻ biết một từ có thể có nhiều
nghĩa. Có thể phân chia các nghĩa của một từ nhiều nghĩa thành nghĩa chính
và nghĩa phụ.
Thông qua các tiết học về văn bản mạch lạc, giáo viên giúp trẻ hiểu đƣợc
hiện tƣợng chuyền nghĩa gắn với việc làm quen với các tác phẩm văn học. Để
hiểu đƣợc lời nói biểu cảm, hiểu đƣợc thái độ của ngƣời nói, trẻ phải nắm
đƣợc lớp từ đồng nghĩa đối lập nhau về sắc thái biểu cảm, sắc thái ý nghĩa.
Để làm phong phú vốn từ, có thể cho trẻ tìm từ trái nghĩa đẹp/xấu,
nhanh/chậm, buồn/vui, yếu/khỏe, hiền/ác…
b. Củng cố vốn từ ngữ của trẻ
Nhắc lại nhiều lần những từ mới học sẽ làm cho trẻ dễ nhớ hơn. Củng cố
những từ khó phát âm nhƣ loắt choắt (lắt chắt), con hươu (con hiêu), cái
phích (cái phứt), con ếch (con ất)… Sửa phát âm sai l,n: làm phát âm thành
nàm; phát âm sai thanh điệu, chuyển thanh ngã thành thanh sắc (ngã thành
ngá), chuyển thanh hỏi thành thanh thanh nặng (ngủ thành ngụ).
Phải kiên quyết sửa những từ mà trẻ hiểu rõ nghĩa nhƣng phát âm sai. Cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status