Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích - Pdf 44

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

HÀ THỊ NGUYỆT

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU
GIÁO 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CỔ TÍCH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong tổ
bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong quá trình học
tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo – T.S Lê Thùy
Vinh – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình nghiên cứu và
giúp em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên

Hà Thị Nguyệt



1.5.4. Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn .................................................. 21
1.5. 5 Hoạt động kể chuyện cổ tích trong giảng dạy ở nhà trường mầm non . 28
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU
GIÁO 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CỔ TÍCH30
2.1. Thưc trạng phát triển vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Hoa
Sen, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. ..................................................... 30
2.2. Các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua
hoạt động kể chuyện cổ tích ............................................................................ 34


2.2.1. Biện pháp đọc, kể chuyện cho trẻ nghe ................................................ 35
2.2.2. Biện pháp đàm thoại.............................................................................. 38
2.2.3. Biện pháp giải nghĩa từ ......................................................................... 40
2.2.4. Biện pháp dạy trẻ kể lại truyện cổ tích.................................................. 44
2.2.5. Biện pháp sử dụng các trò chơi học tập ................................................ 48
2.2.6. Phát triển vốn từ theo trường nghĩa từ .................................................. 49
KẾT LUẬN .................................................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 54


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1.

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục

quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình
thành và phát triển nhân cách con người. Giáo dục mầm non đặt nền móng
cho sự phát triển thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ em Việt Nam.
Phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành và

Truyện cổ tích là “ món ăn tinh thần” không thể thiếu đối với trẻ mẫu
giáo. Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo lớn đã có khả năng nắm được ý nghĩa của những
từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của người lớn. Trẻ thực sự nắm
được tiếng mẹ đẻ. Việc cho trẻ tiếp xúc nhiều với những câu chuyện cổ tích sẽ
giúp trẻ tích lũy nhiều vốn từ vựng cần thiết và rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp
của trẻ mẫu giáo lớn.
Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích” nhằm
đưa ra những biện pháp để mở rộng và phát triển vốn từ ngữ cho trẻ mầm non
đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn, hướng đến sự phát triển năng lực ngôn ngữ nói
chung của trẻ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trẻ em luôn giành được nhiều sự quan tâm từ gia đình, nhà trường và xã
hội; những vấn đề của trẻ em được các nhà nghiên cứu học hết sức quan tâm.
Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn không còn là
một đề tài mới mẻ nữa, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều khía
cạnh khác nhau.
Ở Việt Nam, từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề này cũng
được quan tâm. Một số hội nghị khoa học ở Trung ương cũng như các địa
phương đã hướng nội dung vào việc thảo luận nâng cao chất lượng giảng dạy
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”
(2004), tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nói về phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo rất chi tiết, tỉ mỉ, cụ thể. Trên cơ sở đánh giá chung về

2


đặc điểm sinh lí của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn
ngữ học với những bộ môn khác, tác giả đã đưa ra một số phương pháp phát

trong tổ chức hoạt động giáo dục tích hợp ở trường mầm non.
Như vậy, các tác giả đã nghiên cứu rất sâu sắc ngôn ngữ của trẻ mầm
non và nêu lên những quan điểm của mình trong đó. Song chưa có tác giả nào
đi sâu, tìm hiểu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn qua truyện cổ
tích. Trong đề tài khóa luận này, chúng tôi xin đi vào nghiên cứu khoảng
trống còn bỏ ngỏ này.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ cơ sở lí luận thực tiễn, từ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình
giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, đề tài này đưa ra một số biện
pháp nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động kể
chuyện cổ tích.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài.
- Đề xuất các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông
qua truyện cổ tích.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi
thông hoa hoạt động kể chuyện cổ tích.
- Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, chúng tôi chỉ xem xét thực trạng
phát triển vốn từ thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích của trẻ em tại trường
mầm non Hoa Sen, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Trên cơ sở thực tế
này, chúng tôi đề xuất những biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5 – 6 tuổi
thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích.

4


5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê

khác. Ngôn ngữ được hình thành rất sớm, ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ đã
hình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữ. Nhu cầu giao tiếp với
người lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nói năng của trẻ. Trẻ không
có ý thức về ngôn ngữ nhưng bằng cách bắt chước có tính chất bản năng, trẻ
sẽ học được cách nói của những người xung quanh.
Sự phát triển mọi mặt của trẻ mẫu giáo chưa hoàn thiện, còn non nớt.
Hoạt động học tập đòi hỏi sự căng thẳng về trí tuệ và thể lực, đòi hỏi sự chú ý
có chủ định kéo dài, đòi hỏi sự hoạt động nhiều mặt của trẻ. Trẻ 5-6 tuổi, chú
ý không chủ định phát triển mạnh, chú ý có chủ định đã xuất hiện nhưng còn
hạn chế. Đặc điểm tri nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan hình tượng, tính

6


không chủ định nhờ tác động một cách tự nhiên của những ấn tượng hấp dẫn
bên ngoài. Trí nhớ trực quan phát triển mạnh mẽ hơn trí nhớ từ ngữ- logic.
Ghi nhớ máy móc là đặc điểm nổi bật, trẻ ghi nhớ những sự vật, hiện tượng
cụ thể, dễ dàng hơn nhiều so với lời giải thích dài dòng. Vào cuối tuổi mẫu
giáo, trí nhớ của trẻ có một bước biến chuyển về chất: trí nhớ chủ định xuất
hiện và phát triển mạnh. Đó là loại trí nhớ có mục đích và phải nhờ đến công
cụ tâm lí như sơ đồ, biểu đồ và chữ viết. Biểu tượng của trí nhớ ở trẻ mẫu
giáo lớn mang tính khái quát hơn. Trong quá trình tưởng tượng, trẻ sử dụng
các biểu tượng của trí nhớ.
Tuổi mẫu giáo lớn, khi ngôn ngữ trở thành phương tiện của tư duy cho
phép trẻ giải những bài toán trí tuệ mà không cần sử dụng trực tiếp hành động
và biểu tượng, cũng là lúc trẻ lĩnh hội những khái niệm mà loài người đã xây
dựng lên. Tức là những tri thức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật
cũng như hiện tượng trong hiện thực đã được củng cố bằng các từ. Trẻ biểu
hiện năng lực trí tuệ qua hoạt động tổng hợp của lời nói, qua quan sát, chú ý
và suy nghĩ bằng năng lực ghi nhớ liên tưởng và khả năng giải quyết các

văn học” cho trẻ mẫu giáo nói chung và cho mẫu giáo lớn nói riêng, thì hầu
hết các truyện đều hướng đến mục tiêu giáo dục toàn diện về nhân cách cho
trẻ trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Những câu chuyện cổ tích dành cho trẻ mẫu
giáo lớn thường là những câu chuyện dài hơn, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về
tình yêu quê hương đất nước, gia đình, bạn bè, trường lớp. Khi dạy trẻ kể
chuyện, giáo viên cần giúp trẻ hiểu được những bài học giáo dục sâu sắc đó.
Ngôn ngữ của trẻ chỉ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với con
người và sự vật hiện tượng xung quanh. Để thực hiện được điều đó cần thông
qua nhiều phương tiện khác nhau như qua các giờ học, các trò chơi, dạo chơi
ngoài trời và sinh hoạt hàng ngày, rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ, tập
cho trẻ biết nghe, hiểu và phát âm chính xác các âm của tiếng mẹ đẻ, hướng
dẫn trẻ cách biết diễn đạt ý muốn của mình cho người khác hiểu. Vì vậy, khi

8


cho trẻ tiếp xúc với các sự vật hiện tượng thì phải cho trẻ biết gọi tên đặc
điểm của đối tượng; không những thế, giáo viên dạy trẻ biết nói câu đầy đủ,
rõ nghĩa, dạy trẻ biết phát âm đúng các âm chuẩn của tiếng Việt, đảm bảo các
nguyên tắc của giáo dục học tính khoa học, tính hệ thống, tính vừa sức, tính
tiếp thu.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong chương
trình giáo dục toàn diện cho trẻ. Chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã
được nhà giáo dục mầm non Liên Xô (cũ) nổi tiếng Eiti – Khêva xem là khâu
chủ yếu nhất của hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề thành công của
các công tác khác.
Khi trẻ được nghe các câu chuyện cổ tích, trẻ nắm được ngôn ngữ dân
gian có nội dung phong phú và đầy sức diễn cảm; từ đó, giúp trẻ cảm thụ
được sự giàu có của ngôn ngữ, nắm được phương tiện thể hiện ngôn ngữ, lĩnh
hội được sự phong phú của tiếng mẹ đẻ. Tất cả những điều này ảnh hưởng

nhau như thế là do bộ máy phát âm khác nhau và quá trình chăm sóc giáo dục
cũng khác nhau. Trẻ nói ngọng là do bộ máy phát âm phát triển chưa hoàn
thiện. Tuy nhiên bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề vật chất. Cùng
với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ
máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn
ngữ. Cấu tạo bộ máy phát âm gồm: dây thanh và các hộp cộng hưởng phía
trên thanh hầu. Âm sắc và tiếng nói do tính chất của âm xác định và phụ thuộc
vào các khoang cộng hưởng của phần trên các bộ phận thanh quản, họng,
khoang miệng, mũi. Bộ máy phát âm của trẻ chưa phát triển đầy đủ, các bộ
phận tạo thành tiếng nói chưa liên kết chặt chẽ nên trẻ phát âm còn chưa
chuẩn, không chính xác. Do đó, việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm hiểu
vốn từ của trẻ mầm non hoàn toàn có cơ sở và mang tính khoa học.
Ở cuối tuổi mẫu giáo, do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng
trong những năm trước đây, tai nghe âm vị được rèn luện thường xuyên để

10


tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói, mặt khác cơ quan phát âm đã
trưởng thành đến mức trẻ có thể phát âm tương đối chuẩn kể cả những âm khó
của tiếng mẹ đẻ khi nói năng. Trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ điệu một
cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung câu chuyện mà trẻ kể.
1.4. Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người. Ngôn
ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống
văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Lênin từng khẳng định:
“Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là một hoạt
động đặc trưng của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất”. Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống con người, nhờ ngôn ngữ

giáo viên không thể không tìm hiểu vốn từ của trẻ. Trong ngôn ngữ, từ là cái
quan trọng nhất, là vật trực tiếp để tạo ý, tạo lời và tạo câu. Ở tuổi mẫu giáo,
trẻ phải nắm được một vốn từ cần thiết đủ để chúng có thể giao tiếp được với
bạn bè, người lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu trong trường mầm non, chuẩn
bị học tập ở trường phổ thông; xem các chương trình truyền hình, phát
thanh…. Vì thế, giáo dục học mẫu giáo coi việc hình thành vốn từ là một
nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ. Phát triển vốn từ được hiểu
như một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà con người đã lĩnh hội
được trong lịch sử. Nó bao gồm 2 mặt: tích lũy số lượng (tăng dần số từ tích
cực) và nâng cao chất lượng (lĩnh hội dần dần nội dung xã hội tích lũy trong
từ, nó là sự phản ánh kết quả của nhận thức).
1.5. Truyện cổ tích và hoạt động kể chuyện cổ tích trong việc giảng dạy ở
nhà trƣờng mầm non
1.5.1. Khái niệm truyện cổ tích
Cho đến nay, truyện cổ tích có rất nhiều khái niệm, xong nhìn chung là
giống nhau về cơ bản, mỗi một khá niệm mà các nhà nghiên cứu đưa ra đã bổ

12


sung, làm phong phú thêm những hiểu biết của chúng ta về thể loại truyện cổ
tích.
Theo tác giả Lê Bá Hàn trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” thì:
Truyện cổ tích là một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội có giai cấp
với chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải những vấn để xã hội, những số
phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có
chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền) có
mâu thuẫn với đấu tranh xã hội quyết liệt.
Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” – Hoàng Phê (chủ biên), khái niệm
truyện cổ tích được diễn đạt ngắn gọn như sau: “Truyện cổ tích là truyện cổ

xã hội công bằng, bác ái.
- Về nghệ thuật: Truyện cổ tích nổi bật như một thể loại mang tính hư
cấu cao, là hư cấu nghệ thuật.
Những đặc trưng trên giúp ta có thể phân biệt được truyện cổ tích với
các thể loại truyện khác trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
1.5.2. Đặc trưng của truyện cổ tích
a. Đặc trưng thời đại nảy sinh và phát triển truyện cổ tích
Khi con người còn sống tương đối bình đẳng trong cộng đồng nguyên
thủy thì mối quan tam nổi bật nhất là giữa con người với đại tự nhiên. Những
hiện tượng nắng mưa, hạn lụt,cháy rừng, sét đánh, cây đổ, dịch bệnh… đe dọa
trực tiếp đến sinh mạng, ảnh hưởng đến đời sống làm ăn của cộng đồng.
Nhưng khi xã hội nguyên thủy tan rã, có hai khuynh hướng xảy ra. Một là,
cộng đồng phải liên minh với các cộng đồng khác để tạo thành những cộng
đồng lớn mạnh hơn, đủ sức chống lại thiên nhiên và chống lại sự sâm lấn của
những cộng đồng khác từ bên ngoài. Hai là quan hệ bình đẳng bị phá vỡ, cộng
đồng bị chia rẽ thành những cá nhân và gia đình riêng lẻ, khẳng định khuynh
hướng phát triển cá nhân là tất yếu của xã hội. Nhân dân lao động đồng thời là

14


chủ thể sáng tạo, khi hướng vào cộng đồng, họ quan tâm đến những vấn đề
dựng nước và giữ nước, khi hướng vào đời sống gia đình, sinh hoạt xã hội,
học quan tâm nhiều hơn đến quan hệ giữa con người với con người, nhất là số
phận của những con người bé nhỏ, tội nghiệp dễ bị tổn thương nhất trong gia
đình và xã hội đang bị phân hóa. Từ đó hình thành những chủ đề truyện cổ
tích.
Truyện cổ tích đã kế thừa rất nhiều ở thần thoại, từ quan niệm nghệ thuật
về thế giới đến phương thức phản ánh thế giới đó. Nhân vật thần vốn có
nguồn gốc từ thần thoại, khi đi vào truyện cổ tích đã bị thu hẹp dần phạm vi,

hoạt còn hướng tới nhiều chủ đề khác nữa. Một trong những chủ đề nổi bật là
sự ca ngợi của tác giả dân gian hướng vào phần lớn dân chúng. Những người
bình thường, thậm chí nghèo khó, cùng cực nhưng có lòng hiếu thảo, thông
minh trong tình nghĩa, dám đấu tranh cho sự công bằng được khẳng định.
Nhóm truyện về những người thông minh tài trí như Sợi bấc tìm ra thủ phạm,
Phân sử tài tình,... nhóm truyện tình nghĩa như Sự tích chim cuốc, Gái ngoan
dạy chồng, Chưa dỗ ông nghè đã đe hàng tổng,… phản ánh chủ đề này.
Trong kho tàng cổ tích có một nhóm truyện về loài vật. Đó là những
truyện kể mà các con vật là nhân vật chính, hoặc là thế giới loài vật trong đó
những con vật quan hệ với nhau theo cách như trong thế giới của con người.
Có lẽ những truyện kể loài vật có nguồn gốc từ tín ngưỡng tôn sùng vật tổ.
Khi chưa hiểu rõ nguồn gốc của mình, có một thời kì con người cho rằng tổ
tiên của mình là trâu, bò, chó, sói,… Nhưng trong quá trình phát triển, loài
người dần hiểu được nguyên nhân sinh sản từ tín ngưỡng vật tốt cũng dần
được phủ định, các con vật thiêng mất thiêng, được bình thường hóa hoặc bị
tha hóa trở nên tầm thường, hài hước trong truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn,
mang chức năng giải trí và chức năng giáo dục nhẹ nhàng.
b. Quá trình hoàn thiện truyện cổ tích là quá trình biến đổi không
ngừng

16


Do văn học dân gian là sáng tác truyền miệng và cũng là sáng tạo của tập
thể mà đời sống của các tác phẩm văn học dân gian trong đó có truyện cổ tích
dài vô tận và có thể biến đổi vô cùng. Ở mỗi thời đại khác nhau, do sự phát
triển xã hội và những nhu cầu mới của dân chúng mà mỗi thể loại, thậm chí
mỗi tác phẩm có thể diễn ra những biến đổi bộ phận hoặc biến đổi phần lớn
nội dung của nó. Đặc điểm chung của các tác phẩm dân gian là phải dựa vào
những cốt truyện có sẵn, một mô tuýp quen thuộc, một công thức nghệ thuật

đùng ra chết. Kết thúc ấy đã tồn tại một thời gian dài trong lời kể dân gian và
đã từng làm không ít người hả hê vì cách trừng phạt “ác giả ác báo” đó.
Nhưng giường như cách trừng phạt đó đã trở nên quá dã man ở thời hiện đại.
Vì vậy, trong lời kể hiện nay đã có những người bỏ qua tình tiết “làm mắm”.
Khi kể chuyện cho trẻ mẫu giáo, các cô giáo cũng đã bỏ đi đoạn trùng phạt
bằng cách này. Như vậy tính chất thời đại đã chi phối cách lựa chọn các tình
tiết truyện cổ. Ngay cả khi truyện dân gian đã được văn bản hóa thì nó vẫn có
thể biến đổi để phù hợp với thời đại mà nó đang lưu truyền.
Vì thế, mà khám phá truyện cổ tích cũng là quá trình tìm hiểu và hiểu lại
các tình tiết để ngày càng tiếp nhận chân lí hơn.
c. Truyện cổ tích phản ánh thực tại một cách độc đáo.
Các thể loại văn học dân gian đều lấy đối tượng phản ánh là hiện thực,
nhưng mỗi thể loại hướng vào hiện thực theo cách lựa chọn riêng của mình.
Thần thoại và truyền thuyết chú ý đến mảng hiện thực rộng lớn, những đề tài
cao cả, những nội dung hoành tráng mang tính cộng đồng, còn truyện cổ tích
quan tâm đến những quan hệ giữa con người trong sinh hoạt đời thường,
những bon chen đố kị, những lợi ích cụ thể của các thành viên trong gia đình
và xã hội.
Tuy nhiên, khác với hiện thực ngoài đời, các yếu tố thực tế trong cổ tích
luôn đan xen với yếu tố kì ảo, tạo ra một “thế giới cổ tích”, “không khí cổ

18


tích” rất đặc trưng và hấp dẫn, trong đó con người vừa bình thường vừa lạnh
lùng, các sự kiện vừa quen thuộc vừa phi lí, không thể lí giải bằng tư duy
thông thường. Tất cả những gì phi lí nhất, không thể tồn tại được ngoài đời
đều có thể dễ dàng có thể chấp nhận trong thế giới riêng của truyện cổ tích,
ngay sau lời mở đầu quen thuộc “ngày xửa, ngày xưa…”. Cũng từ đó nó dọi
một ánh sáng đặc biệt vào cuộc đời tối tăm đầy khổ đau của con người, thôi

thường xuyên có mặt trong truyện cổ tích thần kì. Và tương tự như thế, những
loài vật thuộc nhiều loại khác nhau vẫn hay được nói tới trong các truyện cổ
về loài người. Nói tóm lại cách phân truyện cổ tích như trên có tính chất
tương đối.
Trong thể loại truyện cổ tích, truyện cổ tích thần kì là bộ phận tiêu biểu
nhất và quan trọng nhất. Ở loại truyện này, nhân vật chính vẫn là con người
trong thực tại nhưng các thế lực thần kì, siêu nhiên có một vai trò quan trọng.
Hầu như xung đột giữa con người với con người đều bế tắc không thể giải
quyết nổi nếu thiếu yếu tố thần kì. Có thể nói rằng, loại truyện cổ tích thần kì
nằm ở vị trí gạch nối giữa thể loại truyện cổ tích và thể loại truyện thần thoại
trong tiến trình sáng tạo lâu dài của các tác giả dân gian các dân tộc.
Truyện cổ tích sinh hoạt (hay truyện cổ tích thế sự) là những truyện cổ
tích không có hoặc có rất ít yếu tố thần kì. Mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn giữa
người với người được giải quyết một cách hiện thực, không cần đến yếu tố
siêu nhiên. Những yếu tố thần kì, nếu có cũng không giữ vai trò quan trọng và
nhiề khi cũng chỉ là đường viền cho câu chuyện thêm vẻ ly kì, hấp dẫn.
Truyện cổ tích loài vật là loại truyện chủ yếu lấy loài vật (phần lớn là
động vật) làm đối tượng phản ánh, tường thuật, lý giải. Loại truyện này ở thời
kỳ cổ xưa hầu hết các dân tộc đề có, các loài vật ở đây đều được nhân cách
hóa một cách hồn nhiên trong trí tưởng tượng của nhân vật thời cổ đại.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status