MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non (GDMN) là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo
dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình
cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em. Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua
chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và
thành công sau này của trẻ.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng
nhất của giáo dục mầm non. Ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập và
vui chơi. Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ em.
Bên cạnh đó ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành
vi văn hoá.
Usinsky từng nói: Từ là một đơn vị ngôn ngữ không thể thiếu trong
tạo lập lời nói để giao tiếp của trẻ.
“Tất cả mọi hiểu biết đều bắt đầu từ ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ và
trở lại với ngôn ngữ” và “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển trí tuệ
và là kho tàng mọi tri thức”. (Usinsky)
Bởi vậy giáo dục ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng cần thiết và phải bắt đầu
ngay từ rất sớm từ tuổi mầm non (0 – 6 tuổi) đặc biệt là từ 2 – 5 tuổi, lứa tuổi
này ngôn ngữ trẻ có điều kiện phát triển cực kỳ nhanh về tất cả các mặt: ngữ
âm, từ vụng và ngữ pháp mà không giai đoạn nào có thể sánh bằng. Nếu nhà
giáo dục bỏ qua giai đoạn phát cảm trong ngôn ngữ này sẽ là thiệt thòi lớn
cho sự phát triển của đứa trẻ, trẻ sẽ khó theo kịp sự phát triển của các bạn
cùng lứa tuổi. E. I. Tikhêêva cho rằng phát triển ngôn ngữ cho trẻ là khâu chủ
yếu của hoạt động trong trường mẫu giáo, là tiền đề cho mọi sự thành công
khác.
1
phương tiện hiệu quả nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo (MG) 5 – 6
tuổi.
Xuất phát những lí do trên, đề tài “Biện pháp phát triển vốn từ cho
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện” được nhóm lựa
chọn nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng phát triển vốn từ của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong
hoạt động kể chuyện; xác định các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất một số
biện pháp nâng cao vốn từ cho trẻ và tổ chức thực nghiệm.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng ảnh hưởng của
hoạt động kể chuyện tới sự phát triển vốn từ cho trẻ MG 5 – 6 tuổi ở một số
trường mầm non thuộc Tp.HCM.
3.1.
Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp sử dụng hoạt động kể chuyện (HĐKC) phát triển vốn từ cho
trẻ MG 5 – 6 tuổi.
3.2.
Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ MG 5 – 6 tuổi.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu để hệ thống các vấn đề lý luận làm cơ sở
lý luận cho đề tài, thực trạng tổ chức một số biện pháp ảnh hưởng của hoạt
- Giáo viên chưa tạo điều kiện để trẻ phát huy tính sáng tạo trong khi kể
chuyện.
- Giáo viên thường xuyên cung cấp cho trẻ vốn sống và ấn tượng cảm
xúc.
- Đồ dùng trực quan chưa đa dạng phong phú, thẩm mỹ chưa đạt, giá trị
sử dụng chưa cao. Đặc biệt là đồ dùng cho trẻ hoạt động còn rất ít.
Nếu GVMN vận dụng tốt một trong số các biện pháp sau vào hoạt động kể
chuyện thì sẽ giúp trẻ nâng cao số lượng – chất lượng vốn từ:
4
- Sưu tầm tổng hợp các thể loại truyện có tác dụng phát triển vốn từ cho
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi đàm thoại.
- Kể chuyện theo tranh kết hợp trên nền âm nhạc phù hợp.
- Sử dụng phương tiện trực quan “Rối bóng”.
- Diễn xuôi câu chuyện theo giai điệu bài hát quen thuộc.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài, xây dựng cơ sở lý
luận của đề tài.
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1. Phương pháp quan sát
a. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng vốn từ của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong HĐKC và
những biện pháp tổ chức HĐKC của GVMN nhằm phát triển vốn từ cho trẻ
MG 5 – 6 tuổi.
b. Đối tượng nghiên cứu
Trẻ MG 5 – 6 tuổi và GVMN dạy trẻ lớp Lá (5 – 6 tuổi).
c. Cách thực hiện
7.2.5. Phương pháp thống kê toán học.
a. Mục đích nghiên cứu
Xử lý số liệu thu thập được, đánh giá độ tin cậy – tính tương quan.
b. Cách thực hiện
Sử dụng phần mềm Excel để tính toán xử lý các số liệu sau khi thu
thập được từ việc nghiên cứu thực trạng và thử nghiệm một số biện pháp của
đề tài. Các thuật toán thống kê xử lý và phân tích các số liệu nghiên cứu: Tỉ
lệ %, giá trị trung bình.
6
8. Dự kiến cấu trúc
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
5. Nhiện vụ nghiên cứu.
6. Giả thuyết nghiên cứu.
7. Phương pháp nghiên cứu.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5 –
6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện.
Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.
Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.
7
học. Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu
hiện bề ngoài của các bên trong là “logos”, tinh thần, trí tuệ của con người.
Trong cuốn “Bàn về phương pháp”, Descartes đã chỉ ra những đặc tính
8
chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người, khác với
động vật. Ông nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy
chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng:
“Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và
con vật” [20].
Chỉ đến giữa thế kỷ 19 khuynh hướng tâm lý học mới nảy sinh trong
ngôn ngữ học. Ngưởi đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tâm
lý Shteintal (1823 – 1899). Ông đã đưa ra học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt
động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc. Theo ông, ngôn ngữ học
phải dựa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải
dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc [20].
Thuyết tâm lý liên tưởng – đại biểu là V.Vunt (1832 – 1920) –
nghiên cứu lý thuyết về dạng thức bên trong của từ, về các loại ý nghĩa
chuyển đổi của từ, về nghĩa hiện có của từ và câu, về mối quan hệ liên
tưởng có tính ngữ đoạn.
Sau cách mạng tháng Mười Nga 1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm
lý học Xô Viết đã vận dụng quan điểm của Mác – Lênin vào hoạt động
nghiên cứu ngôn ngữ đó là: xem xét ngôn ngữ với tư cách là một hiện
tượng xã hội. Ngôn ngữ thể hiện các mối quan hệ giữa con người với con
người được quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời ký lịch sử nhất
định. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và là phương tiện giao
tiếp chủ yếu của con người. Với quan điểm này có thể kể đến: L.X.
Vưgôtxki; R.O. Shor; E.D. Polivanov; K.N. Derzhavin; B.A. Larin; M.V.
Sergievskij; M.N. Peterson; L.J. JaKubinskij; A.M. Selishchev… Họ đã đi
1997).
Các tác giả: L.P.Phedorenco, G.A.Phomitreva, V.K.Lomarep cũng có
những cuốn sách tương tự.
Tác giả E.I.Tikhêêva đã đề ra phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
một cách hệ thống, trong đó bà nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ
tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh, kể chuyện
cho trẻ nghe… Bà đưa ra các biện pháp cụ thể để phát triển ngôn ngữ nói cho
10
trẻ mẫu giáo như: nói chuyện với các em, giao nhiệm vụ cho các em, đàm
thoại, kể chuyện, đọc truyện, thư từ, học thuộc lòng thơ ca. Những tư tưởng
này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với việc giáo dục phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mầm non [10].
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước
Vốn từ, khả năng hiểu từ, ngữ pháp… của trẻ ở các độ tuổi khác
nhau có các công trình nghiên cứu của Dương Diệu Hoa (1985), Nguyễn
Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989) v.v… Chẳng hạn Lưu Thị Lan
(1996) trong công trình nghiên cứu Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ
em 1 – 6 tuổi [19] đã chỉ rõ các bước phát triển về ngữ âm của trẻ em Việt
Nam bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 – 1 tuổi) giai đoạn ngôn ngữ (1
– 6 tuổi), về mặt ngữ âm có những bước tiến dài đặc biệt là giai đoạn 4 –
6 tuổi. Các bước phát triển về từ vựng được tác giả thống kê từng lứa tuổi
với số lượng từ tối thiểu và số lượng từ tối đa. Từ 18 tháng tuổi trở đi trẻ
có sự nhảy vọt về số lượng từ và yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng trực
tiếp đến sự phát triển vốn từ của trẻ. Các bước phát triển về ngữ pháp trong
ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam được tác giả nghiên cứu rất cụ thể từng lứa
tuổi với loại câu đơn, câu phức, các loại câu phức như câu phức chính phụ,
câu phức đẳng lập. Câu phức chính phụ xuất hiện muộn và có số lượng ít
hơn.
Một số biện pháp dạy trẻ kể chuyện theo chủ đề nhằm phát triển lời nói
mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh của
Huỳnh Ái Hồng; Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
5 – 6 tuổi thông qua kể chuyện sáng tạo của Hoàng Thị Hồng Mát (2002).
Các bài viết trong các tạp chí Nghiên cứu Giáo dục cũng quan tâm
nhiều đến ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi nhưng chủ yếu về vấn đề chuẩn bị
cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi học đọc, học viết ở lớp 1 như bài viết của Lê Thị
Ánh Tuyết; Chuẩn bị cho trẻ Mẫu giáo 5 tuổi học chữ của Nguyễn Phương
Nga; Thực trạng chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số vào
học lớp 1 của Trương Thị Kim Oanh, Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện
12
tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi dân tộc thiểu số (K'Ho) ở
Lâm Đồng của Đào Kim Nhung…
Nhìn chung vấn đề ngôn ngữ trẻ em được các nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu ở nhiều mặt, nhiều lứa tuổi khác nhau. Có nghiên cứu về
cấu trúc đặc biệt của ngôn ngữ, có nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tác
động đến quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ, một số nghiên cứu
khác lại nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ… Tuy nhiên, ở
Việt Nam các công trình nghiên cứu mới tập trung nhiều vào lứa tuổi nhà
trẻ, ít đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ của lứa tuổi 5 – 6 tuổi. Trong các
công trình nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi chủ yếu đi sâu nghiên
cứu vào một mặt của sự phát triẻn ngôn ngữ như hiểu từ hoặc ngôn ngữ
mạch lạc… Trong ngôn ngữ mạch lạc thì lại chủ yếu đi vào nghiên cứu
biện pháp hình thành và phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
Ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi là một điều kiện hết sức quan trọng để trẻ
tiếp xúc với một trường mới lạ ở phổ thông, giúp trẻ lĩnh hội được những
kiến thức mang tính chất khoa học của các môn ở phổ thông…Vì vậy việc
- Vốn từ thụ động: là những từ trẻ mới lĩnh hội trẻ chưa sử dụng chúng
trong giao tiếp, trẻ chưa hiểu rõ nghĩa của từ nên không sử dụng được.
1.2.2.2. Khái niệm “Phát triển”
Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự
tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, hiện
tượng; đồng thời, nó cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục,
không trải qua những bước quanh co phức tạp.
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách
quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các
nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng
cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới.
Theo từ điển Hoàng Phê thì “phát triển” được hiểu là: biến đổi hoặc
làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến
phức tạp [26].
1.2.2.3. Khái niệm “Phát triển vốn từ”
Phát triển vốn từ được hiểu như một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội
vốn từ mà con người đã lĩnh hội được trong lịch sử. Nó bao gồm hai mặt: tích
lũy số lượng (tăng dần số từ tích cực) và nâng cao chất lượng (lĩnh hội dần
14
dần nội dung xã hội tích luỹ trong từ, nó là sự phản ánh kết quả của nhận
thức) [30].
Tóm lại, dưới góc độ đề tài này chúng tôi xin đưa ra nhận định: Phát
triển vốn từ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ý nghĩa của từ và biết sử
dụng từ trong các tình huống giao tiếp.
1.2.3. Khái niệm “Hoạt động kể chuyện”
1.2.3.1. Khái niệm “Hoạt động”
Theo từ điển Hoàng Phê thì “hoạt động” được hiểu là: Tiến hành
những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định
thuật [29].
Quá trình kể chuyện diễn ra với sự đóng góp của các nhu cầu được thể
hiện, bày tỏ nguyện vọng cũng như các thao tác tư duy, ngôn ngữ để tạo ra
một câu chuyện có nội dung, kết cấu hoàn chỉnh, mạch lạc. Trẻ là người chủ
động trong câu chuyện của mình. Sự chủ động thể hiện rõ rệt từ việc lựa chọn
nội dung, ý tưởng, ngôn ngữ, nhân vật, sự kiện…và sắp xếp chúng thế nào
cho hợp lý. Thông qua câu chuyện kể, tâm tư, tình cảm và sự trải nghiệm của
bản thân về những yếu tố được bộc lộ.
Kể chuyện là một loại “hoạt động lời nói”có sự giao thoa, đan kết giữa
yếu tố tâm lý và ngôn ngữ. Vì thế, kể chuyện được xem như là một hoạt động
phát triển trẻ một cách tích hợp và toàn diện các mặt nhận thức, ngôn ngữ,
tình cảm và tâm vận.
Tóm lại, theo cách hiểu của chúng tôi kể chuyện là một hoạt động,
đó là sự trình bày bằng miệng một cách cặn kẽ, liên kết một hiện tượng nào
đó.
1.3.
Những vấn đề lí luận về biện pháp phát triển vốn từ
1.3.1. Đặc điểm phát triển của trẻ MG 5 – 6 tuổi
1.3.1.1. Đặc điểm tâm – sinh lý có ảnh hưởng đến việc phát triển vốn từ
Đặc điểm sinh lý của trẻ MG 5 – 6 tuổi
Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là hoàn chỉnh hóa về hình thái cũng
như chức năng của hệ thần kinh. Đồng thời phát triển với nó là phát triển của
hệ cơ nên hoạt động đi lại của trẻ đã làm thay đổi một số hoạt động sinh lý.
16
Đặc điểm ở lứa tuổi này là tốc độ tăng chiều cao và cân nặng giảm,
chiều cao tăng mỗi năm từ 5 – 8cm, cân nặng tăng 2kg/năm.
động, các chức năng tâm lý được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt
động tâm lý (nhận thức tình cảm, ý chí) để hình thành việc xây dựng những
cơ sở ban đầu của con người [31].
Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày
Lứa tuổi mẫu giáo là thời kì bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các
hiện tượng ngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt
tốc độ khá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em điều sử dụng
tương đối thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày. Sự hoàn thiện
đó ở trẻ 5 – 6 tuổi theo các hướng sau:
+ Nắm vững ngữ âm ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ: do hoạt động giao
tiếp được mở rộng, tai âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các
ngữ âm khi nghe người lớn nói. Mặt khác, các cơ quan phát âm đã trưởng
thành đến mức có thể phát ra những âm thanh tiếng mẹ đẻ tương đối chuẩn.
Trẻ biết điều chỉnh giọng nói và sử dụng ngữ điệu cho phù hợp với nội dung
và hoàn cảnh giao tiếp.
+ Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp: Vốn từ trẻ tích lũy được khá phong
phú cả về số lượng và từ loại. Trẻ có vốn từ và có kĩ năng kết hợp các từ
trong câu theo quy tắc ngữ pháp để có thể diễn đạt được các mặt trong đời
sống. Khả năng ngôn ngữ của trẻ có quan hệ trực tiếp với điều kiện sống và
giáo dục. Ở đây có sự khác biệt về cá nhân thể hiện rõ hơn so với bất kì lĩnh
vực nào khác trong sự phát triển tâm lí của trẻ.
Sự lĩnh hội ngôn ngữ còn được quyết định bởi tính tích cực của bản
thân trẻ em đối với ngôn ngữ. Những trẻ năng giao tiếp có ham muốn tìm
hiểu các hiện tượng ngôn ngữ (tức là ngôn ngữ đã trở thành đối tượng của ý
thức) thì không những hiểu được từ ngữ và nắm vững ngữ pháp mà còn có
khả năng sáng tạo ra những từ ngữ mới, những cách nói so sánh ví von, giàu
hình ảnh. Trong khi sử dụng ngôn ngữ, trẻ đã bắt đầu tìm hiểu nghĩa của từ
và nguồn gốc của nó.
18
hay sự tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công và
19
thất bại của mình, về những ưu điểm và khuyết điểm của mình… Ở trẻ 5 – 6
tuổi, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ.
Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng, giúp trẻ điều khiển và điểu chỉnh hành
vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực, những qui tắc của xã hội.
Đồng thời còn cho phép trẻ thực hiện các hành động một cách chú tâm hơn,
nhờ đó các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt.
Do sự xác định ý thức của bản ngã được rõ ràng hơn và các quá trình
tâm lí không chủ định chuyển dần sang quá trình tâm lý mang tính chủ định,
làm cho các hành động ý chí của trẻ ngày càng được bộc lộ rõ nét trong hoạt
động vui chơi và trong cuộc sống.
Xuất hiện kiểu tư duy trực quan mới và những yếu tố của
kiểu tư duy logic
Trẻ 4 – 5 tuổi phát triển mạnh kiểu tư duy trực quan hình ảnh. Kiểu tư
duy này không đáp ứng được nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh ở trẻ
5 – 6 tuổi, đó là động lực để xuất hiện kiểu tư duy mới – tư duy trực quan sơ
đồ. Tư duy trực quan – sơ đồ giúp trẻ một cách có hiệu quả để lĩnh hội những
tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó mà hiểu được bản chất của sự vật. Kiểu
tư duy trực quan – sơ đồ phát triển cao sẽ dần trẻ đến ngưỡng cửa của tư duy
trừu tượng, sẽ cho phép trẻ hiểu những biểu diễn sơ đồ khái quát mà sau này
sự hình thành khái niệm sẽ được tiến hành chủ yếu dựa trên đó. Kiểu tư duy
logic được hình thành và phát triển mạnh ở tuổi học sinh nhưng những yếu
tố của nó đã có thể xuất hiện ở tuổi mẫu giáo, đặc biệt đối với trẻ 5 – 6 tuổi.
1.3.1.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
Vốn từ xét về mặt số lượng
Từ 5 – 6 tuổi, vốn từ của trẻ bình quân đến 1.033 từ; tính từ và các loại
từ khác chiếm một tỉ lệ cao hơn. [30]
vật cùng loại: búp bê, bóng, cốc, nhà,…
- Mức độ 2: Khái quát hơn: quả (cam, táo, xoài); xe (đạp, máy, ôtô);
con (gà, chó, mèo);…
21
- Mức độ 3: Ở mức độ cao hơn mà trẻ 5 – 6 tuổi có thể nắm được:
phương tiện giao thông: ôtô, tàu thủy, xe máy,…; đồ vật: đồ chơi, đồ nấu bếp,
đồ dùng học tập, …
- Mức độ 4: Khái quát tối đa, gồm những khái niệm trừu tượng: số
lượng, chất lượng, hành động,… (học ở cấp phổ thông).
Đối với trẻ em tuổi mầm non, khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa
biểu danh (mức độ zêrô và 1). Mức độ 2 và 3 chỉ dành cho trẻ mẫu giáo, đặc
biệt là mẫu giáo lớn (chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ cũng đã quan
tâm đến việc cung cấp vốn từ khái niệm cho trẻ mẫu giáo lớn).
Vốn từ tích cực và thụ động
Trẻ mẫu giáo lĩnh hội vốn từ ngữ chỉ là bước đầu nên không phải tất
cả các từ chúng tiếp nhận và sử dụng được ngay. Có những từ ngữ tích cực,
trẻ hiểu và sử dụng trong giao tiếp được. Loại này có số lượng hạn chế. Loại
vốn từ thụ động bao gồm những từ trẻ mới lĩnh hội. Kinh nghiệm sống và tri
thức còn nghèo nàn nên trẻ chưa hiểu rõ nghĩa của từ nên không sử dụng
được.
- Từ ngữ tích cực: vốn từ bao gồm những từ người ta hiểu và sử dụng
trong giao tiếp được.
- Vốn từ thụ động: Hiểu mà không sử dụng được. Khi nghe người khác
nói, ta hiểu, nhiều khi đoán hết nghĩa của từ nào đó nhưng lại không sử dụng
vào giao tiếp được. Trẻ mẫu giáo có giai đoạn chỉ nghe hiểu mà không nói
được. Tích cực hóa vốn từ (chuyển từ thụ động sang từ tích cực) là một nội
dung quan trọng của giáo dục ngôn ngữ.
1.3.2. Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ MG 5 – 6 tuổi trong chương
trình GDMN và Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi
Chương trình GDMN mới biên soạn trên cơ sở quy định của Luật giáo
dục, được Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo kí ban hành theo Thông tư số
17/2009/ Thông tư – Bộ Giáo Dục – Đào Tạo ngày 25/7/ 2009 đã kế thừa
những ưu việt của các Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ trước đây và được
phát triển trên quan điểm đáp ứng sự đa dạng của vùng miền, các đối tượng
trẻ, hướng đến sự phát triển toàn diện cho trẻ.
23
Chương trình GDMN đổi mới, được xây dựng theo hướng tích hợp sẽ
góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ toàn diện trong trường
mầm non hiện nay. Chương trình này được xây dựng dựa trên quan điểm giáo
dục tích hợp theo chủ đề, lấy trẻ làm trung tâm và phát huy tính tích cực tự
giác của trẻ. Theo quan điểm này, nội dung giáo dục nhận thức cho trẻ mầm
non được tích hợp theo các chủ đề, các đề tài cụ thể gắn liền với cuộc sống
thực của trẻ. Nội dung dạy trẻ được xây dựng theo các chủ điểm và thay các
giờ học riêng biệt của từng môn bằng “hoạt động chung”. Trong mỗi kế hoạch
giáo dục hằng ngày giáo viên kết hợp một cách linh hoạt và hợp lý các nội
dung, các hình thức dạy học phù hợp với khả năng của trẻ và điều kiện dạy
học cụ thể ở trường, lớp. Ngoài ra, nội dung giáo dục không chỉ được khai
thác trong hoạt động chung có mục đích học tập ở trên lớp mà còn được lồng
ghép một cách tự nhiên vào hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, chế độ sinh
hoạt hằng ngày của trẻ ở trường mầm non. Nhờ vậy, việc phát triển trí tuệ
của trẻ trong đó có các thao tác tư duy cho trẻ nói chung và nâng cao khả
năng sử dụng vốn từ cho trẻ MG 5 – 6 tuổi nói riêng theo hướng đổi mới thực
sự trở nên tích cực hơn, thoải mái, thú vị hơn cho trẻ tránh được sự quá tải,
áp đặt.
Phát triển vốn từ cần kết hợp chặt chẽ với hoạt động nhận thức tích cực
bầm bập, lạnh cóng, lạnh buốt, lạnh thấu xương, nhanh như điện, chậm như
rùa, chậm như sên…
- Dạy trẻ phân biệt và sử dụng chính xác các từ chỉ không gian, thời gian
như: nhanh, chậm, chóng, sớm, muộn, gần, xa…
- Dạy trẻ sử dụng các quan hệ từ: thì, mà, là, nhưng, vì, bởi vì, thế mà…
để diễn đạt các mối quan hệ, giải thích nguyên nhân, kết quả của sự việc.
- Dạy trẻ sử dụng những từ mang nghĩa trừu tượng, tượng hình, tượng
thanh.
- Dạy trẻ sử dụng các biện pháp tư từ, đặc biệt là so sánh và nhân hóa.
So sánh ở mức độ đơn giản giữa vật này với vật kia (cái thước này dài hơn
cái thước kia). Dần dần, dạy trẻ so sánh ví von trong mối quan hệ từ với các
25