Một số kinh nghiệm nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 25 36 tháng tuổi ở trường MN nga nhân - Pdf 44

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

1. MỞ ĐẦU

1

1.1- Lý do chọn đề tài

1

1.2- Mục đích nghiên cứu

2

1.3- Đối tượng nghiên cứu

2

1.4- Phương pháp nghiên cứu

2

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN

2

2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm


17
17

1


1. MỞ ĐẦU
1. 1. Lý do chọn đề tài:
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển của mỗi quốc
gia, dân tộc, đôi khi còn là nhân tố đảm bảo sự ổn định và tiến bộ của mỗi quốc
gia, dân tộc đó. Chẳng những thế, ngôn ngữ còn góp phần quan trọng trong việc
kế thừa và bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc. Sinh thời, Hồ Chí Minh rất quan
tâm đến việc sử dụng và bảo vệ tiếng Việt, Người thường nhắc nhở mọi người
phải biết giữ gìn và quý trọng tiếng Việt. Bác đã căn dặn chúng ta: “Ngôn ngữ
là thứ của cải vô cùng lâu đời, vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải
quý trọng nó, giữ gìn nó và làm cho nó phát triển ngày càng rộng khắp” [1].
Vì vậy ngay từ bậc học mầm non chúng ta cần phải chú trọng đến việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ chuẩn xác nhất. Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là
tương lai của xã hội. Trẻ em hôm nay là những công dân tương lai của đất nước,
việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ là trách nhiệm của nhà nước và toàn xã hội,
của mỗi gia đình. Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những
nguyện vọng của mình từ khi cón rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều
khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt
động và trong hoạt động hình thành nhân cách của trẻ. Ngôn ngữ phát triển làm
cho tư duy phát triển, ngôn ngữ phát triển toàn diện của trẻ bao gồm cả sự phát
triển vế đạo đức, chuẩn mực hành vi văn hóa, ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm
tiếp thu những giá trị thẩm mĩ trong thơ ca, truyện kể, những tác phẩm nghệ
thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thể đem đến cho trẻ từ những ngày thơ ấu,
sự tác động của lời nói nghệ thuật như một phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm
mĩ cho trẻ.

giáo dục nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 25-36 tháng ở trường Mầm
non Nga Nhân, và nâng cao dần ngôn ngữ cho trẻ.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Tại nhóm trẻ 24- 36 tháng, trường Mầm non Nga Nhân
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Khảo sát thực tế nhóm lớp, thu thập thông tin
- Thống kê, xử lý số liệu
- Cung cấp kiến thức bằng các phương pháp giáo dục: tác động bằng tình
cảm, trực quan minh họa, thực hành, dùng lời nói và đánh giá nêu gương.
- Phối kết hợp với các bậc phụ huynh, tham mưu với cấp trên trong việc
nghiên cứu và thực hiện đề tài.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Ngôn ngữ của trẻ cũng như mọi hành vi khác được hình thành do thao tác
quyết định, và sự “bắt chước” là rất quan trọng. Những thao tác về ngôn ngữ
cùng với sự giúp đỡ của người lớn sẽ cho trẻ nhanh chóng trưởng thành về ngôn
ngữ. U. Sinxki đã nhận định “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là
vốn quý của mọi tri thức” [2]
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ Trước hết,
ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giớ xung quanh. Song sự lĩnh
hội những tri thức đó lại không thể thực hiện được khi không có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi suy nghĩ và công cụ của tư duy. Trẻ em
có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh, trong quá trình
nhận thức những sự vật hiện tượng, muốn cho các cháu phân biệt các vật này
với vật khác, biết được tên giọi, hình dạng, công dụng, và những thuộc tính cơ
bản của vật, nếu chỉ cho các cháu xem xét mà không dùng từ ngữ để giải thích,
hướng dẫn và khẳng định những kết quả đã quan sát được thì những tri thức mà
các cháu thu được đó nhất định sẽ hời hợt, nông cạn, có khi còn sai lệch hẳn.
Trong khi nhận thức các sự vật đó, trẻ phải dùng từ để gọi tên sự vật, tên các chi
tiết, đặc điểm, tính chất, công dụng của sự vật, từ đó trẻ biết phân biệt sự vật nà

- Đối với nhà trường và cơ sở vật chất:
Trường Mầm non Nga Nhân có phòng học rộng rãi, có đầy đủ trang thiết
bị đồ dùng đồ chơi cho trẻ học tập, có đội ngũ quản lý, đội ngũ giáo viên đạt
chuẩn, yêu nghề mến trẻ, có trình độ chuyên môn vững vàng, tích cực học tập
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng chăm
sóc giáo dục trẻ.
Trường được các cấp các ngành của xã quan tâm đầu tư xây dựng ngôi
trường khang trang, sạch đẹp, có các phòng học, đồ dùng đồ chơi phong phú về
chủng loại để các đến trường được ăn ngủ tại trường nên thuận tiện cho việc tích
hợp hoạt động trong việc làm quen với ngôn ngữ của trẻ 25-36 tháng cho trẻ ở
mọi lúc mọi nơi.
Đồ dùng đồ chơi trang thiết bị phục vụ cho hoạt động phát triển ngôn ngữ
tương đối đầy đủ.
Đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phong
phú về màu sắc và hình ảnh, hấp dẫn thu hút trẻ.
- Đối với phụ huynh
Đa số phụ huynh trong lớp quan tâm đến việc học tập của con em mình,
cùng phối kết hợp với giáo viên trong lớp để thống nhất phương pháp giáo dục
trẻ đặc biệt là hoạt động làm quen với ngôn ngữ. Ngoài ra phụ huynh còn tìm
kiếm các nguyên liệu để cùng với giáo viên làm thêm những đồ dùng, đồ chơi
4


phục vụ cho hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ. Điều này có tác dụng rất lớn
trong việc tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với phát triển ngôn ngữ.
- Đối với giáo viên:
Bản thân có trình độ đạt chuẩn, có năng lực, phương pháp, tác phong tốt.
Luôn nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ và đã trải qua nhiều năm kinh nghiệm dạy lớp
25- 36 tháng nên đã rút được nhiều kinh nghiệm cũng như tìm ra nhiều biện
pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất.

phát âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ
mạch lạc, giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói. Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương
tiện phát triển thẩm mỹ, tình cảm, đạo đức. Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ mà trẻ dễ
dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt
hơn. Chính vì vậy mà trong quá trình dạy trẻ tôi đã mạnh dạn áp dụng một số
biện pháp dạy trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua một số hoạt động sau:
5


2.3.1. Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi:
- Hoạt động đón, trả trẻ.
Hoạt động đón trẻ là lúc cần tạo không khí vui vẻ, lôi cuốn trẻ tới trường,
tới lớp cô phải thật gần gũi, tích cực trò chuyện với trẻ. Vì trò chuyện với trẻ là
hình thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ cho trẻ và phát triển ngôn ngữ cho
trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ mạch lạc. Bởi qua cách trò chuyện với trẻ cô mới có thể
cung cấp, mở rộng vốn từ cho trẻ.
Ví dụ: Trong chủ đề: Bé và gia đình thân yêu của bé
Cô trò chuyện với trẻ về gia đình của trẻ:
+ Gia đình con có những ai? (bố, mẹ)
+ Buổi sáng ai đưa con đến lớp? (mẹ)
+ Con được gặp ai? (cô giáo)
Tôi nhắc nhở trẻ khi đến lớp phải chào cô, chào mẹ. Con chào cô ạ, con
chào mẹ
(Hình ảnh minh họa kèm theo phụ lục 2)
- Như vậy khi trò chuyện với cô trẻ tự tin vào vốn từ của mình, ngôn ngữ
của trẻ nhờ đó mà được mở rộng và phát triển hơn.
- Ngoài ra trong giờ đón trẻ, trả trẻ tôi luôn nhắc trẻ biết chào ông, bà, bố,
mẹ như vậy kích thích trẻ trả lời câu trọn vẹn bên cạnh đó giáo dục trẻ có thói
quen lễ phép, biết vâng lời.
- Giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc:

+ Dũng ơi, ô tô này có màu gì hả con? (Màu đỏ ạ)
Với góc “Nghệ thuật bé khéo tay” ở chủ đề “Thế giới thực vật - Bé yêu
cây và những bông hoa đẹp” tôi vẽ tranh chiếc lá màu xanh, bông hoa màu
vàng để cho trẻ tô màu. Trẻ sẽ tô màu sắc tạo thành sản phẩm của mình. Tôi thấy
trẻ rất khéo léo, chăm chú khi làm. Khi trẻ làm tôi ân cần đến bên trẻ trò chuyện
cùng trẻ:
+ Con đang làm gì vậy? (Con tô màu ạ)
+ Bông hoa màu gì của con có màu gì? (Màu vàng ạ)
+ Cái gì đây? Cái lá ạ
+ Con tô lá màu gì? (Màu xanh ạ)
Ví dụ: Ở góc xây dựng khi trẻ đang xếp ao cá tôi đến hỏi trẻ “Các bác ơi
các bác xếp gì thế”, “chúng tôi xếp ao cá”. “Vậy xếp xong ao rồi phải làm gì”
“Thả cá vào ao”.
Như vậy bằng những cuộc trò chuyện thân mật, gần gũi, những câu hỏi,
câu trả lời đơn giản, thông qua hoạt động chơi không những rèn cho trẻ sự khéo
léo mà còn góp phần làm tăng vốn từ, phát triển ngôn ngữ mạnh lạc cho trẻ.
- Giáo dục ngôn ngữ thông qua hoạt động dạo chơi ngoài trời:
Hàng ngày đi dạo chơi quanh sân trường tôi thường xuyên đặt câu hỏi để
trẻ được gọi tên các đồ chơi quanh sân trường như: Đu quay, cầu trượt, bập
bênh… Ngoài ra tôi còn giới thiệu cho trẻ biết cây xanh, cây hoa ở vườn trường
và hỏi trẻ:
+ Cây hoa này có màu gì? (Màu đỏ ạ)
+ Đây là cây gì? (Cây nhãn ạ)
+ Các con có nhìn thấy con gì đang bay đến không?
+ Con gì vậy? (Con chim)
+ Các con nhớ cây xanh rất tốt cho sức khoẻ của con người các con
không được hái hoa, bẻ cành mà phải tưới cây để cây mau lớn nhé! (Vâng ạ)
Qua những câu hỏi cô đặt ra sẽ giúp trẻ tích luỹ được những vốn từ mới
ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chính xác, mạch lạc, rõ ràng hơn.
Ở lứa tuổi này trẻ nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không hoặc nói những

thú cho trẻ một cách phù hợp, hấp dẫn thu hút sự chú ý của trẻ vào nội dung bài
dạy sau đó cô đưa từng con vật ra và hỏi trẻ: Con gì đây? nó kêu như thế nào?
Khi trẻ trả lời song theo câu hỏi của cô, cô tiếp tục đặt hai con vật cạch nhau và
đặt câu hỏi: con gì đây? Kêu như thế nào? con gì kêu éc…éc? Con gì kêu bò…
bò?. Cô mở rộng tiết dạy bằng cách hỏi trẻ nhà các cháu nuôi con gì? nó kêu
như thế nào? con gì nữa?... Ngoài những con vật đó thì trong gia đình các con
còn nuôi những con gì nữa sau đó cô cho trẻ so sánh những đặc điểm giống nhau
và khác nhau rõ nét giữa các con vật.
Cô cho trẻ xem tranh con bò, con lợn và đặt các câu hỏi như trên. cuối giờ
học cô có thể cho trẻ chơi trò chơi bắt chước tiếng kêu của con vật nhằm phát
huy tính tích cực của trẻ, tận dụng mọi cơ hội để phát triển ngôn ngữ, trí tuệ,
tình cảm cho trẻ.
+ Nếu nội dung bài dạy giúp trẻ làm quen với đặc điểm của một vật, thì
một lần luyện tập Cô cho trẻ làm quen với 4 -> 5 đặc điểm của vật đó.
Ví dụ: Trong bài nhận biết tập nói: “Con thỏ” cô tạo tình huống gây hứng
thú cho trẻ một cách nhẹ nhàng, hấp dẫn thu hút trẻ. Sau khi cho thỏ xuất hiện
cô mượn lời thỏ chào trẻ và dạy chào bạn thỏ, cô đặt câu hỏi: con gì đây? tai thỏ
thế nào? lông thỏ mầu gì? đuôi thỏ thế nào? thỏ thích ăn gì? với hệ thống câu
hỏi này nhăm phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua việc làm quen với một số đặt điểm
rõ nét về con thỏ.
Ví dụ: Trong bài nhận biết “Quả cam” tôi cung cấp vốn từ mới “quả
cam”, “màu vàng”, “cái vỏ”, “múi cam”, “hạt”, “vị ngọt”… Và tạo cơ hội để trẻ
được đọc từ nhiều. Tôi chuẩn bị mô hình vật thật cho trẻ khám phá và trải
nghiệm bằng các giác quan, sò, ngửi, nếm. Để kích thích sự tò mò và tạo cơ hội
8


cho trẻ được sử dụng các giác quan để khám phá về quả cam. Tôi đã chuẩn bị
chiếc túi kỳ lạ. Sau đó cho trẻ sờ và tìm quả theo yêu cầu của cô. Trẻ sử dụng
các giác quan như: sờ, nhìn, ngửi, nếm nhằm phát huy tính tích cực của tư duy,

thực tế giáo dục trẻ về an toàn giao thông khi đi trên đường.
- Loại bài dạy ôn luyện:
Cho trẻ ôn luyện các vật đã học trong tháng, lúc đầu cô cho trẻ xem, nhắc
lại từng vật một sau đó cho trẻ nhận biết lựa chọn tất cả các vật cùng một lúc,
mỗi lần cho trẻ luyện tập gồm :
Bước 1: Quan sát.
Khi cho trẻ quan sát vật, cô không nói ra ngay tên gọi, đặc điển của vật
mà nên đặt thành câu hỏi ngắn gọn, chính xác để dịnh hướng sự trả lời của trẻ
và phát huy tính chủ động, tích cực trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Nếu
trẻ không trả lời được, cô nói cho trẻ biết và đặt lại câu hỏi để trẻ nhắc lại.
9


Bước 2: Luyện tập.
Trong bước luyện tập cô nên đưa ra nhiều dạng câu hỏi để trẻ trả lời.
Ví dụ:
+ Con gì đây?
+ Cái gì đây?
+ Để làm gì?
+ Như thế nào?
+ Có cái gì?...
Cùng một nội dung trả lời, cô phải đặt nhiều dạng câu hỏi khác nhau. Ví
dụ:
+ Gà gáy thế nào?
+ Con gì gáy ò…ó…o ?
Với những câu hỏi trên nhằm phát triển ngôn ngữ đồng thời kích thích sự
phát triển tư duy cho trẻ.
- Thông qua hoạt động làm quen với văn học (giờ thơ, truyện):
Trên tiết học khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngôn
ngữ nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc, giúp trẻ

đầy đủ câu. Khi đã thu hút và sự chú ý của trẻ vào bài học một cách nhẹ nhàng.
các lần dạy sau trẻ tập kể bằng cách đưa ra các mẫu câu cho trẻ tập nói theo cô.
Ngoài việc giúp trẻ thể hiện ngữ điệu, sắc thái tình cảm của các nhân vật trong
truyện tôi còn sửa sai những từ trẻ hay nói ngọng để giúp trẻ phát âm chuẩn và
động viên những trẻ nhút nhát mạnh dạn hơn khi trả lời.
+ Trẻ nói Thỏ ngoan
Thỏ ngan
+ Bác Gấu
Bác ấu
+ Con Cáo
Con áo
Mỗi khi trẻ nói sai tôi dừng lại sửa sai luôn cho trẻ bằng cách: tôi nói mẫu
cho trẻ nghe 1-2 lần sau đó yêu cầu trẻ nói theo.
- Thể hiện sắc thái, ngữ điệu nhân vật sẽ cuốn hút rất nhiều trẻ tham gia
đặc biệt những trẻ nhút nhát qua đó cũng mạnh dạn hơn. Đối với những trẻ đó
tôi động viên, khích lệ trẻ kịp thời.
- Tôi cho trẻ thể hiện ngữ điệu của các nhân vật trong truyện “Thỏ
ngoan” để bước đầu dạy trẻ tiếp cận với ngôn ngữ nghệ thuật.
+ Giọng Bác Gấu bị mưa rét thì ồm ồm và run, nét mặt buồn.
+ Giọng con Cáo thì gắt gỏng, nét mặt kênh kiệu.
+ Giọng Thỏ thì ân cần, niềm nở.
Ví dụ: Trẻ nghe câu truyện “Đôi bạn nhỏ”. Tôi cung cấp vốn từ cho trẻ đó
là từ “Bới đất”. Cô có thể cho trẻ xem tranh mô hình một chú gà đang lấy chân
để bới đất tìm giun và giải thích cho trẻ hiểu từ “Bới đất”.
(Các con ạ, bản năng của những chú gà là mỗi khi đi kiếm ăn các chú phải
lấy chân để bới đất, đào đất lên để tìm thức ăn cho mình, khi kiếm được thức ăn
chú gà sẽ lấy mỏ để ăn đấy). Sau khi giải thích tôi cũng chuẩn bị một hệ thống
câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung truyện và từ vừa học:
+ Hai bạn Gà và Vịt trong câu truyện cô kể rủ nhau đi đâu?
+ Vịt kiếm ăn ở đâu?

- Ở đây có rất nhiều loại hoa khoe sắc, chúng mình cùng đi ngắm hoa
nào!.
- Cô chỉ vào từng loại hoa cho trẻ quan sát gọi tên và màu sắc của hoa.
- Các loại hoa có vẽ đẹp khác nhau nhưng đều có ích lợi làm đẹp cảnh
quang môi trường và vì thế cô có một bài thơ nói về các loài hoa rất hay các con
hãy lắng nghe xem có những loại hoa gì nhé.
+ Hoạt động 2: Cô đọc mẫu
- Cô đọc thơ lần 1.
- Cô đọc thơ lần 2, cho trẻ xem tranh.
- Cô đọc lần 3.
*Trẻ đọc:
- Cô cho cả lớp đọc 1-2 lần.
- Cho hai tổ đọc nối tiếp.
- Cho trẻ đọc to, đọc nhỏ.
- Cá nhân đọc.
*Đàm thoại:
- Cô đưa hình thức “Đố vui có thưởng”.
- Hai đội sẽ thi nhau lắc nhịp để trả lời câu hỏi, nếu đúng sẽ được một
phần quà.
+ Các con thấy có những loại hoa nào trong bài thơ?
+ Hoa cà có màu gì? Hoa mướp có màu gì?.....
+ Nhà thơ đã nhắc các bạn nhỏ điều gì?
+ Vì sao các bạn nhỏ đừng nên hái hoa tươi?
* Giáo dục: Các con không được hái hoa vì hoa làm đẹp cho môi trường,
hoa còn kết trái để có quả chín cho các con ăn nữa, các con phải biết chăm sóc
cây để cây cho nhiều hoa thêm nữa.
Ví dụ: Qua bài thơ “Cây bắp cải” tôi muốn cung cấp cho trẻ từ “Sắp vòng
quanh”. Tôi chuẩn bị một chiếc bắp cải thật để cho trẻ quan sát, trẻ phải được
nhìn, sờ, ngửi…..và qua vật thật tôi sẽ giải thích cho trẻ từ “sắp vòng quanh”.
12

Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ
có mục đích, biết dùng ngôn ngữ và động tác cơ bản để miêu tả những hình ảnh
đẹp của bài hát.
Ví dụ: Hát và vận động bài “Con voi”
+ Câu đầu tiên: Con vỏi con voi
Cái vòi đi trước.
(Trẻ đưa tay ra phía trước giả làm vòi con voi)
+ Câu thứ hai: Hai chân trước đi trước
Hai chân sau đi sau.
(Hai tay chống hông, hai chân nhấc lên nhấc xuống)
+ Câu cuối:
Còn cái đuôi đi sau rốt
Tôi xin kể nốt
Câu chuyên con voi.
(Một tay chống hông, một tay đưa ra đằng sau vờ làm đuôi con voi)
- Thông qua hoạt động thể dục vận động :
13


Trong góc vận động của lớp tôi đã sử dụng những thùng bìa để làm thành
tàu hoả cho trẻ chơi. Mỗi thùng làm thành một toa tàu. Trong khi chơi trẻ có thể
vừa chơi vừa kết hợp âm nhạc hát: “Đoàn tàu tí hon”, “Tàu vào ga”… vận dụng
vào phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Tôi còn phân loại màu xanh, đỏ, vàng của những chiếc vòng để khi trẻ
phân biệt màu không bị nhầm lẫn. Khi trẻ chơi với vòng tôi có thể hỏi trẻ giúp
ngôn ngữ của trẻ thêm mạch lạc, rõ ràng hơn:
+ Vòng này có màu gì hả con? (Màu vàng ạ)
+ Thế còn vòng này có màu gì đây? (Màu đỏ ạ)
* Kết quả: Từ thực tế cho thấy, sau khi áp dụng biện pháp 2 vào thực
tiễn hàng ngày, thông qua các giờ hoạt động chơi tập, ngôn ngữ của trẻ phát

+ Cái áo để làm gì?
( Cái áo để mặc ạ)
…………………..
………………
14


Sau khi hỏi trẻ xong tôi vận dụng trò chơi này để rèn sự nhanh nhẹn và tư
duy của trẻ. Tôi phát cho mỗi trẻ một lô tô đồ dùng khác nhau. Tôi yêu cầu trẻ
gọi tên đồ dùng và xác định nơi cất đồ dùng đó trong lớp. Sau đó tôi hô: 1,2,3
yêu cầu trẻ chạy nhanh về đúng nơi đồ dùng.
- Trò chơi 2: “Con muỗi”
- Cô đứng phía trước trẻ, cô cho trẻ đọc và làm động tác theo cô.
- Cô cho trẻ đọc từng lời một có kèm theo động tác:
+ Có con muỗi vo ve, vo ve. (Trẻ giơ ngón tay trỏ ra trước mặt vẫy qua
vẫy lại theo nhịp đọc)
+ Đốt cái tay, đốt cái chân, rồi bay đi xa. (Lấy ngón tay trỏ vào cánh tay
đối diện, chỉ xuống đùi rồi dang 2 tay sang ngang).
+ Úi chà! úi chà! Dang tay ra đánh cái bép, con muỗi xẹp. Rửa tay. (Nhún
vai 2 lần, dang 2 tay sang ngang, vỗ tay một cái rồi chỉ vào chóp mũi. Sau đó
xoa 2 tay vào nhau vờ rửa tay).
- Tuỳ theo sự hứng thú của trẻ mà cho trẻ chơi 3- 4 lần. Khi trẻ chơi tôi
nhận thấy tất cả các trẻ đều tham gia đọc cùng cô, có trẻ đọc được cả câu, có trẻ
bập bẹ bớt một hai từ. Nhưng qua đó cũng giúp ngôn ngữ của trẻ dần dần được
hình thành trọn vẹn hơn .
(Hình ảnh minh họa kèm theo phụ lục 4)
- Trò chơi 3: “Trò chuyện về các PTGT quen thuộc”.
- Qua trò chơi này trẻ sẽ kể được một số phương tiện giao thông quen
thuộc như: ô tô, xe đạp, xe máy, tàu hoả….
* Chuẩn bị:

* Khi cho ăn:
+ “Bạn Hùng ăn giỏi nào, con ăn cơm với gì đấy?”
+ “Bạn Hà ăn được mấy bát cơm rồi?”
* Khi thay quần áo cho trẻ cô cũng cần nựng trẻ:
+ “Cô Dương mặc áo đẹp cho Minh nhé?”
+ “Áo đẹp này ai mua cho con?”
+ Con có biết mẹ mua ở đâu không?
+ Con có thích mặc áo này không?
* Khi ngồi chơi cô trò chuyện với trẻ về một chủ đề nào đấy để khơi gợi
trẻ được phát âm nhiều:
+ Bạn Chi có bàn tay bé xíu trông rất đáng yêu này!
+ Hàng ngày các con phải làm gì để đôi bàn tay luôn sạch?
+ Thế đôi bàn tay để làm gì các con có biết không?
* Kết quả: Phải khẳng định rằng “Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ
mầm non”, đặc biệt khi được tham gia vào các trò chơi trẻ vô cùng hứng thú, trẻ
được thỏa sức giao lưu cùng cô, cùng các bạn, trẻ biết thực hiện những yêu cầu
của trò chơi, bên cạnh đó trẻ cũng được đưa ra những ý kiến riêng về cách chơi,
luật chơi mà trẻ thích theo sự gợi mở của cô giáo, từ đó mà vốn từ của trẻ ngày
càng phong phú, trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
2.3.4. Thường xuyên phối kết hợp với phụ huynh để phát triển ngôn
ngữ cho trẻ khi ở nhà.
Để vốn từ của trẻ phát triển tốt không thể thiếu được đó là sự đóng góp
của gia đình. Việc giáo dục trẻ ở gia đình là rất cần thiết tôi luôn kết hợp chặt
chẽ với phụ huynh trao đổi thống nhất về cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và kế
hoạch lịch sinh hoạt dạy học cho từng tháng, từng tuần cho phụ huynh nắm bắt
được.
Vì đây là trẻ nhà trẻ, trẻ bắt đầu tập nói tôi trao đổi với phụ huynh về ý
nghĩa phát triển vốn từ cho trẻ và yêu cầu phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo
trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hàng ngày phụ huynh phải dành nhiều
thời gian thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, cho trẻ được tiếp xúc nhiều hơn với

* Đối với hoạt động giáo dục:
Nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động sẽ góp phần phát triển ngôn
ngữ cho trẻ nhanh và chính xác nhất. Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện cho trẻ ở trường mầm non. Phần lớn số trẻ trong lớp đã có một số vốn
từ rất khá, các cháu nói năng mạch lạc, rõ ràng mạnh dạn, tự tin hơn trong khi
giao tiếp, biết nói đủ câu hoàn chỉnh, trẻ không còn nói ngọng, nói lắp như
trước.
Ngôn ngữ của trẻ đã phong phú hơn và trẻ đã biết vận dụng vốn từ vào
cuộc sống hàng ngày.
* Đối với bản thân:
- Tạo được môi trường phong phú phù hợp với nội dung của từng chủ đề
- Có kỹ năng tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách
tự tin, linh hoạt. Có nhiều kinh nghiệm trao đổi với phụ huynh phương pháp
giáo dục cung cấp vốn từ, phát triển ngôn ngữ cho trẻ cả khi ở nhà.
* Đối với đồng nghiệp: Sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã được hội đồng
khoa học nhà trường đánh giá cao, được các đồng nghiệp ở trường áp dụng rộng
rãi trong quá trình tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
* Đối với nhà trường: Chất lượng tổ chức hoạt động hoạt động phát triển
ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường ngày càng vững chắc.
17


Phụ huynh quan tâm hơn đối với tình hình học tập của con em mình khi
ở nhà giúp cô giáo đỡ vất vả hơn trong công tác rèn trẻ nói đúng.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1- Kết luận:
“Phát triển ngôn ngữ” giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống giao tiếp
hàng ngày và hoạt động nhận thức của con người nói chung, sự phát triển tâm lý
nhận thức của trẻ nói riêng, đặc biệt là trẻ lứa tuổi 25- 36 tháng khả năng ngôn

Nga Nhân , ngày 10 tháng 4 năm 2017
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết
không sao chép nội dung của người khác
Người viết
Khương Thị Dương
18


PHỤ LỤC
KÈM THEO SKKN “MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN

NGÔN NGỮ CHO TRẺ ĐỘ TUỔI 25-36 THÁNG Ở TRƯỜNG
MẦM NON NGA NHÂN”
Phụ lục 1: Bảng kết quả khảo sát
* Kết quả khảo sát ban đầu:
Phân loại khả năng
Khả năng nghe hiểu
ngôn ngữ và phát âm
Vốn từ
Khả năng nói đúng ngữ
pháp
Khả năng giao tiếp

Đạt

Tổng
số

Tốt

%
22

40
40

9
8

22
20

9
10

22
25

12
13

31 10
33 9

25
22

40

7

Khá

TB

Yếu

40
40

Sl
12

% Sl
30 15

% Sl
37 10

%
25

Sl
3

%
8

40
40


8

14

19


Phụ lục 2: Hình ảnh minh họa giải pháp: 2.3.1. Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở
mọi lúc mọi nơi

Hình ảnh trẻ chào cô giáo, chào mẹ khi đến lớp trong hoạt động đón trẻ

20


Phụ lục 3: Hình ảnh minh họa giải pháp: 2.3.2.Giáo dục ngôn ngữ thông
qua các hoạt động chơi – tập có chủ định.

Hình ảnh mình họa hoạt động nhận biết ô tô

21


Phụ lục 4: Hình ảnh minh họa giải pháp: 2.3.3. Thường xuyên tổ chức các
trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ, tăng vốn từ và kích thích trẻ nói câu dài.

Hình ảnh cô và trẻ cùng chơi trò chơi “con muỗi”
Phụ lục 4: Hình ảnh minh họa giải pháp: 2.3.3. Thường xuyên tổ chức
các trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ, tăng vốn từ và kích thích trẻ nói câu
dài.

qua hoạt động kể
chuyện sáng tạo
Một số biện pháp giúp
trẻ 4 – tuổi cảm thụ
văn học

3

Một số biện pháp dạy
trẻ 3 – 4 tuổi những kỹ
năng sống cơ bản ở

Cấp đánh giá
xếp loại (Phòng,
Sở, Tỉnh….)

Kết quả
đánh giá xếp
loại
(A,B hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

Phòng GD&ĐT

B

2011 - 2012


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status