BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
ẢNH HƯỞNG CỦA KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH ĐẾN
VIỆC TRÁNH THUẾ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc Sĩ Kinh Tế “Ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính đến
việc tránh thuế của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hổ trợ từ người hướng dẫn khoa học là
TS.Nguyễn Thị Uyên Uyên, và chưa từng được công bố trước đây. Các số liệu được
sử dụng để phân tích, đánh giá trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng và được tổng
hợp từ nguồn thông tin đáng tin cậy. Nội dung Luận văn đảm bảo không sao chép
bất cứ công trình nghiên cứu nào khác.
TP.HCM, ngày 30 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Quang Khánh
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
Trang
LỜI CAM ĐOAN
3.3.3.3 Biến LEV – Đòn bẩy tài chính ...................................................................... 26
3.3.3.4 Biến CINT – Cường độ vốn .......................................................................... 26
3.3.3.5 Biến COGS – Giá vốn hàng bán trên doanh thu ............................................ 27
3.3.3.6 Biến INVINT – Hàng tồn kho trên tổng tài sản .............................................. 27
3.3.3.7 Biến THAV – Lợi thế về thuế ....................................................................... 28
3.3.3.8 Biến MKTBK – Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách vốn cổ phần ................ 29
3.3.3.9 Biến giả INDSEC ......................................................................................... 29
3.3.4 Những mô hình hồi quy ................................................................................... 32
3.3.4.1 Mô hình thứ nhất .......................................................................................... 32
3.3.4.2 Mô hình thứ hai ............................................................................................ 32
3.3.4.3 Mô hình thứ ba ............................................................................................. 34
3.3.4.4 Mô hình thứ tư .............................................................................................. 34
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................... 38
4.1 Thống kê mô tả .................................................................................................... 38
4.2 Ma trận tương quan ............................................................................................. 40
4.3 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến ..................................................................... 43
4.3.1 Mô hình với biến đại diện MERTON ................................................................ 43
4.3.2 Mô hình với biến đại diện Xscore .................................................................... 44
4.3.3 Mô hình với biến đại diện Zscore ..................................................................... 46
4.4 Kiểm định phương sai thay đổi ........................................................................... 48
4.5 Kết quả hồi quy .................................................................................................. 49
4.6 Kiểm tra tính vững của mô hình .......................................................................... 52
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN ........................................................................................ 58
5.1 Kết luận .............................................................................................................. 59
5.2 Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu mở rộng ..................................... 60
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bảng 4.12 Kết quả đo lường kiệt quệ tài chính theo mô hình Z-score của Altman
(1968) – Mô hình cơ sở ............................................................................................ 53
Bảng 4.13 Kết quả đo lường kiệt quệ tài chính theo mô hình Z-score của Altman
(1968) – Mô hình mở rộng ........................................................................................ 54
Bảng 4.14 Kết quả đo lường kiệt quệ tài chính theo mô hình X-score của Zmijewski
(1984) – Mô hình cơ sở ............................................................................................ 55
Bảng 4.15 Kết quả đo lường kiệt quệ tài chính theo mô hình X-Score của
Zmijewski (1984) – Mô hình mở rộng ...................................................................... 56
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu kiểm định tác động của kiệt quệ
tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp và mức độ thay đổi hành
vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối
cảnh trước và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Để thực hiện
nghiên cứu này, tác giả dựa trên mẫu nghiên cứu của 178 doanh nghiệp phi tài
chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
(HSX) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn nghiên cứu
từ năm 2007 đến năm 2015 bằng phương pháp hồi quy có trọng số nhỏ nhất
WLS. Tác giả đo lường kiệt quệ tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam thông
qua thước đo dữ liệu tài chính của Altman và Zmijewski, và dữ liệu thị trường
của Merton.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, kiệt quệ tài chính có tác động đến hành vi tránh
thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam ngay trong bối
cảnh trước và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Nghiên cứu trưng
ra bằng chứng cho thấy, các doanh nghiệp kiệt quệ tài chính Việt Nam đều có
xu hướng gia tăng mức độ tránh thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, kết
quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng, sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008,
54.261 doanh nghiệp, trong năm 2013 là 60.737 doanh nghiệp, trong năm 2014 là
67.823 doanh nghiệp, trong năm 2015 là 80.858 doanh nghiệp1. Như vậy, chỉ trong
4 năm, từ năm 2011 đến năm 2015, số lượng doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt
động đã tăng lên, năm 2012 tăng 0.5% so với năm 2011, và năm 2015 tăng 19.5%
so với năm 2013. Phá sản có thể giúp thị trường thanh lọc những doanh nghiệp yếu
kém, giữ lại những doanh nghiệp hoạt động tốt. Nhưng với một số lượng quá nhiều
các doanh nghiệp phá sản cũng trở thành mối nguy hại cho nền kinh tế Việt Nam.
Chính vì lý do này, tại Việt Nam gần đây đã nỗi lên khá nhiều các nghiên cứu liên
quan đến chủ đề kiệt quệ tài chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu về ảnh
hưởng của kiệt quệ tài chính tới việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các
doanh nghiệp hầu như rất ít2.
1. Nguồn: www:://cafe.com.
2
Để các doanh nghiệp không phải đối mặt với tình huống xấu nhất, ngoài việc xây
dựng các mô hình dự báo phá sản, các doanh nghiệp còn phải đưa các quyết định tài
chính linh hoạt nhằm hạn chế tối đa các chi phí phát sinh trong doanh nghiệp, và
một trong những chiến lược không thể thiếu là khai thác khoảng trống một cách
hợp pháp trong chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tiết kiệm chi phí, đặt
biệt là trong giai đoạn khó khăn của các doanh nghiệp trong thời kỳ khủng hoảng
tài chính toàn cầu. Đây chính là lý do để tác giả chọn thực hiện đề tài “ Ảnh hưởng
của kiệt quệ tài chính đến việc tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam” cho Luận văn Thạc sĩ kinh tế của mình với mong
muốn phân định rõ hành vi trốn thuế và tránh thuế như đã nêu trên.
1.2 Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu kiểm định tác động của kiệt quệ tài
chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp và mức độ thay đổi hành vi
thuế thu nhập doanh nghiệp và mức độ của mối quan hệ này trong thời kỳ khủng
hoảng tài chính toàn cầu 2008, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy có trọng số
nhỏ nhất WLS, dựa trên mẫu nghiên cứu của 178 doanh nghiệp được niêm yết trên
Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HSX) và Sở giao dịch chứng
khoán Hà Nội (HNX) trong thời kỳ từ năm 2007 đến năm 2015. Dữ liệu được lấy
vào thời điểm cuối năm tài chính của mỗi năm.
1.5 Ý nghĩa của đề tài
Tại Việt Nam gần đây đã nỗi lên khá nhiều các nghiên cứu liên quan đến chủ đề
kiệt quệ tài chính doanh nghiệp, nhưng chỉ dừng lại ở việc sử dụng các mô hình dự
báo kiệt quệ tài chính. Trong bối cảnh này, nghiên cứu này đánh giá khả năng kiệt
quệ tại chính dựa trên mô hình giá trị thị trường và quyền chọn của Merton’s
(1974), mô hình phân tích dữ liệu tài chính Z-score của Altman (1968) và X-Score
của Zmijewski (1984). Với mục tiêu chính của nghiên cứu này là kiểm định tác
động của kiệt quệ tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp và mức
độ thay đổi hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt
Nam được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán HSX và HNX trong bối cảnh
trước và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Từ đó giúp cho, các doanh
4
nghiệp dự báo trước tình huống xấu nhất có thể xảy ra cho doanh nghiệp, để từ đó
Giám đốc tài chính – người kiểm soát tình hình tài chính trực tiếp của doanh nghiệp
đưa ra được các quyết định tài chính linh hoạt, kịp thời nhằm quản lý tốt nguồn
vốn.
1.6 Kết cấu đề tài
Đề tài này bao gồm năm chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài,
mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và
bố cục của đề tài.
Thất bại (Failure): Altman và Hotchkiss (2006) cho rằng, một doanh nghiệp được
xem là thất bại khi tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư, cùng với các tỷ số khác
dùng để đánh giá rủi ro của doanh nghiệp liên tục thấp hơn so với các mức đầu tư
kỳ vọng tương đương trên thị trường, hoặc doanh thu không bù đắp đủ chi phí của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mặc dù doanh nghiệp có doanh
thu nhưng chưa đủ để bù đắp cho những khoản chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi thực
trên vốn đầu tư thấp hơn so với tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường thì
cũng chưa chắc được xem là thất bại vì trên thực tế doanh nghiệp trong tình huống
này cũng có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh nếu các nhà đầu tư đồng ý chấp nhận
mức tỷ suất sinh lợi thấp. Vì vậy, rất khó để kiểm định việc một doanh nghiệp đối
mặt với tình huống ở trên như là một doanh nghiệp bị kiệt quệ tài chính.
Bên cạnh đó, một doanh nghiệp được xem là thất bại khi dòng tiền của doanh
nghiệp không đủ để doanh nghiệp thực hiện được các nghĩa vụ tài chính theo hợp
đồng với các chủ nợ, với người lao động, hoặc việc doanh nghiệp phải gánh chịu
tổn thất từ quá trình pháp lý diễn ra dai dẳng (Wruck, 1990). Thất bại của doanh
nghiệp được chia làm hai loại, đó là thất bại kinh tế (Economic Failure) và thất bại
6
tài chính (Financial Failure). Theo Andrade và Kaplan (1998), một doanh nghiệp
được xem là thất bại về tài chính là khi doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ trả lãi vay
và nợ gốc cho chủ nợ, còn thất bại kinh tế là khi doanh nghiệp bị thua lỗ trong hoạt
động kinh doanh.
Ở một quan điểm phổ biến khác, thất bại tài chính được định nghĩa là việc doanh
nghiệp bất lực trong việc hoàn thành các nghĩa vụ nợ. Tuy nhiên, một doanh nghiệp
không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ cũng có thể xảy ra ngay cả khi doanh
nghiệp có giá trị tài sản ròng dương (Gauhan, 2011). Như vậy, có thể hiểu rằng
ngoài tình trạng bất lực của doanh nghiệp trong việc trả nợ, thì tình trạng khó khăn
của doanh nghiệp trong việc thanh toán các khoản nợ cũng được xem là thất bại tài
chính.
khi doanh nghiệp không thể trả được nợ gốc và lãi đến hạn. Trong khi, vỡ nợ kỹ
thuật xảy ra khi doanh nghiệp vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng.
Phá sản (Bankrupcy): phá sản là việc doanh nghiệp đệ đơn phá sản chính thức lên
tòa án và được tòa án phê duyệt cho phép doanh nghiệp thực hiện phá sản. Lúc này
doanh nghiệp sẽ có ba hướng: thứ nhất, doanh nghiệp có thể phát hành thêm nguồn
vốn cổ phần mới; thứ hai, thực hiện tái cấu trúc bằng các thỏa thuận về các khoản
nợ với các chủ nợ nhằm kéo dài thời hạn thanh toán hoặc đàm phán về các khoản
lãi suất; thứ ba, là doanh nghiệp có thể sáp nhập với các doanh nghiệp khác.
Dựa trên các quan điểm trên, có thể kết luận rằng, kiệt quệ tài chính là tình trạng
xảy ra khi doanh nghiệp không thể đáp ứng hoặc có đáp ứng nhưng đáp ứng một
cách khó khăn các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng đối với các chủ nợ – Trường
hợp này gọi là thất bại tài chính; hoặc kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi
doanh nghiệp có doanh thu không đủ bù đắp chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi thực tế
trên vốn đầu tư thấp hơn liên tục và đáng kể so với các tỷ số đầu tư tương đương
trên thị trường – Trường hợp này gọi là thất bại kinh tế; hoặc kiệt quệ tài chính là
tình trạng xảy ra khi doanh nghiệp không tạo ra đủ dòng tiền ròng để đảm bảo các
nghĩa vụ tài chính hiện tại – Trường hợp này gọi là mất thanh khoản kỹ thuật; hoặc
kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi giá trị thị trường của các tài sản của doanh
nghiệp thấp hơn so với giá trị các khoản nợ – Trường hợp này gọi là mất thanh
8
khoản do giá trị; hoặc kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi doanh nghiệp không
thể trả được các khoản nợ gốc hay lãi vay đối với các chủ nợ khi chúng đến hạn –
Trường hợp này gọi là vỡ nợ.
Tổng hợp tất cả quan điểm trên về kiệt quệ tài chính, Aktan (2011) đã đưa ra quan
điểm cho thấy, một doanh nghiệp được xem là kiệt quệ tài chính khi xảy ra tình
trạng thua lỗ 3 năm liên tiếp, hoặc có vốn chủ sở hữu âm, hoặc doanh nghiệp phải
bán hết tài sản để trả nợ và lãi vay rồi giải thể, hoặc được tòa án chấp thuận phá
vào tình trạng kiệt quệ tài chính, các doanh nghiệp có ít lựa chọn nhưng họ chấp
nhận cơ hội với rủi ro cao hơn và càng gia tăng lên nhu cầu tránh thuế.
Edwards và cộng sự (2013) cho rằng, trong thời gian kiệt quệ tài chính, các doanh
nghiệp phải đối mặt với sự gia tăng trong chi phí sử dụng vốn, từ đó làm giảm khả
năng huy động các nguồn tài trợ thì các chiến lược trước đây được xem là nhiều rủi
ro và tốn kém, lại trở nên hấp dẫn và khả thi hơn vì lợi ích mang lại từ việc gia tăng
tránh thuế.
Richardson và cộng sự (2015) cho rằng, khi doanh nghiệp dự báo xuất hiện tình
trạng kiệt quệ tài chính sẽ có xu hướng tăng cường tránh thuế thu nhập doanh
nghiệp bằng cách đẩy mạnh điều chỉnh thu nhập dựa trên khoảng chênh lệch giữa
thu nhập theo kế toán và thu nhập chịu thuế hoặc trì hoãn khoản thuế phải nộp sang
các kỳ sau trong thời kỳ luật thuế cho phép.
Wilson (2011) cho rằng, khi các doanh nghiệp càng có sự khác biệt giữa thu nhập
chịu thuế và thu nhập kế toán càng lớn, thì đồng nghĩa với việc kiệt quệ tài chính và
khả năng vỡ nợ trong tương lai càng cao hơn.
Từ các kết quả nghiên cứu trên thế giới, nghiên cứu này cũng kỳ vọng rằng, tại Việt
Nam, khi doanh nghiệp được rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính sẽ làm gia tăng
việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp bằng cách khai thác khoản trống trong chính
sách thuế để tận dụng lợi thế cho doanh nghiệp.
Theo thảo luận như trên, nghiên cứu có đưa ra giả thuyết
H1: Kiệt quệ tài chính tương quan dương với việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp.
10
2.3 Khủng hoảng tài chính toàn cầu (GFC) và tránh thuế thu nhập doanh nghiệp
Cai và Liu (2009) cho rằng, các yếu tố của môi trường kinh tế, hạ tầng kỹ thuật,
chính sách luật pháp, sự cạnh tranh đã góp phần làm tăng hành vi tránh thuế nhằm
đạt được mục đích trong kinh doanh của các doanh nghiệp.
Brondolo (2009) cho rằng, các doanh nghiệp khi phải đối mặt với kiệt quệ tài chính
bằng chứng về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và tránh thuế. Ngoài ra, nhóm
nghiên cứu còn tìm ra, khủng hoảng tài chính toàn cầu có tác động cùng chiều đến
việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp và mức độ tác động của kiệt quệ tài chính
đến việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp càng nhiều hơn khi xảy ra khủng hoảng
tài chính toàn cầu năm 2008.
Theo những thảo luận trên, nghiên cứu có đưa ra các giả thuyết
H2: khủng hoảng tài chính toàn cầu có tương quan dương đến việc tránh thuế thu
nhập doanh nghiệp.
H3: mối tương quan dương giữa tránh thuế thu nhập doanh nghiệp và kiệt quệ tài
chính được phóng đại bởi một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
12
CHƯƠNG 3.
DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp là báo cáo tài chính của các doanh
nghiệp đã niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HSX)
và Sở giao dịch chứng khoán Hà Hội (HNX)3, trong 8 năm liên tiếp từ năm 2007
đến năm 2015. Tuy nhiên, năm 2008 bị loại trừ bởi vì năm này xảy ra cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Từ cách làm trên, mẫu dữ liệu của bài nghiên cứu bao
gồm 178 doanh nghiệp đã loại trừ một số mẫu không được tính vào như: doanh
nghiệp tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm, những doanh nghiệp mất dữ liệu. Tổng
cộng có 1.424 quan sát doanh nghiệp 8 năm trong giai đoạn nghiên cứu từ năm
2007 đến năm 2015 với phân bổ doanh nghiệp như sau:
STT
Hàng tiêu dùng thiết yếu
29
6
Năng lượng
16
7
Bất động sản
15
8
Tiện ích
12
9
Nguyên vật liệu
10
10
nghiệp i tại năm t. Kế thừa nghiên cứu của Richardson và cộng sự (2015); Desai và
Pharmapala (2006), tác giả đề tài này đã sử dụng 2 cách để đo lường biến CTAi ,t
như sau:
3.3.1.1 Cách tính thứ nhất về CTA
Tránh thuế thu nhập doanh nghiệp được đo lường bằng việc điều chỉnh thu nhập
(BTG), dựa trên khoản chênh lệch giữa thu nhập kế toán trước thuế và thu nhập chịu
thuế và tổng giá trị kế toán dồn tích.
14
Thực tế, các doanh nghiệp có thể sắp xếp, cấu trúc lại các giao dịch để tạo ra khoản
chênh lệch lớn tạm thời hoặc lâu dài giữa thu nhập kế toán và thu nhập chịu thuế,
chẳng hạn như sử dụng khấu hao tài sản cố định để tạo ra khoản chênh lệch tạm
thời giữa thu nhập kế toán và thu nhập chịu thuế.
Tác giả đề tài này xác định khe hở cho khoản thuế theo ước lượng phần dư của
khoảng trống trong chính sách thuế của Desai và Pharmapala (2006). Cụ thể tác giả
ước lượng phương trình BTG 1TA (1) bằng mô hình Hiệu ứng cố định
(Fixed Effect Model) để giải thích cho các thành phần của BTG (Book – Tax Gap)
có thể có do việc điều chỉnh thu nhập tạo ra. Kết quả phần dư CTA = µ + Ɛ thu
được trong phương trình (1) được sử dụng để đo lường tránh thuế thu nhập doanh
nghiệp.
BTG là khe hở khoản thuế, là sự khác biệt giữa thu nhập chịu thuế và thu nhập kế
toán như sau:
BTG AI TI
(2)
BTG (book – tax gap): là khe hở khoản thuế theo giá trị sổ sách được chia cho
tổng tài sản đầu năm (Hanlon và Heitzman, 2010).
TI: Thu nhập chịu thuế, bằng chi phí thuế thu nhập chia cho thuế suất thuế thu nhập
-
Theo thông tư số: 128/2003/TT-BTC
+ Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với cơ sở kinh doanh là 28%
+ Thuế suất áp dụng đối với từng cơ sở kinh doanh tiến hành tìm kiếm, thăm dò,
khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác từ 28% đến 50% phù hợp với từng
dự án đầu tư, từng cơ sở kinh doanh.
-
Theo nghị định số: 124/2008/NĐ-CP
+ Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%
+ Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai
thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác tại Việt Nam từ 32% đến 50% phù hợp
với từng dự án đầu tư, từng cơ sở kinh doanh.
-
Theo Luật số: 32/2013/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2014
+ Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm < 20 tỷ đồng áp dụng thuế suất 20%
+ Những doanh nghiệp áp dụng thuế suất 22% nếu không thuộc diện 20%
+ Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai
thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác tại Việt Nam từ 32% đến 50% phù hợp
với từng dự án đầu tư, từng cơ sở kinh doanh.
16
-