Thực trạng điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone của bệnh nhân tại trung tâm y tế thành phố long xuyên, tỉnh an giang giai đoạn 2012 đến 2015 - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

HUỲNH HỮU LỢI

THỰC TRẠNG ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN
CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE
CỦA BỆNH NHÂN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ
LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG GIAI ĐOẠN
NĂM 2012-2015

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

Hà Nội, 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

HUỲNH HỮU LỢI

THỰC TRẠNG ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN
CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE
CỦA BỆNH NHÂN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ
LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG GIAI ĐOẠN
NĂM 2012-2015

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.................................................................................. iv
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ...................................................................................vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ..................................................................................... viii
ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................. 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU........................................................................................ 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................... 4
1.1. Đặc điểm tình hình nghiện chích ma túy và HIV/AIDS ...................................... 4
1.1.1. Trên thế giới ...................................................................................................... 4
1.1.2. Tại Việt Nam ..................................................................................................... 4
1.1.3. Tại An Giang ..................................................................................................... 5
1.2. Khái quát về nghiện các chất dạng thuốc phiện ................................................... 5
1.2.1. Các khái niệm về nghiện các chất dạng thuốc phiện ......................................... 5
1.2.2. Khái quát các phƣơng pháp điều trị................................................................... 6
1.2.3. Methadone và điều trị thay thế CDTP bằng Methadone ................................... 7
1.3. Tổng quan các nghiên cứu điều trị nghiện các CDTP bằng Methadone ............ 12
1.3.1. Trên thế giới .................................................................................................... 12
1.3.2. Tại Việt Nam ................................................................................................... 15
1.4. Khung lý thuyết .................................................................................................. 19
1.5. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ............................................................................. 20
1.5.1. Tỉnh An Giang ................................................................................................. 20
1.5.2. Đặc điểm thành phố Long Xuyên.................................................................... 21
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 23
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu ......................................................................................... 23
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ..................................................................... 23
2.3. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................ 23
2.4. Cỡ mẫu, phƣơng pháp chọn mẫu ........................................................................ 23
2.4.1. Nghiên cứu định lƣợng .................................................................................... 23




: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
( Acquired Immunodeficiency Syndrome)

BCH

: Bảng câu hỏi

BCS

: Bao cao su

BKT

: Bơm kim tiêm

BN

: Bệnh nhân

CBYT

: Cán bộ y tế

CDTP

: Chất dạng thuốc phiện

DDM


: Điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone
(Methadone Maintenance Treatment)

MSM

: Nam quan hệ tình dục đồng giới
(Men who Have sex with Men)

PNMD

: Phụ nữ mại dâm

QHTD

: Quan hệ tình dục

TCMT

: Tiêm chích ma túy

UNAIDS

: Chƣơng trình chung của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS
(Joint United Nations Programme on HIV/AIDS)

UNODC

: Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm Liên Hợp Quốc
( United Nations Office on Drugs and Crime)


Bảng 3.10. So sánh tần suất sử dụng ma túy trong một ngày trƣớc điều trị với thời
điểm sau điều trị ........................................................................................................ 38
Bảng 3.11. Phân bố tình trạng trầm cảm ................................................................... 39
Bảng 3.12. Sự thay đổi mức độ trầm cảm trƣớc và sau điều trị ................................ 39


vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Bệnh nhân tuân thủ điều trị Methadone tại thời điểm nghiên cứu ...... 31
Biểu đồ 3.2. Bệnh nhân tuân thủ điều trị Methadone tại các thời điểm điều trị ...... 31
Biểu đồ 3.3. Heroin trong nƣớc tiểu bệnh nhân tại các thời điểm điều trị ................ 34
Biểu đồ 3.4. Tần suất sử dụng ma túy trƣớc điều trị với các thời điểm điều trị ...... 37
Biểu đồ 3.5. Bệnh nhân sử dụng chung bơm kim tiêm tại các thời điểm điều trị..... 38


viii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Chƣơng trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP)
bằng Methadone là một điều trị lâu dài; có kiểm soát; giá thành rẻ; đƣợc sử dụng
theo đƣờng uống; dƣới dạng siro giúp giảm tỷ lệ tiêm chích ma túy; dự phòng các
bệnh lây truyền qua đƣờng máu; đồng thời giúp ngƣời bệnh phục hồi chức năng tâm
lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng[7]. Để đạt đƣợc thành công thì quá
trình điều trị Methadone đòi hỏi bệnh nhân uống thuốc hàng ngày, thực hiện nghiêm
túc những quy định của cơ sở điều trị. Nghiên cứu này đƣợc thực hiện nhằm tìm
hiểu thực trạng điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng Methadone (MMT) của
bệnh nhân tại Trung tâm Y tế thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn năm
2012 - 2015.
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang, áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu định
lƣợng, hồi cứu số liệu trên hồ sơ bệnh án của 154 bệnh nhân đã điều trị từ 6 tháng



1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiện ma túy hiện nay đƣợc xem là một căn bệnh xã hội rất đáng lo ngại vì
nó gây ra các tác hại rất nghiêm trọng cho không chỉ cá nhân ngƣời nghiện mà còn
cho toàn xã hội.
Trên thế giới từ lâu đã áp dụng nhiều phƣơng pháp cai nghiện ma túy nhƣ:
Liệu pháp châm cứu, bấm huyệt, liệu pháp cắt cơn và điều trị duy trì bằng
thuốc…Hiện nay, phƣơng pháp điều trị thay thế bằng Methadone và điều trị đối
kháng bằng naltrexone đang phổ biến trên thế giới[33]. Methadone đƣợc coi là biện
pháp điều trị “tiêu chuẩn vàng”[31].
Trong hơn 40 năm qua, Methadone đã đƣợc áp dụng điều trị tại nhiều nơi
trên thế giới và đã đạt đƣợc những kết quả khả quan. Chất lƣợng của chƣơng trình
điều trị Methadone phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó tuân thủ điều trị là khâu
quan trọng để chƣơng trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện thành công.
Tuân thủ điều trị Methadone đƣợc đánh giá qua việc ngƣời bệnh phải uống thuốc
Methadone hàng ngày dƣới sự giám sát của cán bộ y tế để đảm bảo điều trị hiệu quả
và an toàn, trong thời gian điều trị ngƣời bệnh bỏ liều, gián đoạn quá trình uống
thuốc sẽ ảnh hƣởng đến việc điều trị, cụ thể phải uống lại Methadone sau khi bỏ
điều trị hoặc phải khởi liều lại hoặc có thể thực hiện lại từ đầu của quá trình điều trị:
a) Bỏ uống thuốc 1 đến 3 ngày: Không thay đổi liều Methadone đang điều trị, b) Bỏ
uống thuốc 4 đến 5 ngày: Đánh giá lại sự dung nạp thuốc của ngƣời bệnh, cho 1/2
liều Methadone bệnh nhân vẫn uống trƣớc khi dừng điều trị đồng thời khám lại và
cho liều Methadone thích hợp, c) Bỏ uống thuốc trên 5 ngày: Khởi liều Methadone
lại từ đầu[7].
Hiện tƣợng bệnh nhân điều trị Methadone đồng thời vẫn sử dụng heroin, bỏ
trị, bỏ liều, không tuân thủ điều trị vẫn là vấn đề đáng quan tâm, đó là một trong
những yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng chƣơng trình điều trị thay thế nghiện các
CDTP bằng Methadone.

Giang giai đoạn năm 2012 – 2015;
2. Đánh giá hiệu quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng
Methadone của bệnh nhân về cải thiện thể trạng , giảm hành vi nguy cơ và sức
khỏe tâm thần tại Trung tâm y tế thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai năm
2012 – 2015;


4
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Đặc điểm tình hình nghiện chích ma túy và HIV/AIDS

1.1.1. Trên thế giới
Sử dụng ma túy, đặc biệt là tiêm chích ma túy có liên quan chặt chẽ tới lây
nhiễm HIV, bệnh viêm gan B và C qua con đƣờng dùng chung kim tiêm, dùng
chung dụng cụ tiêm chích bị nhiễm bẩn là con đƣờng lây lan HIV chủ yếu ở nhiều
khu vực, bao gồm Đông Âu, Trung Á, Nam Á, Đông Nam Á và một số nƣớc ở
Châu Mỹ La tinh. Theo Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm Liên Hợp Quốc
(UNODC)/Tổ chức y tế thế giới (WHO)/Chƣơng trình chung của Liên Hợp Quốc
về HIV/AIDS (UNAIDS)/Ngân hàng Thế giới (WB) ƣớc tính năm 2012, số ngƣời
tiêm chích ma túy sống chung với HIV là khoảng 1,7 triệu, tƣơng ứng trung bình
khoảng 13,1% những ca bị nhiễm HIV toàn cầu là do hành vi tiêm chích ma túy
không an toàn của ngƣời tiêm chích ma túy[55].
Theo báo cáo tình hình ma túy toàn cầu năm 2014 của Cơ quan Phòng chống
Ma túy và Tội phạm Liên Hợp Quốc (UNODC), số ngƣời tiêm chích ma túy hiện là
12,7 triệu ngƣời, tƣơng ứng với tỷ lệ 0,27% đối với dân số trong độ tuổi 15-64, số
ngƣời tiêm ma túy chung sống với HIV là 1,7 triệu ngƣời. Tình hình này đƣợc thể
hiện rõ ràng nhất ở Tây-Nam Á và Đông/Đông – Nam châu Âu, nơi có tỷ lệ ngƣời
tiêm chích ma túy nhiễm HIV lần lƣợt là 28,8% và 23,0%. Ƣớc tính hơn một nửa số

tiêu đƣợc giao năm 2015[20].
1.2. Khái quát về nghiện các chất dạng thuốc phiện
1.2.1. Các khái niệm về nghiện các chất dạng thuốc phiện
Chất dạng thuốc phiện (CDTP) là tên gọi chung cho nhiều chất nhƣ thuốc
phiện, morphine, heroin, methadone, buprenorphine, codein, pethidine, fentanyle,
có biểu hiện lâm sàng tƣơng tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tƣơng tự ở não.
Dung nạp là tình trạng đáp ứng của cơ thể với một chất, đƣợc biểu hiện bằng
sức chịu đựng của cơ thể ở liều lƣợng nhất định của chất đó. Khả năng dung nạp
phụ thuộc vào cơ địa và tình trạng của cơ thể. Khi khả năng dung nạp thay đổi, cần
thiết phải thay đổi liều lƣợng của chất đã sử dụng để đạt đƣợc cùng một hiệu quả[7].
Ngƣời nghiện chất dạng thuốc phiện là ngƣời sử dụng và bị lệ thuộc vào chất
dạng thuốc phiện[11].


6
Các chất ma túy dạng thuốc phiện đặc biệt là heroin có hoạt tính ngắn, thời
gian bán hủy xấp xỉ 2 giờ. Khi ngƣời nghiện sử dụng ma túy CDTP tăng rất nhanh
trong máu, ngƣời nghiện đê mê, trạng thái nhiễm độc và sau đó nó cũng giảm xuống
rất nhanh gây trạng thái thiếu thuốc, trạng thái cai. Vì vậy, ngƣời nghiện sử dụng
ma túy CDTP (đặc biệt heroin) luôn ở trong trạng thái chao đảo giữa nhiễm độc và
trạng thái cai rất khó chịu, là nguồn gốc dẫn họ đến nhiều hành vi nguy hại khó
lƣờng.
Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma
túy đang sử dụng ở những ngƣời nghiện ma túy. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng
cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma túy đang sử dụng[4].
1.2.2. Khái quát các phƣơng pháp điều trị
1.2.2.1. Trên thế giới[33]
Ở Mỹ, từ năm 1912-1919, 44 trung tâm phân phát morphine cho đối tƣợng
nghiện đã đƣợc thành lập. Sau nhiều năm thực hiện, phƣơng pháp điều trị này
không mang lại kết quả và cuối năm 1923 các trung tâm nói trên phải đóng cửa và

hiệu, nghề đƣợc dạy trong trung tâm không phù hợp với nhu cầu tìm việc làm tại
cộng đồng, từ đó dẫn đến việc học viên sau khi hoàn thành cai nghiện tại trung tâm
trở về cộng đồng tái nghiện trở lại[6].
Từ giữa năm 2002 đến nay, Viện sức khỏe tâm thần nghiên cứu áp dụng liệu
pháp thay thế bằng Methadone và liệu pháp đối kháng naltrexone đã mang lại nhiều
kết quả khích lệ. Hai liệu pháp này đều thực hiện tốt trong điều kiện ngoại trú, có
thể áp dụng chống tái nghiện ở các cơ sở tại cộng đồng ở nƣớc ta[33].
1.2.3. Methadone và điều trị thay thế CDTP bằng Methadone[7]
1.2.3.1. Khái niệm
Methadone là một chất đồng vận với các CDTP, tác động chủ yếu trên các thụ
thể (µ) ở não. Tƣơng tự nhƣ các CDTP khác, Methadone có tác dụng giảm đau, giảm
ho, yên dịu, giảm hô hấp, không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ƣơng và không
gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ
cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai. Methadone
có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài.
Mục đích điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone là một
điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, đƣợc sử dụng theo đƣờng uống, dƣới
dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đƣờng máu nhƣ HIV, viêm


8
gan B, C đồng thời giúp ngƣời bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và
tái hoà nhập cộng đồng.
1.2.3.2. Các tác dụng không mong muốn và cách xử trí
Các tác dụng không mong muốn phổ biến của Methadone bao gồm táo bón,
khô miệng và tăng tiết mồ hôi.
Các triệu chứng: Rối loạn giấc ngủ, buồn nôn, nôn, giãn mạch và gây ngứa,
rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ, chứng vú to ở đàn ông, rối loạn chức năng tình dục,
giữ nƣớc, tăng cân ít gặp hơn và có thể không liên quan đến Methadone. Hầu hết
những ngƣời nghiện CDTP có ít tác dụng không mong muốn, tuy nhiên triệu chứng

Mệt mỏi và buồn ngủ: Nguyên nhân có thể do thời gian uống thuốc chƣa phù
hợp, trầm cảm, nếu xuất hiện sau khi uống thuốc Methadone 3-4 giờ thƣờng là dấu
hiệu sớm của ngộ độc nhẹ Methadone, nếu tình trạng nặng hơn có thể do sử dụng
thuốc ngủ, uống rƣợu hoặc tái sử dụng heroin. Xử trí theo nguyên nhân: Chuyển
thời gian uống Methadone vào buổi chiều, điều chỉnh liều Methadone cho phù hợp
(nếu cần), tƣ vấn cho ngƣời bệnh tránh lạm dụng thuốc ngủ, rƣợu, không tái sử
dụng heroin, điều trị trầm cảm (tổ chức hội chẩn hoặc chuyển chuyên khoa tâm thần
nếu cần), cần lƣu ý một số thuốc chống trầm cảm, chống chỉ định phối hợp với
Methadone.
1.2.3.3. Nguyên tắc chung của điều trị Methadone
- Ngƣời bệnh phải tự nguyện tham gia điều trị.
- Liều Methadone phải phù hợp với từng ngƣời bệnh dựa trên nguyên tắc bắt
đầu với liều thấp, tăng từ từ và duy trì ở liều đạt hiệu quả.
- Điều trị bằng thuốc Methadone là điều trị duy trì lâu dài, thời gian điều trị
phụ thuộc vào từng ngƣời bệnh nhƣng không dƣới 1 năm.
- Điều trị bằng thuốc Methadone cần phải kết hợp với tƣ vấn, hỗ trợ về tâm
lý xã hội, các dịch vụ chăm sóc và điều trị y tế khác khi có chỉ định để điều trị đạt
hiệu quả cao.
- Ngƣời đứng đầu cơ sở điều trị chỉ cung cấp thông tin về ngƣời bệnh cho
các cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu hoặc cho ngƣời khác khi đƣợc sự đồng ý
của ngƣời bệnh.
1.2.3.4. Điều trị Methadone
 Giai đoạn dò liều:


10
Thƣờng là 02 tuần đầu điều trị. Liều khởi đầu từ 15-30 mg tùy thuộc vào kết
quả đánh giá độ dung nạp các CDTP của ngƣời bệnh (liều trung bình là 20 mg).
Đánh giá bệnh nhân hàng ngày trƣớc khi cho liều Methadone (theo thang điểm đánh
giá hội chứng cai lâm sàng). Thƣờng không tăng liều Methadone trong 03 ngày đầu

điều trị Methadone[7].
1.2.3.5. Tuân thủ và hiệu quả điều trị Methadone
Khái niệm chung
Theo Ranial và Morisky – 2011: “Tuân thủ là mức độ hành vi của bệnh
nhân đối với việc uống thuốc, theo đuổi chế độ ăn kiêng và/hoặc thay đổi lối sống
tƣơng ứng với khuyến cáo của nhân viên y tế”[26].
Cho đến nay, chƣa có chuẩn vàng để đo lƣờng hành vi tuân thủ và hiệu quả
điều trị Methadone, mà chỉ dựa vào những nguyên tắc điều trị theo hƣớng dẫn của
Bộ Y tế và nội quy của cơ sở điều trị Methadone. Cụ thể trong luận văn này:
Tuân thủ điều trị Methadone đƣợc hiểu là: Ngƣời bệnh phải uống thuốc
Methadone hàng ngày dƣới sự giám sát của cán bộ y tế để đảm bảo điều trị hiệu
quả, an toàn và không tái nghiện thông qua việc quan sát, theo dõi và đánh giá trong
quá trình MMT (không bỏ liều, bỏ trị)[7].
Tiêu chí tuân thủ điều trị trong nghiên cứu này là:
- Tuân thủ điều trị: Bệnh nhân uống thuốc liên tục mỗi ngày
- Không tuân thủ điều trị: Bệnh nhân bỏ uống từ một ngày trở lên hoặc bỏ trị
Cách đánh giá:
- Theo dõi bệnh nhân uống thuốc hàng ngày.
- Đánh giá tuân thủ theo thời gian điều trị: 6 tháng, 12 tháng, 24 tháng và 36
tháng. Các biện pháp hỗ trợ tuân thủ điều trị bao gồm: Tƣ vấn cho ngƣời bệnh và
gia đình. Hƣớng dẫn ngƣời bệnh và gia đình biết cách xử trí các tác dụng không
mong muốn và các diễn biến bất thƣờng trong quá trình điều trị. Phối hợp với gia
đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội động viên và giúp đỡ ngƣời bệnh tuân thủ
điều trị[7].
Hiệu quả điều trị Methadone đƣợc hiểu là: Bệnh nhân sau khi đƣợc tham
gia điều trị có sự thay đổi giữa trƣớc và sau điều trị theo hƣớng tích cực (Có tăng
cân; giảm tần suất sử dụng heroin, giảm sử dụng chung bơm kim tiêm và giảm nguy
cơ trầm cảm).



tuân thủ điều trị hoặc tuân thủ kém, các yếu tố liên quan đến không tuân thủ MMT


13
hoặc tuân thủ thấp ở các bệnh nhân là không có nhà ở ổn định, uống rƣợu, sử dụng
cocain và nhận thức liều Methadone không đủ. Vì vậy, trong quá trình điều trị dự
đoán liều Methadone an toàn là một vấn đề rất quan trọng để đạt đƣợc tuân thủ tốt
trong MMT[50].
Nghiên cứu của Pang và cộng sự tại Trung Quốc năm 2007 về “Đánh giá
hiệu quả giai đoạn đầu của 8 cơ sở điều trị Methadone ở Trung Quốc”. Nghiên cứu
tiến hành điều tra cắt ngang tại 3 thời điểm trƣớc điều trị, 6 tháng và 12 tháng sau
điều trị, so sánh hành vi liên quan đến sử dụng ma túy, mối quan hệ với gia đình,
xét nghiệm HIV lại sau 12 tháng điều trị. Kết quả cho thấy điều trị Methadone góp
phần làm giảm sử dụng ma túy, hành vi tiêm chích ma túy, nhiễm HIV và các mối
quan hệ gia đình xã hội đƣợc cải thiện[46].
Montazerifar F và cộng sự với một nghiên cứu cắt ngang lâm sàng đƣợc tiến
hành trên 55 ngƣời nghiện CDTP (15 phụ nữ và 40 đàn ông; trung bình ở độ tuổi
31,6 ± 10 tuổi) tại bệnh viện tâm thần Baharan, Zahedan, Sistan và Baluchistan
Iran, trong năm 2011. Các bệnh nhân đƣợc kiểm tra trƣớc và sau 8 tuần MMT.
Trọng lƣợng và chiều cao của ngƣời tham gia đƣợc cân đo và tính toán các chỉ số
khối cơ thể (BMI). Kết quả trọng lƣợng cơ thể tăng lên đáng kể từ 61,4 ± 14,4-65,3
± 14,2 kg và chỉ số BMI từ 21,4 ± 4,2-23 ± 5,6 (kg/m2) sau 8 tuần điều trị duy trì
bằng Methadone (P
sợ hãi phân biệt đối xử đã làm trầm trọng thêm bởi thái độ tiêu cực chung về nhận
thức của xã hội đối với ngƣời sử dụng thuốc phiện. Một số trả lời rằng khi đƣợc xác
định là một ngƣời nghiện ma túy có thể sẽ dẫn đến mất việc làm. Một khách hàng
cho rằng đó là lý do tại sao bạn mình từ chối sử dụng MMT[48].
Theo nghiên cứu của Baharudin A và các cộng sự tại Malaysia trên các bệnh
nhân MMT đƣợc công bố năm 2013 cho thấy tỷ lệ trầm cảm là 44,4%. Có mối liên
quan giữa yếu tố dân tộc, trình độ học vấn và đồng thời sử dụng cần sa bất hợp pháp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status