Kiến thức phòng chống bệnh lao và một số yếu tố liên quan của người dân xã phong mỹ, huyện cao lãnh, tỉnh đồng tháp - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN THANH TUẤN

KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƢỜI DÂN XÃ PHONG MỸ,
HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGHÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01

Đồng Tháp - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN THANH TUẤN

KIẾN THỨC PHÕNG CHỐNG BỆNH LAO VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƢỜI DÂN XÃ PHONG MỸ,
HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01

TS.NGUYỄN THỊ MINH ĐỨC

Đồng Tháp - 2016


ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..........................................................................................16
1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (ĐTNC): ................................................................................................................. 16
2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU:.............................................................................................................. 16
3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU:.................................................................................................................................. 16
4. CỠ MẪU, PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU: .............................................................................................................. 17
5 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU: ................................................................................................................... 18
6. PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ....................................................................................................................................... 19
7. CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU .................................................................................................................................... 19
8. KHÁI NIỆM, THƯỚC ĐO, TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ.................................................................................................. 24
9. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU............................................................................................................. 24
10. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU, SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC SAI SỐ.................................................................... 25
CHƯƠNG 3 ................................................................................................................................................27
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..............................................................................................................................27
3.1. THÔNG TIN CHUNG:................................................................................................................................... 27
3.2 CÁC NGUỒN THÔNG TIN ĐTNC TIẾP CẬN VỀ BỆNH LAO: .................................................................................... 28
3.3 KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.................................................................... 29


ii

3.4. KIẾN THỨC ĐÚNG VỀ THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO: ............................................................................ 32
CHƯƠNG 4: ...............................................................................................................................................40
BÀN LUẬN .................................................................................................................................................40
4.1. VỀ KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO CỦA NGƯỜI DÂN. ............................................................................... 40
4.2. KIẾN THỨC VỀ THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO CỦA NGƯỜI DÂN. .............................................................. 45
4.3. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO CỦA NGƯỜI DÂN ......................................... 47
KẾT LUẬN ..................................................................................................................................................52
5.1 VỀ KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO CỦA NGƯỜI DÂN ................................................................................. 52
5.2 CÁC MỐI LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO CỦA NGƯỜI DÂN:............................. 52
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................................................................54


Bệnh nhân

CBYT

:

Cán bộ y tế

NVYT

:

Nhân viên y tế

CTCL

:

Chương trình chống Lao

CTCLQG

:

Chương trình chống Lao Quốc gia

TCYTTG

:


Tổ chức y tế thế giới

TTYT

:

Trung tâm y tế

TYT

:

Trạm y tế

XDR-TB

:

Bệnh Lao siêu kháng thuốc



:

Phác đồ

KAP

:

Biểu đồ 3.10: Kiến thức thực hành chung phòng chống bệnh lao: .........................34


vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Lao là một bệnh phổ biến ở Việt Nam. Trong công tác phòng chống Lao,
ngoài hoạt động của y tế và Chương trình chống Lao, kiến thức cộng đồng vẫn là
một vấn đề quyết định. Cộng đồng có ý thức có thể có những đóng góp quan trọng
trong phòng bệnh. Đề tài nghiên cứu “Kiến thức phòng chống bệnh Lao và một số
yếu tố liên quan của người dân tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
năm 2016” nhằm góp phần cung cấp thông tin trong công tác phòng chống bệnh
Lao tại địa phương, với mục tiêu là: Mô tả kiến thức và xác định một số yếu tố liên
quan đến kiến thức phòng chống bệnh Lao. Nghiên cứu được thực hiện với thiết kế
mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính theo mô
hình: nghiên cứu định lượng thực hiện trước và nghiên cứu định tính thực hiện sau;
các kết quả nghiên cứu định tính sẽ được sử dụng để phiên giải một số kết quả của
nghiên cứu định lượng. Với bộ câu hỏi đã được soạn sẵn, điều tra viên trực tiếp đến
từng hộ gia đình phỏng vấn. Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu và phần
mềm SPSS 20.0 để phân tích số liệu. Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu từ 284
người dân trong độ tuổi 18 đến 60, hiện sinh sống tại xã Phong Mỹ, huyện Cao
Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 96,8% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đã từng
nghe nói đến bệnh Lao, có 94,4% biết bệnh Lao có thể lây truyền sang người khác,
87,3% ĐTNC biết muốn khỏi bệnh Lao cần phải dùng thuốc điều trị Lao theo đúng
chỉ dẫn của cán bộ y tế và sẽ không mất tiền, 89,1% cho rằng bệnh Lao có thể
phòng được, có đến 73,9% cho biết trách nhiệm phòng chống bệnh Lao là của tất cả
mọi người, nhưng vẫn còn 20,1% cho biết là của cán bộ y tế, tuy nhiên chỉ có
38,7% ĐTNC biết được biện pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh Lao là tiêm phòng
BCG cho trẻ.

phương, phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm Ban chỉ đạo trong viêc chăm sóc sức
khỏe nhân dân, trong việc phòng chống bệnh Lao, thông qua hình thức hỗ trợ vốn
để phát triển kinh tế, thoát nghèo, lồng ghép vào các buổi hội hộp thường kỳ của
các Ban nghành đoàn thể tại xã. Cần phải nâng cao hơn nữa vai trò của cán bộ y tế
đặc biệt là nhân viên y tế ấp trong việc giám sát, truyền thông giáo dục về bệnh Lao
trong cộng đồng. Nâng cao chất lượng truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh Lao
bằng nhiều hình thức, tăng cường tổ chức các buổi tuyên truyền phòng chống bệnh
Lao ngoài cộng đồng, nhằm nâng cao kiến thức phòng chống bệnh Lao của người
dân.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Lao là vấn đề sức khỏe mang tính chất toàn cầu, năm 2009 đã được Tổ chức
Y tế thế giới (TCYTTG) thông báo tình trạng khẩn cấp về tình trạng bệnh Lao có xu
hướng quay trở lại và trầm trọng lên [2], [42].
Theo Tổ chức Y tế thế giới, ước tính hàng năm có khoảng 1,7 triệu người
trên thế giới tử vong do Lao, tức là khoảng 4.700 người tử vong mỗi ngày vì Lao,
về số người mới mắc hàng năm ước tính khoảng 9,4 triệu người. Điều tra lớn nhất
của Tổ chức Y tế thế giới năm 2010 cho thấy tỷ lệ Lao đa kháng thuốc cao nhất ở
một số quốc gia thuộc khu vực Liên Xô cũ, thêm vào đó tới 28% số bệnh nhân Lao
mới và nguy hiểm hơn là bệnh Lao siêu kháng đã xuất hiện trên 58 Quốc gia, trong
đó có Việt Nam [2], [3], [6].
Tại Việt Nam, bệnh Lao còn phổ biến và ở mức độ trung bình cao, xếp thứ
12 trong tổng số 22 quốc gia có số lượng bệnh nhân Lao cao nhất thế giới và thứ 14
trong tổng số 27 quốc gia có tình hình Lao đa kháng và siêu kháng cao ở khu vực
Tây - Thái Bình Dương, đồng thời đứng thứ ba sau Trung Quốc và Philipinnes về
số lượng bệnh nhân Lao lưu hành cũng như bệnh nhân Lao mới xuất hiện hàng năm
[3], [6], [33].

hàng năm cao nhất trong huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp [18]. Nghiên cứu này
nhằm trả lời hai câu hỏi:
 Kiến thức phòng chống bệnh Lao của người dân xã Phong Mỹ, huyện
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ra sao?
 Các yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác phòng chống bệnh Lao tại địa
phương?
Để có cơ sở khoa học và trả lời cho các câu hỏi trên tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Kiến thức phòng chống bệnh Lao và một số yếu tố liên quan của ngƣời
dân tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016” từ đó đề
xuất các giải pháp hữu hiệu với các bên liên quan, các nhà quản lý, nhằm nâng cao
kiến thức phòng chống bệnh Lao của người dân trong cộng đồng, hiệu quả công tác
quản lý và kết quả điều trị cho bệnh nhân Lao tại xã Phong Mỹ, huyện Cao LãnhĐồng Tháp.


3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả kiến thức phòng chống bệnh Lao của người dân xã Phong Mỹ, huyện Cao
Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống bệnh Lao của người
dân xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016.


4

Chƣơng 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Định nghĩa
Lao là bệnh nhiễm khuần do vi khuẩn Lao (Mycobacterium tuberculosis) gây
nên. Bệnh Lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận của cơ thể, trong đó Lao phổi là thể
Lao phổ biến nhất (chiếm 80-85%) và là nguồn lây chính cho người xung quanh

tử vong do bệnh Lao [24].
Năm 2014, Việt Nam phát hiện được 102.070 bệnh nhân Lao các thể, tỷ lệ
phát hiện là 111,35/100.000 dân; trong đó có 49.934 bệnh nhân lao phổi AFB (+)
[32].
Chương trình chống Lao Quốc gia cùng phối hợp với TCYTTG phân tích và
ước tính nguy cơ nhiễm Lao hàng năm trên toàn quốc là 1,7%, khu vực phía Nam là
2,2 %, và phía Bắc là 1,2% [10].
Hiện nay, bệnh Lao đang có chiều hướng trẻ hóa khi số người mắc Lao ở độ
tuổi thanh thiếu niên chiếm gần 2% trong tổng số người mắc Lao [10], [3]. Đồng
nhiễm HIV và Lao làm tăng số bệnh nhân Lao, làm giảm hiệu quả điều trị và làm
tăng tỷ lệ tử vong do Lao [5].
Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 130.000 bệnh nhân mắc Lao mới, tuy nhiên
mới chỉ phát hiện được khoảng 70%, còn 30% bệnh nhân Lao trong cộng đồng chưa
được phát hiện. Đây là điều đáng lo ngại, bởi những người mắc Lao chưa được phát
hiện sẽ nguồn lây lan bệnh ra cộng đồng [10].
Trong năm 2015, tổng số bệnh nhân Lao các thể được phát hiện là hơn
100.000 người, trong đó có hơn 50.000 bệnh nhân Lao phổi. Khu vực miền Nam có
tỷ lệ người mắc Lao phổi cao nhất cả nước. So với năm 2014, số bệnh nhân Lao
phổi dương tính mới tăng 155 người. Đặc biệt, mỗi năm Việt Nam có hơn 5.000
bệnh nhân Lao kháng thuốc, trong đó gần 6% là Lao siêu kháng thuốc [23].
Chương trình chống Lao quốc gia đã đề ra mục tiêu là đến năm 2020, cố
gắng giảm tỷ lệ mắc Lao trong cộng đồng xuống còn 131/100.000 người dân; giảm
số người chết do Lao xuống dưới 10/100.000 người dân; 100% bệnh nhân Lao được
điều trị với công thức điều trị chuẩn của Chương trình và được cung cấp các loại
thuốc chống Lao đầy đủ, bảo đảm chất lượng [7].
2.2.1. Tình hình bệnh Lao tại Đồng Tháp
Tỉnh Đồng Tháp đã triển khai công tác chống Lao theo hướng mới của dự án
phòng chống Lao quốc gia như: Ưu tiên phát hiện và điều trị BN Lao phổi ho khạc



cho thấy chỉ có 51% đối tượng cho rằng bệnh Lao gây ra bởi vi khuẩn và có thể lan
truyền trong không khí [37].


7
Tác giả Singh khi nghiên cứu 1.430 học sinh nam và nữ từ các trường học ở
thành thị và nông thôn bang Punjab, Ấn Độ nhận thấy gần 70% học sinh biết bệnh
Lao là do vi khuẩn, nhưng đặc biệt có 15% học sinh cho rằng có các thế lực độc ác
có thể gây bệnh [40].
Tác giả Mangesho nhận thấy bệnh Lao vẫn là vấn đề sức khỏe y tế công
cộng quan trọng, có 77% người kiến thức đúng về bệnh Lao [39].
Sanz Barbero nghiên cứu về những người gốc Mỹ La tinh trên 15 tuổi đã
được chẩn đoán bệnh Lao trong năm 2003 tại Madrid, Tây Ban Nha, kết quả cho
thấy 94% người mắc bệnh có kiến thức chính xác về đường lây truyền, tuy nhiên
vẫn còn một tỷ lệ khá cao người lựa chọn câu trả lời sai về nguồn gốc lây truyền của
bệnh: 42,3% cho rằng bệnh lây truyền qua đường máu, 55% qua đường tình dục và
81,3% cho rằng qua ăn uống [36].
Jianming Wang và cộng sự nghiên cứu tại thị trấn Yangzhong, tỉnh Jiangsu
của Trung Quốc và kết quả cho thấy hầu như không ai hiểu gì về bệnh Lao và
chương trình DOTS, phụ nữ ít biết hơn nam giới về việc điều trị là miễn phí, tuy
nhiên sau khi có các biểu hiện bệnh, 79,2% phụ nữ đã tìm đến các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe so với 58,6% nam giới, mặc dù đa số họ lựa chọn các dịch vụ mức độ thấp
[35].
Năm 2008, Long thực hiện nghiên cứu đối với 1.005 người nghi ngờ bệnh
Lao, trong đó gồm 776 dân bản địa và 229 di dân, bị ho mạn tính ở Trùng Khánh,
Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy người di dân chậm đi khám bệnh hơn so
với người dân bản địa từ 68% đến 54% (P
người bệnh ho khạc ra vi khuẩn, 85,5% biết bệnh lây qua đường hô hấp, 11% cho
rằng lây qua đường tiêu hóa, 54,3% biết ho kéo dài là triệu chứng chính của bệnh,
98,1% biết bệnh Lao có thể chữa khỏi được, 67,75 biết thời gian điều trị khỏi bệnh
là 8 tháng, 67,26% nguồn thông tin tiếp cận được từ truyền hình, 41,2 từ đài phát
thanh, 16,5% từ cán bộ y tế, tỷ lệ hiểu biết về bệnh Lao; khá và giỏi chiếm 12,25%,
tỷ lệ yếu chiếm tới 78% [21].
Nghiên cứu của Đào Văn Quang thực hiện năm 2008 trên 422 nam giới trong
lứa từ 18 đến 60 tại Bắc Giang cho thấy 50,5% số người được hỏi cho rằng Lao do
vi khuẩn. Có một tỷ lệ lớn người được hỏi đã hiểu chưa đúng về nguyên nhân gây
bệnh Lao: 49,5% cho rằng bệnh Lao là do di truyền, lao lực, hoặc không biết lý do
lây bệnh, 30% cho rằng bệnh Lao lây qua nguồn nước ô nhiễm, 90% số người biết
bệnh có thể chữa khỏi [27].


9
Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống Lao của người dân trên
40 tuổi thị Trấn Thới Bình và xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình năm 2009 của Lâm
Thuận Hiệp trong đó thành phần nông dân chiếm đa số 77,9%, học vấn từ không
biết chữ đến tiểu học chiếm 48,76% cho nên mức độ hiểu biết phòng chống bệnh
Lao còn thấp, 77,5% chưa biết nguyên nhân gây ra bệnh Lao là do vi trùng [11].
Năm 2008, Nguyễn Phương Hoa khi nghiên cứu 12.143 người dân ở một
huyện vùng nông thôn ở Việt Nam, cho thấy nguồn thông tin đến với người dân từ
truyền hình là 64,6% và từ bạn bè, là người thân là 42,7%, cách truyền thông tốt
nhất là truyền hình 70,4%, loa truyền thanh 55,1%, cho thấy nam giới có điểm số
trung bình kiến thức cao hơn đáng kể so với phụ nữ (4,8/8 và 4,0/8) [38].
Năm 2009, Nguyễn Ý Như Nghiên cứu kiến thức, thái độ về phòng và điều
trị bệnh Lao của người dân thị trấn Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội kết quả cho thấy
thấy tỷ lệ hiểu biết của người dân về nguyên nhân lây bệnh Lao 27,6% cho là do vi
trùng, 14,2% cho là do lao lực quá sức, có 14,2% là do di truyền và 19,6% là do ô
nhiễm môi trường, 41,9% biết được nguồn lây chính của bệnh, 41,9% cho rằng ô

phố Cà Mau, trên 607 đối tương nghiên cứu cho thấy 90% có kiến thức tốt bề bệnh
Lao, 87,35% thực hành tốt về phòng bệnh Lao [1].
4. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến kiến thức phòng chống bệnh Lao của ngƣời
dân
Các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế đã chỉ ra một số yếu tố ảnh
hưởng đến phòng bệnh Lao của người dân, bao gồm các yếu tố cá nhân của đối
tượng nghiên cứu, gồm trình độ học vấn thấp, nghề nghiệp (làm nông), và giới tính;
các yếu tố môi trƣờng, xã hội như sự quan tâm giúp đỡ, động viên của gia đình,
người thân, chính quyền địa phương; và yếu tố cung cấp và sử dụng dịch vụ như
truyền thông, cung cấp, tư vấn về chuyên môn của nghành y tế địa phương. Bên
cạnh đó không thể không đề cập tới ảnh hưởng của các chính sách quốc gia đến
phòng chống Lao như là một tiền đề mang tính quyết định cho sự hình thành, phát
triển và thực hiện hiệu quả của chương trình Lao trong suốt những năm qua tại Việt
Nam nói chung và các tỉnh/thành trong cả nước nói riêng.
4.1 Nhóm yếu tố cá nhân
Trình độ học vấn thấp, nghề nghiệp làm nông, và giới tính nữ của đối tượng
nghiên cứu là các yếu tố mang tính cá nhân có ảnh hưởng đến việc phòng bệnh Lao
tại cộng đồng đã được các y văn đề cập đến.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lấn năm 2012 đánh giá về KAP của người dân
tại xã Mỹ Xương huyện Cao Lãnh cho biết các yếu tố liên quan đến tuổi (p = 0,02),
giới tính (p = 0,3), nghề nghiệp (p = 0,001), trình độ học vấn có ảnh hưởng đến
phòng bệnh Lao tại cộng đồng (p = 0,001) [14].


11
Trong nghiên cứu của tác giả Lâm Thuận Hiệp năm 2009 về Khảo sát kiến
thức, thái độ thực hành phòng chống Lao của người dân trên 40 tuổi tại thị trấn Thới
Bình xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình đã ghi nhận nam giới hiểu biết về bệnh nhiều
hơn nữ giới (22,62%-13,53%), (p = 0,021), trình độ học vấn thấp (không biết chữ
và tiểu học) chiếm 48,76% mức độ hiểu biết phòng chống bệnh Lao thấp [11].

thể góp phần rất lớn trong việc phát hiện sớm và làm giảm sự lây lan bệnh Lao
trong cộng đồng.
Theo Nguyễn Văn Lấn các đối tượng đã thực hiện nhắc nhở người bệnh đi
khám khi có triệu chứng nghi ngờ và đi khám đúng chuyên khoa có tỷ lệ 80,8%, tỷ
lệ động viên thông cảm với người bệnh là 60,6%, tỷ lệ nhắc nhở không khạc nhổ
bừa bãi 52,7% và tỷ lệ xa lánh, ăn ở riêng là 15,3% [14].
Theo Nguyễn Ý Như tỷ lệ động viên thông cảm với người bệnh là 70,6%, tỷ
lệ nhắc nhở không khạc nhổ bừa bãi 54,7% và tỷ lệ xa lánh, ăn ở riêng là 13,3%
[25].
Theo báo cáo điều tra KAP trên toàn quốc của Dự án phòng chống Lao năm
2008, có 65,8% số người được hỏi cho rằng bệnh nhân Lao có thể sinh hoạt bình
thường trong cộng đồng, 83,7% sẽ không dấu mọi người khi gia đình có người mắc
bệnh, 68,2% sẽ giao tiếp bình thường với hàng xóm khi họ mắc bệnh [20].
Năm 2005 báo cáo kết quả điều tra KAP 6 vùng cho thấy 82,5% ĐTNC cho
rằng sẽ không dấu mọi người xung quanh khi họ mắc bệnh, 76,5% nghĩ ngơi người
bệnh có thể sống bình thường trong cộng đồng, 17,7% cho rằng cần phải cách ly
người bệnh, 29% sẽ tránh tiếp xúc với bệnh nhân Lao và gia đình họ [19].
4.3 Nhóm yếu tố cung cấp và sử dụng dịch vụ
Sự tư vấn từ giới chuyên môn tại địa phương, các cơ sở y tế, truyền thông
còn thấp, ảnh hưởng đến sự hiểu biết của người dân về bệnh Lao, nên việc thực
hành khám bệnh khi có các dấu hiệu nghi ngờ Lao Như: khi ho kéo dài trên 3 tuần
chiếm tỷ lệ thấp. Điều này dẫn đến chương trình phòng chống Lao luôn gặp nhiều
trường hợp phát hiện muộn. Nghiên cứu của Bác sỹ Nguyễn Việt Cồ-Trần Hà Như
cho thấy tỷ lệ bệnh nhân lao phát hiện muộn chiếm đến 80,5% [8].
Theo Nguyễn Văn Lấn tỷ lệ có được cung cấp các thông tin tuyên truyền về
bệnh Lao 74,4%, tỷ lệ không nhớ là 14,5% và tỷ lệ không được cung cấp thông tin
về bệnh Lao 11,1%. nguồn thông tin có từ ti vi, radio là 76,6%, tỷ lệ nguồn thông
tin từ đài phát thanh xã, phường 78,8 %, tỷ lệ nguồn thông tin từ CBYT 45,4%, tỷ lệ
nguồn thông tin từ tờ rơi, áp phích, tranh là 46,5% và tỷ lệ nguồn thông tin từ các
cuộc họp dân là 38,4% [14].

trung các BN Lao nặng và các thể Lao khó, để điều trị nội trú tích cực và là nơi đào
tạo, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến huyện [7].
Ngoài ra, thực hiện phương pháp DOTS có thể phòng ngừa sự lây nhiễm lao
mới và phòng ngừa sự xuất hiện của tình trạng đa kháng thuốc; có thể làm tăng
thêm tuổi thọ ở những người bị nhiễm HIV.


14
Tuyến huyện, chương trình chống Lao lồng ghép trong chương trình y tế
chung. Tuyến huyện chịu trách nhiệm khám phát hiện, quyết định điều trị, cấp thuốc
cho tuyến dưới, thực hiện giám sát, giúp đỡ tuyến xã hoàn thành công việc thực
hiện DOTS [7].
Tuyến xã, nơi trực tiếp điều trị thuốc có giám sát cho BN, công tác chống
Lao được lồng ghép chung vào với chương trình Y tế quốc gia khác [7].
4.5 Khung lý thuyết:
Khung lý thuyết dưới đây được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu về mô tả
kiến thức và các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức phòng chống bệnh Lao. Trong
nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một số nội dung chủ yếu sau:
1. Mô tả kiến thức của người dân tại cộng đồng trong phòng chống bệnh Lao: chủ
yếu là: Nguyên nhân, nguồn lây, đường lây bệnh Lao, triệu chứng của bệnh, cách
phát hiện bệnh, nơi chẩn đoán, cách điều trị, cách loại bỏ nguồn lây, phòng bệnh
cho người khác và biện pháp phòng chống.
2. Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức phòng chống bệnh Lao trong số
các yếu tố được nêu trong khung lý thuyết, bao gồm:
Các yếu tố từ cơ sở y tế: bao gồm các hoạt động y tế được triển khai trong
chương trình Lao quốc gia tại địa phương, sự phối hợp các chương trình y tế, việc
vãng gia tại nhà bệnh nhân Lao.
Các yếu tố thuộc về cá nhân: Trình độ học vấn, nghề nghiệp, và giới tính,
người thường xuyên tiếp xúc, quan hệ gần gũi, làm việc chung với người Lao phổi,
điều kiện sống, lao động, tiền sử tiêm phòng Lao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status