Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015 - Pdf 37

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây do chất lượng cuộc sống người dân
dần được nâng cao, tuổi thọ trung bình của người dân và số lượng người cao tuổi tăng
nhanh trong cộng đồng. Dân số NCT đã trở thành một trong những vấn đề được coi là
quan trọng ở nhiều nước trong những thập niên qua [1]. Tính tới cuối năm 2010, Việt
Nam đã có hơn 8 triệu NCT (chiếm 9,4% dân số).
Như vậy thì vấn đề già hóa dân số gắn liền với chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi cần phải được quan tâm đúng mức.Trong đó công tác chăm sóc sức khoẻ răng
miệng cho người cao tuổi của ngành Răng Hàm Mặt nói riêng là một nhiệm vụ rất
quan trọng. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong phòng chống và nâng cao sức khỏe răng
miệng, bệnh răng miệng hiện vẫn có xu hướng gia tăng ở mọi lứa tuổi trong đó có
người cao tuổi.Ở một số kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng mắc bệnh răng
miệng ở người cao tuổi tại các vùng miền của Việt Nam đang ở mức cao, nhu cầu
điều trị theo thực trạng bệnh là rất lớn, thực trạng bệnh răng miệng là rất thấp [2],
[3]. Theo kết quảđiều tra sức khoẻ răng miệngtoàn quốc năm 2000 trên 999 người
45 tuổi trở lên thì có tới 55% chưa đi khám răng miệng lần nào. Theo Phạm Văn
Việt và cộng sự nghiên cứu năm 2004 cho biết tỷ lệ sâu răng của người cao tuổi tại
Hà Nội là 55,1%, tỷ lệ mắc bệnh quanh răng là 96,1% [2]. Nguyên Châu Thoa và
cộng sự, năm 2010 nghiên cứu về tình trạng sức khỏe răng miệng của NCT ở miền
Nam Việt Nam cho thấy NCT có trung bình mất răng khoảng 8 chiếc /người [4]…
Với các tổn thương sâu răng, viêm lợi, viêm quanh răng khi không đượcđiều trị kịp
thời, nó không nhữngảnh hưởngđến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, mà còn có thể gây
nhiều biến chứng nặng nề tại chỗ hay toàn thân, thậm chí cònảnh hưởngđến tính
mạng đặc biệt ở người cao tuổi, khi màsự lão hoá làm suy giảm khả năng phục hồi,
do đó dễ mắc bệnh và mắc nhiều loại bệnh cùng lúc.
Bệnh quanh răng là một bệnh rất phổ biến. Theo điều tra sức khỏe răng
miệng toàn quốc năm 2001, tỷ lệ người có bệnh quanh răng ở nước ta rất cao, lên
tới 96,7% [5]. Đặc biệt bệnh có tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi: Số người trên 45 tuổi



Dây chằng quanh răng

xương ổ răng
Rãnh lợi

Lợi tự do
Lợi dính
Niêm mạc miệng
Bờ lợi
Lõm dưới túi lợi
Vùng tiếp giáp niêm mạc

Hình 1.2: Giải phẫu răng và vùng quanh răng [38]


4

Gồm có 4 phần:
 Lợi.
 Dây chằng quanh răng.
 Xương ổ răng.
 Xương răng.
1.1.1.1. Lợi
Lợi là vùng đặc biệt của niêm mạc miệng, được giới hạn ở phía cổ răng
bởi bờ lợi và phía cuống răng bởi niêm mạc miệng. Ở phía ngoài của cả hai
hàm và phía trong của hàm dưới, lợi liên tục với niêm mạc miệng bởi vùng
tiếp nối niêm mạc di động, ở phía khẩu cái lợi liên tục với niêm mạc khẩu cái
cứng. Lợi được chia thành 2 phần: lợi dính và lợi tự do [7]:
* Lợi tự do: Gồm nhú lợi và đường viền lợi.

ổ răng nhờ những TB liên kết đặc biệt trong tổ chức dây chằng. Bề rộng của
dây chằng quanh răng khoảng 0,15- 0,21mm. Tuỳ theo sự sắp xếp và hướng
đi của các bó sợi mà người ta phân ra thành 5 nhóm sau:
* Nhóm cổ răng (hay nhóm mào ổ răng):Gồm những bó sợi đi từ mào xương ổ
răng đến xương răng gần cổ răng.
* Nhóm ngang:Gồm những sợi đi từ xương răng ở chân răng thẳng góc với trục
của răng đến xương ổ răng.
* Nhóm chéo: Gồm những bó sợi đi từ xương ổ răng chếch xuống dưới phía
chân răng, bám vào xương răng. Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhất trong
dây chằng QR.
* Nhóm cuống răng:Gồm những bó sợi đi từ xương răng ở cuống răng, toả hình
nan quạt để đến bám vào xương ổ răng vùng cuống răng.
* Nhóm giữa các chân răng: Đối với răng nhiều chân còn có các bó sợi đi từ kẽ
giữa 2 hay 3 chân răng đến bám vào vách xương ổ răng. Giữa các bó sợi trên
là tổ chức liên kết lỏng lẻo, trong đó người ta thấy có TB tạo xương răng,


6

TBxơ non, TB xơ già, TB liên kết dạng bào thai, những đám biểu bì
Mallassez. Ngoài ra còn có mạng lưới rất giàu các mạch máu, bạch mạch,
thần kinh. Theo Weski, những lưới này có tác dụng như một cái hãm
nước.Trong tổ chức liên kết của dây chằng thường thấy có 3 thành phần là:
TBchất tựa, sợi, chất nền.Dây chằng QRcấu tạo bởinhững sợi Collagen,
những sợi đó lồng vào trong xương răng, chùm lên chân răng giải phẫu và từ
đó chạy vào lá đáy của túi lợi, màng xương phủ huyệt răng và xương ổ răng,
xương răng của răng bên cạnh, quan trọng nhất là trực tiếp vào trong xương ổ
răng riêng biệt.
1.1.1.3. Xương ổ răng
Xương ổ răng là một bộ phận của xương hàm gồm có:

xương răng có tế bào. Xương răng không có tế bào là lớp đầu tiên được tạo ra
trong quá trình tạo ngà ở chân răng, phủ lên chân răng bởi xương răng thứ
phát (hay xương răng có tế bào).Quá trình tạo xương răng có tế bào nhanh,
những tế bào tạo xương răng non bám chắc và giữ lại tới lúc phát sinh lớp
xương răng mới và tế bào xương răng được trưởng thành. Sự bồi đắp xương
răng liên tục, suốt đời, ở cuống răng thì nhanh hơn ở cổ răng, những lớp được
bồi đắp tạo điều kiện cho sự bám chắc của những dây chằng mớigiữ cho bề
rộng vùng QR, xương răng không bị tiêu sinh lý và thay đổi cấu trúc như
xương. Về mặt chức phận, xương răng tham gia vào sự hình thành hệ thống
cơ học nối liền răng với xương răng, cùng với xương ổ răng giữ bề rộng cần
thiết cho vùng QR, bảo vệ ngà răng và tham gia sửa chữa ở một số trường hợp
tổn thương ngà chân răng.
1.1.2. Tuần hoàn quanh răng
Răng, dây chằng QR và xương ổ răng thường có một mạch máu nuôi
dưỡng. Mỗi răng và khe QR được nuôi dưỡng bởi một động mạch nhỏ là một


8

nhánh của động mạch chính trong xương tới lỗ cuống răng, trước khi vào lỗ
cuống răng nó tách ra các nhánh vào trong xương ổ răng, một nhánh vào khe
QR nuôi các dây chằng QR. Nhánh chính đi vào tuỷ răng qua lỗ cuống răng,
động mạch tuỷ răng không có nhánh nối với bên ngoài. Còn trong xương ổ răng
thì có nhiều mạng nối chằng chịt với nhau, ở vùng dây chằng QR cũng vậy,có
những nhánh xuyên qua bản xương thành trong huyệt răng nối với mạng lưới
tuần hoàn trong khe QR. Tĩnh mạch đi song song với động mạch và đặc biệt là
mạng lưới nối tĩnh mạch ở vùng QR tập trung quanh lỗ cuống răng.
1.1.3. Thần kinh vùng quanh răng: Có hai loại:
- Các sợi giao cảm chạy song song với mạch máu, điều hoà máu chảy
trong các mao mạch.

Thời gian phục hồi vết thương kéo dài, xương dễ gãy do chứng loãng
xương. Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên ngoại lai, vi khuẩn
giảm dễ dẫn đến nhiễm trùng và nổi lên là hiện tượng tự miễn [8].
Tất cả những lão hóa đó là nguyên nhân làm cho sức khỏe người cao
tuổi giảm sút và hay mắc các bệnh mãn tính và cấp tính.
1.2.2. Biến đổi ở mô niêm mạc miệng
* Niêm mạc miệng:
Biểu mô phủ và mô liên kết ở khoang miệng teo và mỏng, giảm mối
liên kết giữa các protein và Mucoprotein theo tuổi. Tăng số lượng tương bào
và hậu quả là giảm tính đàn hồi và tăng sự nhạy cảm của mô đối với sang
chấn. Tổ chức niêm mạc phủ khoang miệng ở người cao tuổi có những biến
đổi dạng phù nề, các nhú biểu mô mất dần làm cho vùng tiếp giáp giữa biểu
mô và mô liên kết bị xẹp xuống làm cho lớp biểu mô dễ bị bong trước.Thời
gian thay thế tế bào biểu mô kéo dài số lượng tế bào Langerhans ít đi. Vì các
biến đổi nêu trên, nên bề mặt của niêm mạc miệng kém chịu đựng trước các


10

kích thích như nóng, lạnh, sức đề kháng với nhiễm trùng giảm đi, niêm mạc
dễ bị tổn thương và khi bị tổn thương thì cũng lâu lành.


11

* Niêm mạc lưỡi:
Các nghiên cứu cho thấy các gai lưỡi có hiện tượng giảm và teo. Số gai
hình dây của lưỡi giảm làm cho lưỡi có vẻ trơn láng, gai lưỡi hình đài bị teo
nhiều nhất với số lượng giảm hoặc mất dần các nụ vị giác gây ra những rối loạn
vị giác với các chất ngọt, chua, mặn….Nói chung, niêm mạc lưỡi miệng nhợt

bề mặt ở nhiều vị trí khác nhau.
- Hình dáng răng thay đổi, sự thay đổi tiếp xúc giữa các răng hoặc mất
tiếp xúc.
- Sự mòn răng có thể định nghĩa như việc mất đi chất khoáng hóa trên
bề mặt răng, là kết quả của việc bào mòn chất hóa học. Sự mòn răng sẽ tăng
lên cùng với sự gia tăng của tuổi tác.
1.2.4. Biến đổi trên các chức năng vùng miệng
* Chức năng nhai:
Tốc độ và biên độ chuyển động của hàm dưới giảm trong quá trình vận
động há, ngậm và độ rộng lên xuống trong khi chiều sang bên thì vẫn giữ
nguyên. Vì vậy, thời gian của chu kì nhai không có khác nhiều so với thời kỳ
trung niên. Tuy nhiên, hiệu quả của nhai bị giảm sút do răng suy yếu, hệ
thống môi, má, lưỡi và các cơ giảm sự khéo léo, khả năng phối hợp.
* Chức năng nuốt:
Chức năng nuốt liên quan nhiều tới hoạt động của lưỡi. Lưỡi giảm sự
khéo léo làm cho việc đưa thức ăn chuyển động giảm hơn nữa việc nuốt cũng
bị ảnh hưởng do những thoái triển về vận động cơ và thần kinh.
* Chức năng phát âm:
Có những sự thay đổi nhất định về giọng điệu và khả năng nói theo tuổi.
Nhưng, nếu không có các bệnh lý liên quan thì đặc điểm này ít được chú ý.
* Chức năng tạo dáng khuôn mặt:


13

Các biến đổi nét mặt là do mất răng và do giảm hoặc mất trương lực
các cơ ở mặt. Thường có sự thấp tầng mặt dưới, những thay đổi này không chỉ
là thẩm mỹ mà còn là sự trở ngại tới chức năng nhai, nuốt.
* Chức năng tiết nước bọt:
Nhu mô tuyến nước bọt suy thoái dẫn đến giảm tiết về số lượng nước

phân tử.
Tuy nhiên, tỷ lệ collagen được tổng hợp lại giảm đi theo tuổi.
1.2.5.3. Dây chằng nha chu
Những thay đổi trong dây chằng nha chu do lão hóa bao gồm giảm số
lượng nguyên bào sợi và tăng bất thường cấu trúc. Ngoài ra, có sự giảm sản
xuất các chất hữu cơ căn bản, ngừng hoạt động các tế bào biểu mô và tăng số
lượng sợi đàn hồi. Nhiều kết quả trái chiều đã được ghi nhận về sự thay đổi
chiều rộng của dây chằng nha chu theo tuổi trong các mẫu vật của người và
động vật. Một điều chắc chắn là chiều rộng của khoảng quanh răng sẽ giảm
nếu răng không được nhai đến (giảm chức năng) hoặc chịu lực nhai quá mức.
Cả hai tình huống trên đều dẫn đến sự mất răng sớm.
1.2.5.4. Xương răng
Có sự gia tăng chiều dày xương răng theo tuổi do sự bồi đắp liên tục sau
khi mọc răng. Sự gia tăng chiều dày này nhiều hơn ở vùng chóp và mặt lưỡi.
Khả năng sửa chữa xương răng là hạn chế, những bất thường trên bề mặt xương
răng như những hõm tiêu xương răng xuất hiện ngày càng nhiều theo tuổi.
1.2.5.5. Xương ổ răng
Hình thái lá cứng xương ổ răng thay đổi liên quan với tuổi, có ngày
càng nhiều bất thường trên bề mặt xương ổ răng và giảm số lượng kết nối bất
thường với sợi collagen. Ngoài ra, có sự giảm mạch máu trong xương, giảm
trao đổi chất và khả năng tự sữa chữa, tăng quá trình hủy xương và giảm tái


15

tạo xương. Trong ghép xương đồng loại đông khô khử khoáng, nếu sử dụng
vật liệu ghép từ người cho trên 50 tuổi thì khả năng tạo mô xương ít hơn so
với vật liệu lấy từ người cho trẻ hơn.
Tuy nhiên, tỷ lệ lành xương (can xương) của xương vùng ổ răng đã nhổ
không liên quan tới tuổi tác. Thật vậy, những thành công trong tích hợp xương

toàn mảng bám và viêm bằng các phương pháp làm sạch và điều trị chuyên
biệt. Sau đó đối tượng không thực hiện bất kỳ biện pháp vệ sinh răng miệng
nào trong thời gian 3 tuần để tạo điều kiện cho viêm lợi phát triển. So sánh sự
phát triển viêm lợi giữa các cá thể trẻ tuổi và lớn tuổi đã được chứng minh
phản ứng viêm mạnh hơn ở những đối tượng nghiên cứu lớn tuổi hơn, kể cả
người và chó. Trong nhóm người lớn tuổi hơn (từ 65 đến 80 tuổi), người ta
nhận thấy khoảng mô liên kết bị thâm nhiễm lớn hơn, gia tăng dịch rỉ viêm và
tăng chỉ số lợi. Ngay cả khi các đối tượng đều có tình trạng lợi hoàn toàn bình
thường trước thử nghiệm, sự khác biệt vẫn có thể tồn tại giữa các nhóm tuổi
trong đó những người càng lớn tuổi thì tình trạng viêm càng nhiều. Ở người
cao tuổi, bệnh viêm lợi thường tiến triển thầm lặng dẫn tới viêm quanh răng
và hậu quả là tiêu xương và mất răng [7].
Rõ ràng khi tuổi cao sẽ không tránh khỏi việc gia tăng sự mất mô liên
kết bám dính. Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào sự phơi nhiễm với một
số yếu tố gây phá hủy tổ chức quanh răng như: mảng bám, sang chấn cơ học
mạn tính do đánh răng, những tác động không mong muốn do thầy thuốc gây
ra trong phục hình răng,lấy cao răng, kiểm soát bề mặt chân răng. Ảnh hưởng
của những phơi nhiễm này đi theo một hướng duy nhất là làm gia tăng mất
bám dính.


17

Một số nghiên cứu đã được thiết kế để loại bỏ những yếu tố nhiễu và
hướng tới làm rõ câu hỏi tuổi cao có phải là yếu tố nguy cơ của bệnh nha chu
(yếu tố nguy cơ được định nghĩa là một phơi nhiễm hoặc tác nhân làm tăng
xác suất xảy ra bệnh). Những nghiên cứu này đều cho thấy tác động của tuổi
tác là không tồn tại hoặc ít có ý nghĩa lâm sàng làm gia tăng sự mất bảo vệ
vùng nha chu: tỷ suất chênh cuẩ tình trạng vệ sinh răng miệng kém đối với
viêm quanh răng là 20,52 trong khi tỷ suất chênh của tuổi tác chỉ là 1,24. Như



18

1.4. Dịch tễ học bệnh quanh răng
Dịch tễ trong bệnh nha chu vẫn còn là khoa học khá trẻ. Các nghiên cứu
trong những thập niên qua cho thấy bệnh nha chu là một trong những nỗi
phiền phức lớn nhất của con người.
Các nghiên cứu thuộc phương pháp dịch tễ học được chú trong để giải
quyết các vấn đề về nha chu hiện nay. Các nghiên cứu cần thiết hiện nay là
xác định tình trạng nha chu, nhu cầu điều trị và đánh giá nhu cầu điều trị ở
các nhóm có nguy cơ bị bệnh nha chu cao. Điều chính yếu là làm sao sử dụng
kiến thức tổng hợp có sẵn về bệnh nha chu để đem lại lợi ích cao nhất cho
cộng đồng. Cuối cùng, các phương pháp dịch tễ học ccòn được đòi hỏi để
theo dõi sức khỏe nha chu, đánh giá hiệu quả của các phương pháp và chương
trình dự phòng bệnh nha chu.
1.5. Các cấp dự phòng bệnh quanh răng
Theo WHO, giáo dục sức khoe bệnh quanh răng và vệ sinh răng
miệng là nội dung chủ yếu nhất, là nền tảng cho 3 cấp dự phòng bệnh quanh
răng[10].
1.5.1. Dự phòng cấp 1 : tiền sinh bệnh
Nội dung chủ yếu là hướng dẫn vệ sinh răng miệng. Cụ thể là :
- Giáo dục sức khỏe để cải tiến việ vệ sinh răng miệng và chế độ dinh
dưỡng hợp lý.
- Khám răng định kỳ để đề phòng viêm lợi.
Bác sỹ có nhiệm vụ và vai trò : giáo dục sức khỏe trong dân, chẩn đoán
viêm lợi và lấy cao răng, hướng dẫn chải răng, hàn răng sâu và sửa chữa sai
sót điều trị.



20

theo quan điểm Y học truyền thống, nhiều khi đối lập với các thông tin cơ bản
theo quan điểm Y học hiện đại. Có thể do các thông tin giáo dục nha khoa còn
hạn chế nên người cao tuổi hiểu biết rất ít về các vấn đề răng miệng cơ bản,
thông thường. Vì vậy, kiến thức RM của họ phụ thuộc rất nhiều vào trình độ
văn hoá, nghề nghiệp, mức sống, khu vực sống, sự tự tìm hiểu của từng cá
nhân. Thông thường, ý niệm về bệnh tật chỉ được quan tâm khi có cảm giác
đau, thẩm mỹ bị ảnh hưởng, giao tiếp xã hội bị hạn chế. Đây là những nhận
biết có thể có ở hầu hết người cao tuổi. Nhưng nếu để hiểu nguyên nhân, hậu
quả và các biện pháp phòng chống bệnh thì đa số tỏ ra không biết, hoặc hiểu
sai các kiến thức bản, thông thường. Thực tiễn này, đặt ra trách nhiệm cho nội
dung giáo dục nha khoa trong chương trình nâng cao hiểu biết đối với SKRM
người cao tuổi [33].
1.6.2. Các yếu tố tác động tới kiến thức, thái độ, thực hành đối với sức khoẻ
răng miệng người cao tuổi
Sức khoẻ răng miệng người cao tuổi chịu sự tác động của nhiều yếu tố.
Sức khoẻ kém có thể bắt nguồn từ những nguy cơ nội tại do sự ngấm vôi kém
ở men răng, răng mọc lệch lạc, chen chúc, hở… Nguy cơ cũng đến từ các thói
quen có hại: hút thuốc, uống rượu, ăn trầu. Các yếu tố ảnh hưởng khác có thể
do trình độ học vấn thấp, mức thu nhập không cao, sức khoẻ chung suy yếu,
tập quán văn hoá và nhất là yếu tố không được chăm sóc bởi cơ sở dịch vụ
nha khoa. Các yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau và cần được nhận định,
đánh giá để tìm ra các giải pháp can thiệp. Nhằm tăng cường nhận thức, thay
đổi thái độ, xây dựng hành động đúng, chúng ta cần phân tích, phê phán, sửa
chữa những hành động, thói quen chưa đúng hay có hại. Trên cơ sở đó, giáo
dục các đối tượng tự chăm sóc SKRM có khoa học và có ý thức thăm khám
định kỳ tại các cơ sở nha khoa. Đây là một quá trình cần có sự tác động nhiều
mặt, nhưng ý thức bản thân luôn luôn là yếu tố quyết định quan trọng nhất [34].


được cho là quá cao, chờ đợi lâu, xa xôi không thuận lợi, tâm lý e ngại sợ nhổ
răng đau, lây nhiễm.


22

1.7. Nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên Thế Giới và
Việt Nam
* Ở Việt Nam:
Tại Việt Nam, từ năm 1960 đến nay đã có nhiều công trình điều tra về
bệnh quanh răng ở một số địa phương. Các kết quả điều tra đều cho thấy bệnh
quanh răng chiếm tỷ lệ cao và ở mức báo động [18],[23],[24],[25]. Trần Văn
Trường và Lâm Ngọc Ấn đã tiến hành điều tra sức khỏe răng miệng toàn
quốc qua 2 đợt thì nhận thấy rằng qua 2 lần tỷ lệ bệnh quanh răng của nhóm
tuổi >45 tuổi không biến đổi nhiều, đều trên 90% [1].
Về tình hình bệnh tổ chức quanh răng, theo điều tra cơ bản tại khu vực
Hà Nội của Nguyễn Đức Thắng [26] với lứa tuổi 45-64 và cỡ mẫu (n=150) thì
có CPITN 1 tỉ lệ là 1,33% và CPITN 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 64,67%.Nguyễn
Văn Cát và Renneberg T và cs (1992) khám 181 người từ 44 đến 64 tuổi
không thấy người nào có mô quanh răng lành mạnh, chỉ số CPITN 1 tỉ lệ là
1,2 cao nhất là chỉ số 3 có tỉ lệ 45,8. Theo tác giả Dương Thị Hoài Giang năm
2009 khám trên 303 người từ 60 tuổi trở lên tại Hoàng Mai – Hà Nội thấy tỷ lệ
người mắc bệnh quanh răng là 93,1% [17].

* Trên thế giới:
Bảng 1.1: Tình trạng túi lợi ở người cao tuổi của các nghiên cứu trên thế giới
Quốc gia, tác giả
Bergman J.D và Cs,
Australian [27]
Galan D. và Cs,

49,0

60,0
35,7

≥ 60

1994 65-74
2000

≥ 45

999

2,00

1,60

10,0

2,70

1,10

10,5

2,86

1,83


24

Hình 1.1: Bản đồ tỉnh Cần Thơ[37]
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc Hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số
22/2003/QH11 [16] về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh.
Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh
Hậu Giang như sau:
Thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương có diện tích tự nhiên là
138.959,99 ha và dân số hiện tại là 1.112.121 ngưười, bao gồm: diện tích và số dân
của thành phố Cần Thơ cũ; huyện Ô Môn; huyện Thốt Nốt; một phần của huyện
Châu Thành, bao gồm: thị trấn Cái Răng; các ấp Thạnh Mỹ, Thạnh Huề, Thạnh
Thắng, Yên Hạ và 176 ha diện tích cùng với 2.216 ngưười của ấp Phú Quới thuộc
xã Đông Thạnh; các ấp Thạnh Hóa, Thạnh Hưưng, Thạnh Thuận, An Hưng, Thạnh
Phú, Phú Khánh, Khánh Bình và 254,19 ha diện tích cùng với 1.806 người của ấp
Phú Hưng thuộc xã Phú An; các ấp Phú Thành, Phú Thạnh, Phú Thuận, Phú Thuận
A và 304,61 ha diện tích cùng với 1.262 người của ấp Phú Lợi thuộc xã Đông Phú;


25

một phần của huyện Châu Thành A, bao gồm: xã Trưường Long; xã Nhơn ái; xã
Nhơn Nghĩa; ấp Tân Thạnh Đông và 84,7 ha diện tích cùng với 640 người của ấp
Tân Thạnh Tây thuộc xã Tân Phú Thạnh.
Tỉnh Hậu Giang có diện tích tự nhiên là 160.772,49 ha và dân số hiện tại là
766.105 người, bao gồm: diện tích và số dân của thị xã Vị Thanh; huyện Phụng
Hiệp; huyện Long Mỹ; huyện Vị Thuỷ; phần còn lại của huyện Châu Thành và
huyện Châu Thành A, trừ phần diện tích và số dân của hai huyện này đã được điều
chỉnh về thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương quy định như trên. Tỉnh lỵ tỉnh
Hậu Giang đặt tại thị xã Vị Thanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status