Thực trạng bệnh sâu răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng trên sinh viên năm thứ nhất trường đại học y dược hải phòng năm học 2013 2014 - Pdf 35

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sâu răng là bệnh phổ biến. Bệnh sâu răng có đặc điểm là tiêu dần
các chất vô cơ và hữu cơ ở men và ngà răng tạo thành lỗ sâu. Nếu điều trị
không kịp thời sẽ gây viêm tuỷ, viêm quanh cuống răng và có thể mất răng.
Vào những năm 75 của thế kỷ XX, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp 3
bệnh trong số hơn 10 bệnh phổ biến là tai họa của loài người: bệnh tim mạch,
bệnh ung thư và bệnh sâu răng [1]. Bệnh sâu răng là một tai họa của loài
người vì 3 lý do:
- Bệnh mắc sớm (ngay sau khi mọc răng - 6 tháng tuổi).
- Bệnh rất phổ biến (ở Việt Nam trên 50% dân số có sâu răng).
- Tổn phí chữa răng rất lớn, nếu chỉ chú ý đến việc chữa bệnh thì không
một quốc gia nào có thể đáp ứng được cho nhân dân.
Trên thế giới, Yupin Songpaisan - Thái Lan (1999) cho rằng: Bệnh sâu
răng là bệnh phổ biến nhưng tỷ lệ mắc còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể ở
mỗi cộng đồng. Cộng đồng nào phòng bệnh kém thì tỷ lệ mắc bệnh cao,
cộng đồng nào phòng bệnh tốt thì tỷ lệ mắc bệnh thấp, thậm chí còn không
có người mắc bệnh [2].
Theo tổ chức Y tế Thế Giới (WHO 1984) nghiên cứu bệnh sâu răng ở
vùng Tây Thái Bình Dương, cho rằng bệnh sâu răng mắc với tỷ lệ rất cao
nhưng ở mỗi cộng đồng điều kiện sống, làm việc và hiểu biết khác nhau thì tỷ
lệ mắc cũng khác nhau [3].
Những yếu tố ảnh hưởng làm tăng khả năng mắc bệnh sâu răng là: Sự
tồn tại của mảng bám răng sót lại trong các khe kẽ của răng chuyển hóa tạo ra
môi trường axit tại chỗ làm tiêu men ngà răng gây sâu răng.


2

Ở Việt Nam theo kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2001

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. GIẢI PHẪU RĂNG VÀ TỔ CHỨC HỌC CỦA RĂNG

1.1.1. Giải phẫu răng [5]
Cấu tạo ngoài của răng gồm 3
phần: thân răng, cổ răng và chân răng.
- Thân răng: là phần nằm trong
hốc miệng có 5 mặt: mặt ngoài giáp
môi má, mặt trong giáp lưỡi, mặt gần
là mặt gần đường giữa, mặt nhai với
răng hàm và rìa cắn với răng cửa và
răng nanh. Đối với cấu tạo thân răng,
mặt nhai các răng hàm có nhiều núm,
rãnh, nơi tiếp giáp giữa mặt gần và
mặt xa các răng là nơi rắt thức ăn dễ
bị sâu răng.
Hình 1.1. Giải phẫu răng [5]
- Cổ răng: là ranh giới giữa thân răng và chân răng, cổ răng cũng là điểm
yếu dễ sâu răng đối với những người cao tuổi do lợi tụt lộ cổ răng.
- Chân răng: chân răng là phần nằm trong xương hàm, đối với răng cửa
và răng hàm nhỏ (trừ răng số 4 hàm trên có 2 chân) chỉ có 1 chân, các răng số
6,7 hàm dưới có 2 chân, các răng số 6, 7 hàm trên có 3 chân. Chân của các
răng số 8 (răng khôn) là bất định.


4

1.1.2. Tổ chức học của răng [5], [6], [7]
* Men răng:

nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của dây thần kinh.
1.2. ĐỊNH NGHĨA VÀ SINH BỆNH HỌC SÂU RĂNG

1.2.1. Định nghĩa [5], [8], [9]
Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức Canxi hóa của răng được đặc
trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần
hữu cơ của mô cứng. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản
ứng lý hóa ảnh hưởng đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi
trường miệng và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ
chế bảo vệ của vật chủ.
1.2.2. Sinh bệnh học sâu răng [9]
Bệnh sâu răng là bệnh được gây ra bởi nhiều yếu tố trong đó vi khuẩn
đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra phải có các yếu tố thuận lợi như chế độ ăn
uống nhiều đường, vệ sinh răng miệng (VSRM) không tốt, chất lượng men
răng kém và môi trường tự nhiên, nhất là môi trường nước ăn uống có hàm
lượng fluor thấp (hàm lượng fluor tối ưu là 0,7 - 1,2 ppm) tạo điều kiện cho
sâu răng phát triển [10].
Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do nhiều
nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tố. Vi khuẩn trong miệng mà chủ yếu
là Streptococcus Mutans lên men các chất bột và đường tạo thành axit, axit
này phá hủy tổ chức cứng tạo thành lỗ sâu ở răng, qua lỗ sâu, vi khuẩn đã
xâm nhập vào tủy răng gây nên viêm tủy răng và viêm quanh cuống răng. Sự
phối hợp của các yếu tố này để gây nên sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ
Keys.


6

Sơ đồ Keys: Người ta chú ý đến chất đường và vi khuẩn Streptococcus Mutans,
vì vậy việc dự phòng cũng phải chú ý quan tâm đến chế độ ăn hạn chế đường và vệ

Các yếu tố bảo vệ:
+ Nước bọt, dòng chảy nước bọt

+ pH < 5
+ VSRM kém

+ Khả năng kháng acid của men
+ Fluor có ở bề mặt men răng
+ Trám bít hố rãnh
+ Độ Ca++, PO43- quanh răng
+ pH > 5,5
+ VSRM tốt
Hình 1.3. Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng [15]
1.3. PHÂN LOẠI BỆNH SÂU RĂNG

Tuỳ theo tác giả mà có nhiều cách phân loại khác nhau [16] nhưng cơ bản
vẫn dựa trên 5 loại lỗ hàn của Black.
Các phân loại trước đây:
Theo diễn biến sâu răng: sâu răng cấp tính và sâu răng mãn tính.
Theo mức độ tổn thương: sâu men, sâu ngà nông, sâu ngà sâu.
Theo bệnh sinh: sâu răng tiên phát, sâu răng thứ phát, sâu răng tái phát.
Theo vị trí tổn thương: sâu hố rãnh, sâu mặt nhẵn, sâu cemment…
Trong đó phân loại theo mức độ tổn thương được ứng dụng nhiều nhất:


8

- Sâu men (S1): tổn thương mới ở phần men chưa có dấu hiệu lâm sàng rõ.
Khi chúng ta nhìn thấy chấm trắng ở răng thì sâu răng đã tới đường men ngà.
- Sâu ngà (S2,S3): khi bắt đầu xuất hiện lỗ sâu trên răng thì chắc chắn là

Phân loại theo WHO (1997) [1]
* Sâu men:
- Là tổn thương sâu răng ở giai đoạn sớm, chưa hình thành lỗ sâu.
+ Tổn thương thường thấy ở hố và rãnh mặt nhai.
+ Khi thổi khô bề mặt răng thấy tổn thương là các vết trắng nhạt trên bề
mặt men răng. Nếu quá trình mất khoáng liên tục, bề mặt vết trắng chuyển
thành mờ đục, không nhẵn như men thường, mắc thám trâm khi khám.
+ Nếu tổn thương phát triển thêm, vết trắng có thể lan rộng, biến đổi
thành màu nâu nhạt rồi sẫm.
- Các tổn thương sâu răng giai đoạn sớm được xác định bằng mắt thường.


10

* Sâu ngà:
- Là sâu răng giai đoạn đã hình thành lỗ sâu.
- Dựa vào chiều sâu của lỗ sâu, người ta phân loại sâu ngà răng thành sâu
ngà nông (nếu tổn thương sâu dưới 2mm) và sâu ngà sâu (nếu tổn thương
có chiều sâu từ 2 – 4mm).
1.4. DỊCH TỄ HỌC VÀ NHU CẦU ĐIỀU TRỊ BỆNH SÂU RĂNG

1.4.1. Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới và trong nước


Thế giới: [17], [18]
Bản đồ sâu răng toàn cầu (Dental caries world map – WHO 2004):

Hình 1.5. Tỷ lệ sâu răng theo quốc gia (trên 100.000 dân)
Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) đã đưa ra 5 mức độ sâu răng phụ thuộc
vào chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn ở lứa tuổi 12 và lứa tuổi 35 – 44

răng bị mất do sâu răng. Chỉ số SMT của Na Uy tới mức 12,0 năm 1940.
Nhưng đến năm 1980, chỉ số SMT ở tuổi 12 tại nước này đã giảm xuống mức
từ 2,0 - 4,0. Vào năm 1993, chỉ số SMT tuổi 12 ở hầu hết các nước công
nghiệp hóa đã giảm xuống tới mức thấp từ 1,2 - 2,6 [21], [22]. Như vậy, nhìn
chung từ cuối những năm của thập kỷ 1970 tới nay, tình trạng sâu răng tại các
nước phát triển có xu hướng giảm dần, chỉ số SMT tuổi 12 tại hầu hết các
quốc gia này đạt mức thấp và rất thấp [15], [22]. Đó là hiệu quả của sự thay
đổi điều kiện sống, hiệu quả của việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
răng miệng, các chương trình nha khoa phòng ngừa và sử dụng kem đánh
răng có chứa fluor [1], [23].
- Ở các nước đang phát triển: Thời điểm những năm thập kỷ 1960, tình
hình sâu răng ở mức thấp hơn nhiều so với những nước đang phát triển. Chỉ
số SMT tuổi 12 ở thời kỳ này chỉ từ 1,0 - 3,0; thậm chí một số nước dưới mức
1,0 như Thái lan, Uganda, Zaire. Tới thập kỷ 1970 và 1980 thì chỉ số này lại
tăng lên và ở mức từ 3,0 - 5,0 và một số nước còn cao hơn như Chile là 6,3.
Nhìn chung tình trạng sâu răng của các nước đang phát triển đều có xu hướng
ngày càng tăng [25]. Đó là do điều kiện kinh tế còn thấp, vấn đề sức khỏe
răng miệng chưa được quan tâm đúng mức, không được fluor nước uống,


12

thiếu sự giáo dục nha khoa và chế độ ăn không khoa học nhất là đồ ăn có
đường [19], [24], [26].
Theo chương trình Y tế Quốc gia và khảo sát kiểm tra dinh dưỡng, 1999 - 2004,
tại Hoa Kỳ. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn (SMT).
Bảng 1.2. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tại Hoa Kỳ (SMT) 1999-2004





Năm

1991
2001

được điều tra

Vùng

Tỷ lệ

Chỉ số

SR (%)

SMT

Việt Nam

72,33

Miền bắc

59,33

Miền Nam

86,33


4,95

Nữ

Việt Nam

80,13

4,32

Tỷ lệ chung

Việt Nam

78,16

4,56

35 – 44 tuổi

1.4.2. Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng trên thế giới và trong nước
• Trên thế giới.
Trong nhiều thập kỷ qua, đã có nhiều báo cáo trên thế giới thống nhất bệnh
sâu răng đang giảm một cách đáng kể và ngày càng giảm do việc sử dụng
kem đánh răng và các sản phẩm có chứa fluor, chất trám bít hố rãnh, chế độ
ăn được cải thiện, nhiều dịch vụ chăm sóc và giáo dục sức khỏe răng miệng
ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây lại đưa ra cảnh báo
bệnh sâu răng đang có xu hướng tăng lên ở trẻ em và cả người trưởng thành.
Điều này có ảnh hưởng đến nhu cầu điều trị các bệnh răng miệng [24].
Ở Mỹ (2009) sâu răng được xem là một bệnh mạn tính, có tỷ lệ mắc cao

15

1.5. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BỆNH SÂU RĂNG

Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng:
- Tập quán ăn uống.
- Chăm sóc vệ sinh răng miệng.
- Các yếu tố khác như tuổi, giới…
Các tác giả thường mô tả các yếu tố ảnh hưởng, không phân tích sâu về
các mối ảnh hưởng giữa chúng và bệnh sâu răng [33].
1.5.1. Tập quán ăn uống
Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu các tập quán ăn uống
ảnh hưởng đến bệnh sâu răng như tần suất sử dụng các đồ ăn thức uống có
nhiều đường, ăn thêm bữa phụ buổi tối, đồ ăn thức uống nóng lạnh, đồ ăn
cứng, khẩu phần ăn:
- Petersen và CS nghiên cứu ở Thái Lan (2001) công bố tỷ lệ sử dụng đồ
uống ngọt hàng ngày rất cao như sữa đường (34%), chè đường (26%), nước
ngọt (24%) ảnh hưởng đến tỷ lệ sâu răng rất cao 70-96,3% tùy độ tuổi và chỉ số
SMT là 8,1 răng/học sinh. Đồng thời tác giả cũng nêu lên tập quán sử dụng đồ
ngọt nhiều ở những người theo đạo Hồi và đặc biệt là ở nữ [34].
1.5.2. Chăm sóc vệ sinh răng miệng
Một số tác giả nước ngoài và trong nước đã nghiên cứu về các yếu tố
chăm sóc răng miệng như hiểu biết về chăm sóc răng, khám định kỳ răng, thói
quen chải răng, tuổi sử dụng bàn chải, thuốc, vật liệu chải răng:
- Rao và cộng sự cho biết tại Ấn Độ có đến 59,2-62% học sinh có chải
răng ít nhất 1 lần/ngày nhưng chỉ có 5,7-13,6% sử dụng thuốc đánh răng; 3,1%
dùng tay làm sạch răng và 21,1% dùng tro và than để đánh răng hàng ngày [35].
- Okeigbemen và cộng sự thông báo 81,4% học sinh chưa bao giờ được
khám răng tại các cơ sở y tế, 95,8% có sử dụng bàn chải răng [36].


17

1.6.1. Chẩn đoán sâu men (Theo tiêu chuẩn WHO 1997) [1]
- Là tổn thương sâu răng ở giai đoạn sớm, chưa hình thành lỗ sâu.
- Chưa gây ra triệu chứng chủ quan.
- Lâm sàng:
+ Tổn thương thường thấy ở hố và rãnh mặt nhai.
+ Khi thổi khô bề mặt răng thấy tổn thương là các vết trắng nhạt trên bề
mặt men răng. Nếu quá trình mất khoáng liên tục, bề mặt vết trắng chuyển
thành mờ đục, không nhẵn như men thường, mắc thám trâm khi khám.
+ Nếu tổn thương phát triển thêm, vết trắng có thể lan rộng, biến đổi
thành màu nâu nhạt rồi sẫm.
- Các tổn thương sâu răng giai đoạn sớm được xác định bằng mắt thường.
- Sâu men cần chẩn đoán phân biệt với:
+ Bệnh nhiễm fluorose: tổn thương là các đốm trắng hoặc vằn trắng mờ,
nếu nhiễm fluor nặng hơn có thể có vằn vằng hoặc nâu, nhiều ở mặt ngoài,
thường gặp ở vùng răng cửa và có biểu hiện đối xứng.
+ Thiểu sản men: tổn thương lan theo chiều rộng hơn, vị trí hay gặp mặt
ngoài răng, thường gặp ở nhóm răng có cùng thời gian hình thành.
1.6.2. Chẩn đoán sâu ngà (Theo tiêu chuẩn WHO 1997) [1]
- Là sâu răng giai đoạn đã hình thành lỗ sâu.
- Dựa vào chiều sâu của lỗ sâu, người ta phân loại sâu ngà răng thành sâu
ngà nông (nếu tổn thương sâu dưới 2mm) và sâu ngà sâu (nếu tổn
thương có chiều sâu từ 2 – 4mm).
- Triệu chứng cơ năng: Ê buốt khi có kích thích nóng, lạnh, chua, ngọt.
Hết kích thích là hết ê buốt. Bệnh nhân sâu ngà sâu thì nhạy cảm với
kích thích hơn sâu ngà nông.
- Lâm sàng:
+ Tổn thương có thể gặp ở tất cả các mặt của răng.



19

Hình 1.6. Tổn thương sâu men ở rãnh mặt nhai

Trước

Sau

Hình 1.7. Trám bít hố rãnh phòng sâu răng
- Đối với sâu ngà:
Những tổn thương sâu răng này cần phải trám phục hồi bằng cách nạo sạch
ngà mềm, ngà mủn sau đó sát khuẩn lỗ sâu và chọn chất liệu phù hợp trám kín
lỗ sâu. Hiện nay có rất nhiều loại vật liệu để hàn răng sâu như: Amangam,
Fuji, Composite.

Sâu ngà nông

Sâu ngà sâu

Hình 1.8. Tổn thương sâu ngà răng


20

1.8. DỰ PHÒNG BỆNH SÂU RĂNG

1.8.1. Mục tiêu
Từ năm 1979 đến năm 1994, tổ chức Y Tế Thế Giới đã nhiều lần đưa ra
mục tiêu và bổ xung các mục tiêu toàn cầu về dự phòng sâu răng [3], [39].


18

100% giữ được toàn bộ răng

Ở Việt Nam, mục tiêu của chương trình nha học đường là đạt được mục
tiêu dự phòng sâu răng của tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO).
1.8.2. Các biện pháp can thiệp
Năm 1984, tổ chức sức khỏe thế giới đã đưa ra các biện pháp phòng bệnh
sâu răng [3], [40]. Các biện pháp này bao gồm:


21
• Sử dụng fluor.
+ Fluor hóa nguồn cung cấp nước công cộng với nồng độ fluor từ
0,7 – 1,2 mgF/lít nước, nồng độ tối ưu tùy thuộc vào khí hậu.
+ Fluor hóa muối ăn với nồng độ là 250 mgF/1kg muối.
+ Dùng viên fluor
+ Fluor hóa nguồn cung cấp nước uống ở trường học với nồng độ fluor
cao hơn nồng độ tối ưu trong nước công cộng 4,5 lần.
+ Xúc miệng với các dung dịch fluor pha loãng. Cho trẻ em xúc miệng
hàng ngày với dung dịch fluor 0,05% hoặc xúc miệng mỗi lần 1 tuần với
dung dịch fluor 0,2%.
+ Dùng kem đánh răng có fluor.
+ Dùng gel fluor hoặc vecni fluor
+ Sử dụng phối hợp các dạng fluor.
• Trám bít hố rãnh.
Áp dụng với các mặt nhai để ngăn ngừa sâu ở hố rãnh răng sau khi mọc
răng vĩnh viễn.
• Chế độ ăn hợp lý phòng sâu răng.

- Địa điểm nghiên cứu:
+ Khoa răng hàm mặt Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng.
+ Viện đào tạo răng hàm mặt Trường Đại học Y Hà Nội.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang để xác định tỷ lệ sâu
răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng trên đối tượng nghiên cứu.


23

2.3.2. Kỹ thuật chọn mẫu
Theo công thức tính cỡ mẫu [4]
2

n = Z (1−α / 2 )

pq
d2

n

: Cỡ mẫu.

Z

: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy ở mức xác suất 95% và α = 0.05

p

Hải Phòng, Khoa răng hàm mặt Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng.
Bước 3: Tập huấn cho các bác sĩ, điều dưỡng Khoa răng hàm mặt Bệnh viện
Đại học Y Hải Phòng về cách thức khám, cách thu thập thông tin và ghi vào
phiếu phỏng vấn (phụ lục 1), phiếu khám (phụ lục 2).
Bước 4: Khám đánh giá bệnh sâu răng và tình trạng vệ sinh răng miệng bằng
dụng cụ khám và theo phiếu thu thập thông tin.
* Phỏng vấn.
- Chào hỏi tìm sự cởi mở và hợp tác của đối tượng nghiên cứu.
- Đặt câu hỏi theo bộ câu hỏi có sẵn .
- Giải thích nếu đối tượng nghiên cứu chưa rõ.
- Ghi lại trung thực và đầy đủ các câu trả lời vào phiếu điều tra (phụ lục 1).
* Khám lâm sàng.
- Khám trên ghế nha khoa chuyên dụng tại Khoa răng hàm mặt Bệnh viện
Đại học Y Hải Phòng.
- Người khám: Bác sĩ Lương Xuân Quỳnh cùng các bác sĩ Khoa răng
hàm mặt Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng sau đó ghi kết quả vào phiếu
khám (phụ lục 2).
- Phương pháp khám đánh giá sâu răng:
Quan sát kết hợp thám châm và gương soi thăm khám để phát hiện các tổ
thương sâu răng ghi nhận là tổn thương sâu răng sớm trên bề mặt răng (vết
trắng), dùng bông cách ly nước bọt quan sát khi ướt và khi thổi khô bằng hơi của
ghế nha khoa hay sâu răng nếu phát hiện thấy chấm nâu hay đen, mắc thám
châm khi thăm khám. Đánh giá sâu răng theo tiêu chuẩn của WHO 1997 [1].


25


Tổn thương sâu men theo WHO (1997)




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status