Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và mối liên quan với kiến thức,thái độ, hành vi chăm sóc răng miệng của người cao tuổi tại thành phố cần thơ, năm 2015 - Pdf 37

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh quanh răng là một trong những răng miệng phổ biến nhất ở Việt
Nam và nhiều nước trên thế giới. Tỷ lệ người có bệnh quanh răng ở nước ta
rất cao, lên tới 96,7% [1], theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm
2001 của Trần Văn Trường và cộng sự. Đặc biệt bệnh có tỷ lệ mắc tăng dần
theo tuổi: Số người trên 45 tuổi có ít nhất 3 vùng lục phân lành mạnh chỉ
chiếm có 5% [1]. Khi mà cuộc sống được nâng cao, tuổi thọ tăng thì nước ta
đang có xu hướng già hóa dân nhanh chóng thì rất cần thiết phải quan tâm tới
căn bệnh này đặc biệt là đối với đối tượng người cao tuổi (NCT) thật sự vô
cùng đáng quan tâm.
Bệnh vùng quanh răng ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng cuộc sống
như hôi miệng, viêm lợi, chảy máu chân răng lung lay răng,...và đặc biệt là
nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người cao tuổi. Không những ảnh
hưởng đến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, phát âm mà còn có thể gây nhiều
biến chứng nặng nề tại chỗ hay toàn thân, thậm chí còn ảnh hưởng đến tính
mạng của người cao tuổi, qua đó làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và chất lượng
cuộc sống cũng như kinh tế của người bệnh.
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, tuổi thọ của con người ngày
một nâng cao, lực lượng NCT ngày một tăng chiếm một lực lượng không hề
nhỏ 8 triệu NCT chiếm 9,4% dân số tính tới cuối năm 2010. NCT là vốn quý
của xã hội, chăm sóc tốt NCT không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện đạo lý
“Ăn quả nhớ kẻ người trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” của toàn xã hội nói
chung cũng như với mỗi cá nhân, gia đình nói riêng. Nhưng thực tế thì người
cao tuổi thường ít quan tâm tới vấn đề răng miệng hơn so với người trẻ, ở nông
thôn kém hơn thành thị. Theo kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc
năm 2000 trên 999 người 45 tuổi trở lên thì có tới 55% chưa đi khám răng miệng
lần nào [1]. Theo Phạm Văn Việt và cộng sự nghiên cứu năm 2004 cho biết tỷ lệ



1.1. Đặc điểm giải phẫu vùng quanh răng
1.1.1. Giải phẫu vùng quanh răng
Rãnh lợi
Viền lợi
Lợi tự do
Lõm dưới lợi tự do
Xương răng
Dây chằng quanh răng

Lợi dính

Xương ổ răng
Ranh giới lợi – niêm mạc
Niêm mạc di động

Hình 1.1: Giải phẫu răng và vùng quanh răng [3]
Vùng quanh răng lập thành một bộ phận hình thái và chức năng, cùng với
răng tạo nên một cơ quan chức năng trong cơ thể, nó bao gồm toàn bộ tổ chức bao
bọc quanh răng: Lợi, dây chằng quanh răng, xương răng, xương ổ răng, tuần
hoàn và thần kinh vùng quanh răng.
Vai trò:
- Nâng đỡ, lưu giữ, dinh dưỡng và cảm giác cho răng.
- Là một phần của hệ thống nhai, góp phần vào thực hiện chức năng: ăn
nhai, phát âm, thẩm mỹ.
1.1.1.1. Lợi
Lợi được chia thành 2 phần: lợi dính và lợi tự do [4]:


4


Nó giữ răng trong ổ răng và đảm bảo sự liên quan sinh lý giữa răng và
ổ răng nhờ những TB liên kết đặc biệt trong tổ chức dây chằng. Bề rộng của
dây chằng quanh răng khoảng 0,15- 0,21mm. Tuỳ theo sự sắp xếp và hướng
đi của các bó sợi mà người ta phân ra thành 5 nhóm sau:
*

Nhóm cổ răng (hay nhóm mào ổ răng): Gồm những bó sợi đi từ mào xương ổ

răng đến xương răng gần cổ răng.
* Nhóm ngang: Gồm những sợi đi từ xương răng ở chân răng thẳng góc với trục
của răng đến xương ổ răng.
* Nhóm chéo: Gồm những bó sợi đi từ xương ổ răng chếch xuống dưới phía
chân răng, bám vào xương răng. Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhất trong
dây chằng QR.
* Nhóm cuống răng: Gồm những bó sợi đi từ xương răng ở cuống răng, toả
hình nan quạt để đến bám vào xương ổ răng vùng cuống răng.
* Nhóm giữa các chân răng: Đối với răng nhiều chân còn có các bó sợi đi từ kẽ
giữa 2 hay 3 chân răng đến bám vào vách xương ổ răng.
Trong tổ chức liên kết của dây chằng thường thấy có 3 thành phần là:
TB chất tựa, sợi, chất nền. Dây chằng QR cấu tạo bởi những sợi Collagen,
những sợi đó lồng vào trong xương răng, chùm lên chân răng giải phẫu và
từ đó chạy vào lá đáy của túi lợi, màng xương phủ huyệt răng và xương ổ
răng, xương răng của răng bên cạnh, quan trọng nhất là trực tiếp vào trong
xương ổ răng riêng biệt.
1.1.1.3. Xương ổ răng
Xương ổ răng là một phần của xương hàm để giữ chân răng gồm có:
* Bản xương: có cấu tạo là xương đặc. Bản xương ngoài là xương vỏ ở mặt ngoài và
mặt trong của xương ổ răng, được màng xương che phủ. Còn bản xương trong ( gọi
là lá sàng ) nằm liền kề với chân răng, có nhiều lỗ thủng (lỗ sàng).
* Xương xốp: nằm giữa hai bản xương trên và giữa các lá sàng [4].


7

1.1.2. Tuần hoàn quanh răng
Răng, dây chằng QR và xương ổ răng thường có một mạch máu nuôi
dưỡng. Mỗi răng và khe QR được nuôi dưỡng bởi một động mạch nhỏ là một
nhánh của động mạch chính trong xương tới lỗ cuống răng, trước khi vào lỗ
cuống răng nó tách ra các nhánh vào trong xương ổ răng, một nhánh vào khe
QR nuôi các dây chằng QR. Nhánh chính đi vào tuỷ răng qua lỗ cuống răng,
động mạch tuỷ răng không có nhánh nối với bên ngoài. Còn trong xương ổ răng
thì có nhiều mạng nối chằng chịt với nhau, ở vùng dây chằng QR cũng vậy, có
những nhánh xuyên qua bản xương thành trong huyệt răng nối với mạng lưới
tuần hoàn trong khe QR. Tĩnh mạch đi song song với động mạch và đặc biệt là
mạng lưới nối tĩnh mạch ở vùng QR tập trung quanh lỗ cuống răng.
1.1.3. Thần kinh vùng quanh răng: Có hai loại:
- Các sợi giao cảm chạy song song với mạch máu, điều hoà máu chảy
trong các mao mạch.
- Các sợi cảm giác hầu hết là các nhánh có Myelin của nhánh II hoặc
nhánh III của dây thần kinh tam thoa.Vùng dây chằng QR giàu mạng lưới
mạch máu và cũng giàu các sợi cảm giác. Người ta tìm thấy có hai loại thần
kinh tận cùng: là có vỏ bọc và không có vỏ bọc ở đầu tận cùng. Nhánh tận
đầu tự do đáp ứng với cảm giác đau, trong khi đó đầu có vỏ bọc đáp ứng với
thay đổi áp lực; ở những đầu có vỏ bọc cấu trúc phức tạp hơn nhiều so với ở
da và niêm mạc miệng, hơn nữa phần lớn nó đáp ứng với khả năng nhạy cảm
của dây chằng quanh răng.
1.2. Một số đặc điểm biến đổi sinh lý, bệnh lý vùng quanh răng ở người
cao tuổi
1.2.1. Định nghĩa người cao tuổi
Người cao tuổi (NCT) là người từ 60 tuổi trở lên theo quy ước chung của
Liên Hợp Quốc và theo luật người cao tuổi của nước ta (được Quốc hội khóa

nóng, lạnh. Chức năng hô hấp giảm, chức năng tim mạch kém thích ứng với
lao động nặng.


9

Giảm khả năng làm việc trí óc, nhanh mệt, tư duy nghèo dần, liên
tưởng kém, trí nhớ giảm hay quên, kém nhạy bén, chậm chạp.
Thời gian phục hồi vết thương kéo dài, xương dễ gãy do chứng loãng
xương. Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên ngoại lai, vi khuẩn
giảm dễ dẫn đến nhiễm trùng và nổi lên là hiện tượng tự miễn [12].
Tất cả những lão hóa đó là nguyên nhân làm cho sức khỏe người cao
tuổi giảm sút và hay mắc các bệnh mãn tính và cấp tính.
1.2.3. Ảnh hưởng của lão hóa tới mô niêm mạc miệng
* Niêm mạc miệng:
Biểu mô phủ và mô liên kết ở khoang miệng teo và mỏng, giảm mối
liên kết giữa các protein và Mucoprotein theo tuổi. Tăng số lượng tương bào
và hậu quả là giảm tính đàn hồi và tăng sự nhạy cảm của mô đối với sang
chấn. Tổ chức niêm mạc phủ khoang miệng ở người cao tuổi có những biến
đổi dạng phù nề, các nhú biểu mô mất dần làm cho vùng tiếp giáp giữa biểu
mô và mô liên kết bị xẹp xuống làm cho lớp biểu mô dễ bị bong trước.Thời
gian thay thế tế bào biểu mô kéo dài số lượng tế bào Langerhans ít đi. Vì các
biến đổi nêu trên, nên bề mặt của niêm mạc miệng kém chịu đựng trước các
kích thích như nóng, lạnh, sức đề kháng với nhiễm trùng giảm đi, niêm mạc
dễ bị tổn thương và khi bị tổn thương thì cũng lâu lành.
* Niêm mạc lưỡi:
Các nghiên cứu cho thấy các gai lưỡi có hiện tượng giảm và teo. Số gai
hình dây của lưỡi giảm làm cho lưỡi có vẻ trơn láng, gai lưỡi hình đài bị teo
nhiều nhất với số lượng giảm hoặc mất dần các nụ vị giác gây ra những rối loạn
vị giác với các chất ngọt, chua, mặn….Nói chung, niêm mạc lưỡi miệng nhợt

lượng sợi đàn hồi. Nhiều kết quả trái chiều đã được ghi nhận về sự thay đổi
chiều rộng của dây chằng nha chu theo tuổi trong các mẫu vật của người và
động vật. Một điều chắc chắn là chiều rộng của khoảng quanh răng sẽ giảm


11

nếu răng không được nhai đến (giảm chức năng) hoặc chịu lực nhai quá mức.
Cả hai tình huống trên đều dẫn đến sự mất răng sớm.
1.2.4.4. Xương răng
Có sự gia tăng chiều dày xương răng theo tuổi do sự bồi đắp liên tục sau
khi mọc răng. Sự gia tăng chiều dày này nhiều hơn ở vùng chóp và mặt lưỡi.
Khả năng sửa chữa xương răng là hạn chế, những bất thường trên bề mặt xương
răng như những hõm tiêu xương răng xuất hiện ngày càng nhiều theo tuổi.
1.2.4.5. Xương ổ răng
Hình thái lá cứng xương ổ răng thay đổi liên quan với tuổi, có ngày
càng nhiều bất thường trên bề mặt xương ổ răng và giảm số lượng kết nối bất
thường với sợi collagen. Ngoài ra, có sự giảm mạch máu trong xương, giảm
trao đổi chất và khả năng tự sữa chữa, tăng quá trình hủy xương và giảm tái
tạo xương. Trong ghép xương đồng loại đông khô khử khoáng, nếu sử dụng
vật liệu ghép từ người cho trên 50 tuổi thì khả năng tạo mô xương ít hơn so
với vật liệu lấy từ người cho trẻ hơn.
Tuy nhiên, tỷ lệ lành xương (can xương) của xương vùng ổ răng đã nhổ
không liên quan tới tuổi tác. Thật vậy, những thành công trong tích hợp
xương trong cấy ghép nha khoa dựa trên đáp ứng lành thương ở mọi mô
xương lành, không liên quan với tuổi tác.
1.2.4.6. Mảng bám vi khuẩn
Sự tích tụ mảng bám ở lợi-răng được cho là tụt lợi làm tăng diện tích bề
mặt mô cứng lộ ra và đặc điểm bề mặt chân răng bị lộ khác so với men răng.
Đối với mảng bám trên lợi, không có sự khác biệt thực sự về chất lượng

chấn cơ học mạn tính do đánh răng, những tác động không mong muốn do
thầy thuốc gây ra trong phục hình răng, lấy cao răng, kiểm soát bề mặt
chân răng. Ảnh hưởng của những phơi nhiễm này đi theo một hướng duy
nhất là làm gia tăng mất bám dính.


13

Một số nghiên cứu đã được thiết kế để loại bỏ những yếu tố nhiễu và
hướng tới làm rõ câu hỏi tuổi cao có phải là yếu tố nguy cơ của bệnh nha chu
(yếu tố nguy cơ được định nghĩa là một phơi nhiễm hoặc tác nhân làm tăng
xác suất xảy ra bệnh). Những nghiên cứu này đều cho thấy tác động của tuổi
tác là không tồn tại hoặc ít có ý nghĩa lâm sàng làm gia tăng sự mất bảo vệ
vùng nha chu: tỷ suất chênh cuẩ tình trạng vệ sinh răng miệng kém đối với
viêm quanh răng là 20,52 trong khi tỷ suất chênh của tuổi tác chỉ là 1,24. Như
vậy, có thể nói tuổi cao không phải là một yêu tố nguy cơ thực sự nhưng là
nền tảng hoặc một yếu tố kết hợp của sự phát triển viêm quanh răng.
1.3. Phân loại bệnh quanh răng
1.3.1. Phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1961
• Viêm Lợi:
-

Thể cấp tính:
 Viêm lợi loét hoại tử cấp (bệnh vincent)
 Viêm lợi cấp không đặc hiệu
-

Thể mãn tính:
 Viêm lợi mãn tính
 Viêm lợi mãn tính phì đại

Các apxe vùng quanh răng.
Viêm quanh răng do các tổn thương nội nha.
Các biến dạng và tình trạng mắc phải hay trong quá trình phát triển.
1.4. Hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng
1.4.1. Hành vi sức khỏe
Hành vi sức khỏe bao gồm nhiều hành động chịu ảnh hưởng bởi những
yếu tố như di truyền, môi trường kinh tế - xã hội và chính trị. Hành vi sức
khỏe có một vai trò vô cùng quan trọng để tạo lập cho sức khỏe mỗi cá nhân
và cộng đồng.
Các yếu tố quyết định nên hành vi con người có thể tóm tắt như sau:
Kiến thức
K

Thái độ
A

Hành vi
P

Knowledge
Attitude
Practice
Sự hiểu biết phụ thuộc vào yếu Tư duy, lập trường, Các hoạt động
tố văn hóa, xã hội, kinh tế.
quan điểm.
của con người.
1.4.2. Kiến thức (Knowledge)
Kiến thức là sự hiểu biết của con người thường khác nhau và thường bắt
nguồn từ kinh nghiệm, vốn sống hoặc của người khác truyền lại. Hiểu biết rất
khó thay đổi khi hiểu biết sai và trở thành định kiến bởi đó là của chủ thể. Vì

răng miệng…Cũng vì vậy, nguyện vọng của họ thường rất thấp so với nhu
cầu thực tế cần được chăm sóc, điều trị. Đối với một bộ phận những người có
sức khỏe yếu hay khuyết tật không độc lập trong sinh hoạt cá nhân thì các vấn
đề trên càng trở nên nặng nề.


16

1.5.1. Đặc điểm chung
Sức khỏe là biểu hiện của nhiều yếu tố tác động, trong đó vấn đề kiến
thức, thái độ và thực hành sức khỏe đóng vai trò cực kì quan trọng, nó có thể
thúc đẩy tình trạng sức khỏe tốt lên hay xấu đi.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Kiến thức về chăm sóc sức khỏe răng
miệng ở người cao tuổi chủ yếu là kinh nghiệm tích lũy của bản thân hoặc do
người khác truyền lại, mà trên thực tế theo quan điểm y học hiện đại thì các
kinh nghiệm đó đôi khi đi ngược lại và có thể làm cho tình trạng sức khỏe răng
miệng xấu đi. Hơn nữa, kiến thức chăm sóc răng miệng ở người cao tuổi cũng
phụ thuộc nhiều yếu tố như: Trình độ văn hóa, nghề nghiệp, mức sống, khu vực
sinh sống, sự tự tìm hiểu của từng cá nhân…Thông thường ý niệm về bệnh tật
chỉ được quan tâm khi có cảm giác đau, thẩm mỹ bị ảnh hưởng, giao tiếp xã
hội bị hạn chế. Đây là những nhận biết có thể có ở hầu hết người cao tuổi.
Nhưng nếu để hiểu nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp phòng chống bệnh
thì đa số tỏ ra không biết hoặc hiểu sai các kiến thức cơ bản, thông thường.
Thực tiễn này đặt ra trách nhiệm cho vấn đề giáo dục nha khoa trong chương
trình nâng cao hiểu biết đối với sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi.
Trên cơ sở nhận thức và thái độ có nhiều hạn chế nên thực hành chăm sóc
sức khỏe răng miệng của người cao tuổi đã thể hiện nhiều yếu tố tiêu cực: Cách
thức vệ sinh răng miệng không tốt, biểu hiện bằng việc ít chải răng và kỹ thuật
chải răng không tốt. Họ sử dụng nhiều biện pháp vệ sinh răng miệng không cơ
bản và có nhiều thói quen không tốt cho sức khỏe răng miệng. Rất ít người có

Hà Nội của Nguyễn Đức Thắng [26] với lứa tuổi 45-64 và cỡ mẫu (n=150) thì
có CPITN 1 tỉ lệ là 1,33% và CPITN 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 64,67%. Nguyễn
Văn Cát và Renneberg T và cs (1992) khám 181 người từ 44 đến 64 tuổi
không thấy người nào có mô quanh răng lành mạnh, chỉ số CPITN 1 tỉ lệ là
1,2 cao nhất là chỉ số 3 có tỉ lệ 45,8. Theo tác giả Dương Thị Hoài Giang năm


18

2009 khám trên 303 người từ 60 tuổi trở lên tại Hoàng Mai – Hà Nội thấy tỷ lệ
người mắc bệnh quanh răng là 93,1% [17].

* Trên thế giới:
Bảng 1.1: Tình trạng túi lợi ở người cao tuổi của các nghiên cứu trên thế giới
Quốc gia, tác giả
Bergman J.D và Cs,
Australian [27]
Galan D. và Cs,
Canada [28]
Miyazaky H. và Cs,
Japan [18]
Trần Văn Trường, Việt
Nam [29]

Túi lợi
Trung Trung
Túi lợi
nông
bình cao bình túi
sâu (%)

65-74

60,0

2000

≥ 45

35,7

999

2,00

1,60

10,0

2,70

1,10

10,5

2,86

1,83

Một số điều tra khác như; theo điều tra sức khỏe quốc gia 1971-1974 của
Mỹ, tình hình bệnh nha chu theo độ tuổi như sau: với độ tuổi 55-64 (có nam

so với nhu cầu thực tế [16].
Ở Việt Nam, theo điều tra của Phạm Văn Việt (1999) tại Hà Nội, trong
556 người ≥ 60 tuổi có gần 90% không hiểu hoặc chỉ biết một phần về vai trò,
chức năng răng miệng cũng như bệnh sâu răng và viêm quanh răng, chỉ có
một tỉ lệ rất nhỏ biết về nguy cơ lây nhiễm HIV khi nhổ răng. Khi răng miệng
có vấn đề, chỉ có 26,7% tìm đến nha sĩ, chỉ có 20,2% người mất răng có
nguyện vọng làm răng giả để thay thế.
Tại Việt nam, theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2000 thì
tỷ lệ sâu răng ở người trên 45 tuổi là 89,7%, cao nhất trong tất cả các lứa tuổi
[13]. Kết quả một số nghiên cứu trước đó cho thấy người cao tuổi có hiểu biết
hạn chế và ít quan tâm tới việc chăm sóc răng miệng. Ví dụ như nghiên cứu
của Phạm văn Việt tại Hà Nội cho kết quả 90% người cao tuổi (từ 60 trở lên)
trong diện nghiên cứu không hiểu biết hoặc chỉ hiểu biết một phần về vai trò,
chức năng răng miệng cũng như bệnh sâu răng và viêm quanh răng. Kết quả


20

điều tra SKRM toàn quốc năm 2000 trên 999 người độ tuổi từ 45 trở lên có
tới 55% chưa đi khám răng miệng lần nào và 12,7% đi khám răng lần cuối
cùng trước đó 5 năm.
Các bệnh răng miệng không những làm ảnh hưởng tới chức năng ăn nhai,
thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe toàn thân, thậm chí nếu không điều trị
kịp thời nó còn có thể gây nhiều biến chứng nặng nề tại chỗ hoặc toàn thân.
1.8. Một số đặc điểm sinh thái của Thành phố Cần Thơ
Cần Thơ là một thành phố trực thuộc trung ương, nằm bên hữu ngạn
của sông Hậu, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một trong
5 thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam.
Do nằm cạnh sông lớn, nên Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá
chằng chịt. Vùng tứ giác Long Xuyên, thấp trũng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếp

Những người từ 60 tuổi trở lên tại thời điểm điều tra nhưng không trả
lời được phỏng vấn, đang mắc bệnh toàn thân cấp tính hoặc có rối loạn tâm
thần tại thời điểm điều tra.

*

Những người đến sinh sống tạm thời trong thời gian ngắn ở địa bàn
điều tra.

*

Những người không hợp tác để khám hoặc phỏng vấn điều tra.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Thành Phố Cần Thơ.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2015 tới tháng 10/2016.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.4.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu

* Cỡ mẫu:


22

n = Z12−α / 2 ×

p(1 − p)
× DE

cầu đường kính 0,5 mm, có đánh dấu vạch màu đen, giới hạn dưới của vạch


23

đen cách đầu tận cùng của cây thăm dò 3,5 mm, giới hạn trên của vạch màu
đen cách đầu tận cùng của cây thăm dò 5,5 mm.

Hình 2.1: Sonde khám nha chu của WHO [33]

Hình 2.2: Phần đầu của sonde khám nha chu [33]
 Cách sử dụng cây thăm dò:
- Cầm cây thăm dò sao cho trục của cây thăm dò song song với trục của
răng được khám, đưa đầu cây thăm dò nhẹ nhàng vào trong túi lợi (giữa
khoảng cách răng và lợi) tới độ sâu nhất định cảm giác được.
- Túi quanh răng:
+ Xác định vị trí của túi quanh răng: Dùng cây thăm dò quanh răng của
WHO thăm ở mặt ngoài và mặt trong của các răng.
+ Đo độ sâu túi quanh răng: Là khoảng cách từ bờ của đường viền lợi
tới đáy của túi quanh răng. Thăm túi quanh răng ở các mặt răng để xác định vị
trí của túi đồng thời đo và ghi lại chiều sâu của túi. Lấy giá trị đo được ở vị trí


24

sâu nhất của túi tương ứng với mỗi mặt răng. Mỗi răng đo 2 mặt (trong và
ngoài), đo ở tất cả các răng (trừ răng 8).
- Mức mất bám dính quanh răng: Được tính từ chỗ nối men- xương
răng tới đáy túi quanh răng. Đo ở mặt trong và mặt ngoài của răng và lấy số
liệu ở vị trí sâu nhất cho mỗi mặt răng.

(sextant) lục phân. Một vùng chỉ được tính khi còn ≥ 2 răng và các răng này
không có chỉ định nhổ.
2

1

3

6

4

5

Hình 2.3: Biểu diễn cách chia vùng lục phân [34]
Các răng chỉ định để đánh giá tình trạng viêm nhiễm và mất bám dính
quanh răng như sau:
17 /16
47 /46

11
31

26/ 27
36/ 37

* Tiêu chuẩn:
Mã số 0: Lành mạnh
Mã số 1: Chảy máu lợi trực tiếp hay ngay sau khi thăm khám.
Mã số 2: Cao răng trên và dưới lợi phát hiện được trong khi thăm dò


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status