BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
***
HUỲNH CÔNG LÊN
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUI TRÌNH
CHĂM SÓC THIẾT YẾU BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH
TRONG VÀ NGAY SAU ĐẺ TẠI CÁC
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TUYẾN HUYỆN
CỦA TỈNH ĐĂK LẮK NĂM 2017
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA
II TỔ
CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ
HÀ NỘI,
2017
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05
HÀ NỘI - 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
***
HUỲNH CÔNG LÊN
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUI TRÌNH CHĂM
SÓC THIẾT YẾU BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH TRONG VÀ
NGAY SAU ĐẺ TẠI CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn mẹ, vợ, hai con, anh chị em, những người thân
trong gia đình và bạn bè đã hết lòng ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình học
tập và là động lực giúp tôi vượt qua những khó khăn để đạt được kết quả khóa học
và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn
Huỳnh Công Lên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BN
Bệnh nhân
BM
Bà mẹ
BHSS
Băng huyết sau sinh
BV
Bệnh viện
BYT
Bộ Y tế
CBYT
Phỏng vấn
PVS
Phỏng vấn sâu
FIGO
International Federation of Gyneology and Obstetric
Liên đoàn Quốc tế về Sản Phụ khoa
EENC
Early Essental Newborn care
Chăm sóc thiết yếu sơ sinh sớm
TLN
Thảo luận nhóm
TTBD
Tây Thái Bình Dương
TVM
Tử vong mẹ
TVSS
UBND
Ủy ban nhân dân
UNFPA
United Nations Population Fund
Quỹ Dân số Liên hợp quốc
WHO
World Health Organiration
Tổ chức Y tế Thế giới
VGB
Viên gan B
i
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG - BIỂU ......................................................................................... iii
Tóm tắt luận văn ................................................................................................................ v
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................................. 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ......................................................................................... 3
Chương 1. TỔNG QUAN ............................................................................................. 4
1.1. Các khái niệm ............................................................................................................ 4
1.2.Tình hình tử vong mẹ và tử vong sơ sinh: .............................................................. 7
3.2. Thực trạng việc thực hiện Qui trình: .................................................................... 36
3.2.1. Quan sát thực hành cuộc đẻ đối với trẻ thở được: ........................................... 36
3.2.2. Quan sát mô hình thực hành đối với trẻ không thở được: .............................. 43
3.2.3. Thực hành chăm sóc thiết yếu trong và ngay sau đẻ qua phỏng vấn bà mẹ: 46
3.3. Một số yếu tố thuận lợi và khó khăn: .................................................................. 51
3.3.1. Thuận lợi:.............................................................................................................. 51
3.3.2. Khó khăn:.............................................................................................................. 55
Chương 4. BÀN LUẬN................................................................................................ 58
4.1. Thực hiện Qui trình Chăm sóc thiết yếu BM,TSS trong và ngay sau đẻ ......... 58
4.1.1. Kỹ năng thực hiện Qui trình đối với trẻ thở được của CBYT. ...................... 58
4.1.2. Thực hành Qui trình đối với trẻ không thở được của CBYT, ........................ 61
4.1.3. Bà mẹ và trẻ sơ sinh được chăm sóc thiết yếu trong và ngay sau đẻ: ........... 61
4.2. Các yếu tố thuận lợi, khó khăn đến thực hiện Qui trình tại BV huyện. ........... 64
4.3. Hạn chế, sai sót của nghiên cứu đánh giá: ........................................................... 66
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 67
1. Thực hiện Qui trình:................................................................................................... 68
2. Một số yếu tố thuận lợi, khó khăn: .......................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 72
PHỤ LỤC ........................................................................................................................ 74
Phụ lục 1. BỘ CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU ................................................................. 75
Phụ lục 2. BẢNG CÁC BIẾN SỐ ................................................................................ 95
Phụ lục 3. QUI TRÌNH CHUYÊN MÔN CHĂM SÓC THIẾT YẾU .................. 106
Phụ lục 4.BẢN ĐỒ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ....................................................... 116
Phụ lục 5. DANH SÁCH BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN TỈNH ĐẮK LẮK117
Phụ lục 6. XÁC NHẬN THU THẬP SỐ LIỆU ....................................................... 118
iii
DANH MỤC BẢNG - BIỂU
iv
Biểu đồ 3. 2. Thực hành đỡ đầu thai thai nhi . ..........................................38
Biểu đồ 3. 3. Tỷ lệ ca đẻ CBYT thực hiện đúng 5 bước thực hành đỡ đầu ..38
Biểu đồ 3. 4. Tỷ lệ CBYT thực hành đúng 5 bước đỡ vai ..........................39
Biểu đồ 3. 5. Tỷ lệ ca đẻ được CBYT thực hành đúng đỡ mông, chi .........40
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ ca đẻ CBYT thực hành đúng các bước cần làm ngay ....42
Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ ca đẻ được CBYT thực hành đúng 40 bước qui trình ....43
Biểu đồ 3. 8. Thực hành ấn tim ngoài lồng ngực HSSS trên mô hình........46
Biểu đồ 3. 9. Tỷ lệ bà mẹ được tư vấn về chăm sóc thiết yếu. ....................47
Biểu đồ 3. 10. Trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ sau sinh. ..................................49
Biểu đồ 3. 11. Cử bú đầu tiên của trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ ....................50
Biểu đồ 3. 12. Thực hành chăm sóc rốn và cho trẻ SS được nằm với mẹ . .51
v
Tóm tắt luận văn
Qui trình “Chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ”
được Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 4673/QĐ-BYT, ngày 10/11/2014, được
thực hiện tại các cơ sở y tế nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ
sơ sinh hướng tới mục tiêu nâng cao sức khỏe, giảm tử vong mẹ và tử vong sơ
sinh.
Để đánh giá việc triển khai thực hiện Qui trình tại tỉnh Đắk Lắk chúng tôi
tiến hành“Đánh giá việc thực hiện chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và
ngay sau đẻ tại bệnh viện đa khoa tuyến huyện của tỉnh Đắk Lắk năm 2017 ” nhằm
2 mục tiêu (1) Mô tả thực trạng việc thực hiện Qui trình Chăm sóc thiết yếu bà
mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ (2) Phân tích một số yếu tố thuận lợi, khó
khăn việc thực hiện. Nghiên cứu được tiến hành tại 6 Bệnh viện đa khoa tuyến
huyện. Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu
Qui trình được triển khai thuận lợi ở địa bàn nghiên cứu chủ yếu là được
Lãnh đạo các cấp quan tâm, hỗ trợ; Qui trình dễ thực hiện; CBYT hiểu được lợi
ích và quyết tâm thực hiện; Bà mẹ hợp tác và tuân thủ. Tuy nhiên, cũng có một vài
khó khăn nhỏ trong những ngày đầu thực hiện cụ thể là một số CBYT, BM, gia
đình chưa thật sự tin tưởng vào các thực hành mới.như cho trẻ nằm da kề da với
mẹ ngay sau sinh, để rốn hở hoặc thực hành cắt rốn muộn.
Tiếp tục nâng cấp cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị; bồi dưỡng kiến
thức và kỹ năng thực hành chăm sóc thiết yếu BM,TSS, ưu tiên HSSS; các qui
định và chính sách khuyến khích thực hiện cần tiếp tục hoàn thiện là những việc
cần thiết để thực hiện tốt qui trình tại bệnh viện đa khoa tuyến huyện./
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em đã đạt
nhiều thành tựu quan trọng. Các chỉ số về sức khỏe bà mẹ, trẻ em Việt Nam cao hơn
hầu hết các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người tương đương. Tổng kết các
mục tiêu Thiên niên kỷ, Việt Nam có thể tự hào là một trong ít các nước đạt cả 2
mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong trẻ em và cải thiện sức khỏe bà mẹ.
Tuy nhiên bên cạnh thành tựu đạt được, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em vẫn
phải đối diện với nhiều thách thức trong tiến trình hướng tới đạt các chỉ số sức khỏe
giai đoạn sau Mục tiêu Thiên niên kỷ. Các thách thức chính về sức khỏe bà mẹ là
tốc độ giảm tử vong chậm lại, tai biến sản khoa không có dấu hiệu cải thiện, đặc
biệt là đối với các nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ liên quan đến cuộc đẻ. Đối
với sức khỏe trẻ em thì bệnh tật, tử vong trẻ sơ sinh vẫn còn là gánh nặng. Tử vong
sơ sinh giảm chậm và hiện tại vẫn chiếm khoảng 3/4 tử vong trẻ em dưới 1 tuổi.
Các nguyên nhân tử vong chính ở trẻ sơ sinh là ngạt, đẻ non/nhẹ cân, hạ thân nhiệt,
hạ đường huyết, dị tật và nhiễm khuẩn. Điều đáng tiếc là hầu hết tử vong ở trẻ sơ
sinh đều có thể phòng tránh được bằng các can thiệp đơn giản có thể áp dụng được
thuốc gây co tử cung sau đẻ, (3) Tiêm/truyền thuốc chống co giật trong tiền sản
giật, sản giật, (4) Bóc nhau nhân tọa và kiểm soát tử cung, (5) Nạo buồng tử cung
trong trường hợp sót rau, (6) Đỡ đẻ đường dưới có hỗ trợ. Cấp cứu sản khoa thiết
yếu cơ bản toàn diện được thực hiện từ tuyến huyện và tương đương trở lên gồm
cấp cứu sản khoa cơ bản thêm mổ lấy thai và truyền máu [3] .
Chăm sóc sản khoa thiết yếu: Theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ
CSSKSS và Quyết định 385/QĐ-BYT ngày 13/2/2001 của Bộ Y tế, Quy định
nhiệm vụ kỹ thuật trong lĩnh vực CSSKSS tại các cơ sở y tế không chỉ bao gồm cấp
cứu. Vì vậy Việt Nam, khái niệm "Cấp cứu sản khoa thiết yếu" đã mở rộng thành
khái niệm "Chăm sóc sản khoa thiết yếu".
Chăm sóc sản khoa thiết yếu là những chăm sóc cần thiết để quản lý và xử trí
các trường hợp bình thường và có tai biến trong giai đoạn thai nghén, trong đẻ và
sau đẻ.
Chăm sóc sản khoa thiết yếu" phân thành 2 loại: (1) Chăm sóc sản khoa cơ
bản có thể được cung cấp tại tuyến xã/tương đương, gồm các DV: Sử dụng kháng
sinh theo phân tuyến kỹ thuật; Sử dụng thuốc gây co cơ tử cung sau đẻ; Sử dụng
thuốc chống co giật trong tiền sản giật, sản giật; Bóc nhau nhân tạo và kiểm soát tử
cung khi có băng huyết; Đỡ đẻ ngôi chỏm. (2) Chăm sóc sản khoa toàn diện có thể
được cung cấp từ tuyến huyện trở lên, bao gồm các dịch vụ Chăm sóc sản khoa cơ
bản thêm mổ lấy thai và truyền máu [3].
Chăm sóc thiết yếu bà mẹ trong và ngay sau đẻ: là những chăm sóc cần
thiết cho bà mẹ trong khi đẻ ở giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của cuộc chuyển dạ; bao
5
gồm đỡ đẻ đường dưới; tiêm thuốc gây co cơ tử cung sau đẻ, kéo dây rốn có kiểm
soát, xoa tử cung 15 phút/1 lần ngay sau sổ rau để gây co tử cung sau sinh 2h (Xử
trí tích cực giai đoạn 3 cuộc chuyển dạ);
Chăm sóc sơ sinh thiết yếu: Chăm sóc sơ sinh thiết yếu, áp dụng ở Việt
quả tối ưu. Chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm có thể được thực hiện ở tất cả phòng đẻ
mà không cần chuẩn bị phức tạp hoặc đòi hỏi các công nghệ đắt tiền.
" Cái ôm đầu tiên” là một chuỗi các thực hành chăm sóc ngay sau sinh tập
trung vào việc đảm bảo tối đa sự tiếp xúc giữa sơ sinh và bà mẹ - điều đã được
chứng minh là mang lại kết quả ngoạn mục trong việc cải thiện sức khỏe trẻ sơ sinh
và có thể cứu sống 50.000 sơ sinh mỗi năm [20] “Có quá nhiều trẻ sơ sinh tử vong
vì những yếu tố có thể phòng ngừa được, ví dụ như bệnh tật. Cái ôm đầu tiên giải
quyết thách thức này bằng cách thúc giục phụ nữ và nhân viên y tế tại Việt Nam
thực hiện các bước đơn giản nhằm bảo vệ trẻ sơ sinh trong thời gian quan trọng
ngay sau sinh. Tách mẹ và con ngay sau sinh là thực hành rất lỗi thời, lại xảy ra tại
thời điểm rất quan trọng khi trẻ sơ sinh có dấu hiệu tìm kiếm vú mẹ để bú” [12].
Giai đoạn sơ sinh là một trong những giai đoạn quan trọng nhất trong sự tồn
tại và phát triển của một đứa trẻ. Tại kỳ họp gần đây kết luận của Ủy ban WHO khu
vực Tây Thái Bình Dương, các nước thành viên rộng rãi thừa nhận tầm quan trọng
của Chăm sóc thiết yếu sơ sinh (EENC) trong việc giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh
trong khu vực, và nhấn mạnh sự tiến bộ đáng kể trong nước theo hướng mở rộng
quy mô lên EENC. WHO đã kêu gọi các nước hỗ trợ hơn nữa trong việc nâng cao
chất lượng chăm sóc sơ sinh [17].
Lần đầu tiên một người mẹ ôm đứa bé là một khoảnh khắc của hạnh phúc to
lớn. Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ sơ sinh có được một khởi đầu lành mạnh trong
cuộc sống. Trong thực tế, một trẻ sơ sinh chết mỗi hai phút tại khu vực Tây Thái
Bình Dương do thực hành lâm sàng không phù hợp tại thời điểm khai sinh và trong
những ngày đầu tiên của cuộc sống.
Để giải quyết vấn đề này, các nước thành viên đã thông qua Kế hoạch hành
động của UNICEF WHO Healthy Trẻ sơ sinh trong khu vực (2014-2020) Tây Thái
Bình Dương . Kế hoạch này nhằm mục đích nâng cao chất lượng chăm sóc bà mẹ
và trẻ sơ sinh tại các cơ sở y tế, nơi mà đại đa số trẻ em được sinh ra trong khu vực
[17] .
là của trẻ sơ sinh, trẻ trong vòng 28 ngày đầu đời hoặc thời kỳ sơ sinh, 3/4 của tất
8
cả tử vong sơ sinh xảy ra trong tuần đầu của cuộc đời [22] và cứ mỗi ngày có tới
1.500 phụ nữ bị tử vong do các biến chứng trong lúc mang thai và khi sinh. Có
đến 2/3 số tử vong sơ sinh có thể phòng ngừa được nếu biết trước và được cung
cấp các biện pháp y tế hiệu quả khi sinh và tuần đầu của cuộc sống. Tại các nước
đang phát triển, gần một nửa tất cả các bà mẹ và trẻ sơ sinh không nhận được sự
chăm sóc lành nghề trong và ngay sau khi sinh. Nguyên nhân của hầu hết tử vong
sơ sinh là do đẻ non, các biến chứng liên quan đến đẻ (ngạt khi sinh hoặc không
thở khi sinh), và nhiễm trùng [17].
Tại khu vực Châu á Thái Bình Dương cứ hai phút trôi qua lại có một trẻ sơ
sinh tử vong, số trẻ sơ sinh tử vong chiếm tới hơn 50% số trẻ tử vong dưới 5 tuổi,
đa số các ca tử vong có thể phòng tránh được [20], hầu hết ở các nước đang phát
triển và thường là không có chăm sóc đúng kỹ năng. Nhiều tử vong như vậy xảy ra
đối với trẻ sinh quá sớm và quá nhỏ, trẻ bị nhiễm trùng, hoặc trẻ bị ngạt hay chấn
thương khi sinh [22]. Đối với một đứa trẻ thì những ngày đầu mới chào đời là dễ bị
tổn thương nhất. Gần 40% trường hợp tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi - với con số 3,7
triệu năm 2004, là năm gần đây nhất có con số ước tính chắc chắn - xảy ra trong
khoảng thời gian 28 ngày đầu sau khi sinh, trong đó 3/4 bị tử vong vào khoảng thời
gian 7 ngày đầu. Nguy cơ tử vong cao nhất là vào ngày đầu tiên sau khi sinh, vì
theo ước tính có khoảng từ 25% đến 45% số trường hợp tử vong ở trẻ sơ sinh xảy ra
trong ngày đầu mới lọt lòng mẹ. Chênh lệch về tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh cũng rất
rõ rệt: nguy cơ tử vong trong vòng 28 ngày tuổi của một đứa trẻ sinh ra ở một nước
kém phát triển nhất cao gấp khoảng 14 lần so với một đứa trẻ sinh ra ở một nước
công nghiệp hóa [17].
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới, 5 nguyên nhân chính gây tử vong
trẻ em ở nước ta là tử vong sơ sinh, viêm phổi, tiêu chảy, tai nạn thương tích và sởi.
6.7
Tỷ lệ TVSS/
1000 Trẻ đẻ sống
8.5
14.0
12.4
18.4
24.3
27.2
-
231.0
9.0
Nguồn: Levels and Trends in Child Mortality – Report 2013. New York UNICEF, 2013[10].
Chảy máu sau sinh là một biến chứng trầm trọng, một trong 5 tai biến chính
của sản khoa thường xuất hiện trong những giờ đầu sau sinh. Đây thường là kết quả
do chảy máu thời kỳ sổ rau, tổn thương đường sinh dục. Ngày nay, nhờ các tiến bộ
của hồi sức cấp cứu đã làm giảm sự trầm trọng của biến chứng này. Chảy máu sau
đẻ vẫn là nguyên nhân gây tử vong chính trong sản khoa. Băng huyết sau sinh
(BHSS) hiện nay vẫn còn là một trong những tai biến sản khoa đứng hàng đầu gây
tử vong cho mẹ trên thế giới và Việt Nam. Mặc dù các điều kiện cơ sở y tế ngày
càng được nâng cao, chất lượng về máy móc và trình độ của đội ngũ cán bộ y tế đã
tiến bộ vượt bậc so với nhiều thập niên trước, nhưng BHSS vẫn còn là một tai biến
đáng sợ đối với các bác sĩ sản khoa.
Mỗi năm, trên toàn cầu có khoảng 515.000 phụ nữ tử vong trong quá trình
mang thai và sinh nở, trong đó 130.000 phụ nữ chảy máu cho đến chết trong khi
liều 10 đơn vị để đề phòng chảy máu sau đẻ.
Trước khi tiêm bắp thuốc tăng co tử cung cần phải kiểm tra xem trong tử
cung có còn thai hay không bằng cách sờ nắn tử cung qua thành bụng ngay sau khi
thai sổ [5].
● Kéo dây rốn có kiểm soát:
Trước đây kéo dây rốn có kiểm soát được khuyến cáo áp dụng cho tất cả các
trường hợp đẻ thường, do các nhân viên y tế đã được đào tạo về kỹ năng xử trí tích
cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ thực hiện. Năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành hướng
11
dẫn “Xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ” trong đó khuyến cáo kéo dây rốn
có kiểm soát sau khi tiêm bắp 10 đơn vị oxytocin được áp dụng cho tất cả các trường
hợp đẻ đường âm đạo tại cơ sở y tế từ tuyến xã đến trung ương do nhân viên y tế đỡ
đẻ thực hiện. Tuy nhiên bằng chứng nghiên cứu gần đây đã khuyến cáo kéo dây rốn
chỉ nên thực hiện tại các cơ sở cung cấp dịch vụ đỡ đẻ có cán bộ y tế có kỹ năng và
được đào tạo về xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ, còn các nơi không có
nhân viên y tế có kỹ năng và chưa được đào tạo thì không được tiến hành kéo dây rốn
có kiểm soát.
● Xoa đáy tử cung:
Xoa đáy tử cung là một trong ba can thiệp của xử trí tích cực giai đoạn ba
cuộc chuyển dạ được khuyến cáo tiến hành liên tục trong hai giờ đầu sau đẻ, với tần
suất 15 phút/lần. Hơn nữa xoa đáy tử cung còn có thể giúp phát hiện sớm các
trường hợp đờ tử cung sau đẻ, hạn chế được tai biến băng huyết.
Thử nghiệm lâm sàng trên 200 sản phụ chia thành hai nhóm có và không xoa
đáy tử cung sau khi xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ cho thấy giảm lượng
máu mất, giảm số lượng sản phụ cần dùng thêm thuốc tăng co bóp tử cung ở nhóm
có xoa đáy tử cung so với nhóm không xoa đáy tử cung [5].
● Kẹp và cắt dây rốn muộn
đau “vượt cạn một mình”. Kết quả nghiên cứu Cochrane phân tích gộp 34 thử
nghiệm lâm sàng trên 2177 cặp mẹ con về tiếp xúc da kề da cho thấy các trẻ
được tiếp xúc trực tiếp da kề da với mẹ ngay sau sinh thì ít khóc hơn so với các trẻ
được nhân viên y tế chăm sóc, các bà mẹ cũng cảm thấy dễ dàng cho con bú mẹ
hơn trong những tháng đầu sau đẻ, thời gian cho bú cũng lâu hơn. Các bà mẹ cũng
ghi nhận trẻ gần gũi với mẹ hơn, tuy nhiên phương pháp lượng giá về mối quan hệ
mẹ con cũng khó chính xác [5].
● Cho trẻ bú sớm:
Cho trẻ bú sớm và bú sữa mẹ hoàn toàn trong giờ đầu sau đẻ, không cho trẻ
ăn thêm bất cứ một loại thực phẩm nào khác. Theo khuyến cáo của WHO, nên cho
trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú mẹ đồng thời bổ sung thêm
các thực phẩm thích hợp khác cho đến 2 tuổi hoặc lâu hơn tùy trường hợp. Cho trẻ
bú mẹ hoàn toàn có thể ngăn ngừa tử vong do tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp
tính trong 3 tháng đầu. Cho trẻ bú sớm còn làm kích thích tuyến yên tăng tiết
13
oxytocin giúp tử cung co tốt hơn để phòng ngừa chảy máu sau đẻ.
Chính từ các bằng chứng lâm sàng trên, WHO đã đưa ra khuyến cáo áp
dụng 6 bước chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ bao gồm:
- Lau khô và ủ ấm; cho trẻ tiếp xúc trực tiếp da kề da (trẻ được đặt lên
bụng mẹ ngay sau khi sinh và kéo dài ít nhất 90 phút sau sinh)
- Tiêm bắp 10 đơn vị oxytocin
- Kẹp dây rốn muộn (sau khi dây rốn đã ngừng đập hoặc 1-3 phút sau khi
thai sổ) và kẹp và cắt dây rốn một thì.
- Kéo dây rốn có kiểm soát
- Xoa đáy tử cung cứ 15 phút một lần trong vòng 2 giờ đầu sau đẻ.
- Hỗ trợ cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn [5].
chạm vào vào vú; Giữ người trẻ sát với ngực mẹ, ôm toàn bộ người trẻ. Chờ đến khi
thực hành có hại hoặc lỗi thời trong chăm sóc trẻ sơ sinh ở Việt Nam.
Trong hai thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến lớn trong
giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi trong tháng đầu sau sinh, đạt mục tiêu Thiên
niên kỷ về giảm tỷ lệ trẻ tử vong. Tuy nhiên, trong năm 2012, vẫn có trên 17.000 trẻ
sơ sinh tử vong trong tháng đầu đời. Vì lý do này, “Cái ôm đầu tiên” nêu bật tầm
quan trong của chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm . Gói hành động và can thiệp này đề
cập đến các nguyên nhân cơ bản nhất của tử vong hoặc bệnh tật ở trẻ sơ sinh, như
đẻ non (sinh non), sơ sinh nhẹ cân hoặc mắc nhiễm trùng nặng như viêm phổi hoặc
tiêu chảy [11].
Tổ chức Y tế Thế giới, phối hợp với Bộ Y tế Việt Nam phát động chiến dịch
“Cái ôm đầu tiên” tại ba bệnh viện: Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Sản Nhi Đà Nẵng
và Bệnh viện Phụ sản Trung Ương. Ba bệnh viện này là Trung tâm điển hình về
Chăm sóc sơ sinh sớm thiết yếu ở Việt Nam, nơi đã áp dụng các thực hành về cái
ôm đầu tiên.
Tổ chức Y tế Thế giới hỗ trợ phát triển ba Trung tâm điển hình này thông
qua tập huấn cho các bác sỹ, nữ hộ sinh, y tá và tạo ra môi trường hỗ trợ bà mẹ, trẻ
sơ sinh được nhận chăm sóc sơ sinh sớm tại bệnh viện.