Đề tài Đánh giá việc thực hiện qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện - Pdf 56

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
***

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUI TRÌNH CHĂM
SÓC THIẾT YẾU BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH TRONG VÀ
NGAY SAU ĐẺ TẠI CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TUYẾN HUYỆN CỦA TỈNH ĐĂK LẮK NĂM 2017

LUẬN VĂN CHUYÊN NGÀNH HÀ
QUẢN
LÝ BỆNH VIÊN
NỘI,
2017

ĐẮK LẮK, 2017


ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUI TRÌNH CHĂM
SÓC THIẾT YẾU BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH TRONG VÀ
NGAY SAU ĐẺ TẠI CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TUYẾN HUYỆN CỦA TỈNH ĐĂK LẮK NĂM 2017

ĐẮK LẮK, 2017


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BN

Bệnh nhân


Chăm sóc sức khỏe sinh sản

DS-KHHGĐ

Dân số-Kế hoạch hóa gia đình

IMC

International confederation of Midwives
Hiệp hội Nữ hộ sinh Quốc tế

NV

Nhân viên

PV

Phỏng vấn

PVS

Phỏng vấn sâu

FIGO

International Federation of Gyneology and Obstetric
Liên đoàn Quốc tế về Sản Phụ khoa

EENC



YT

Y tế

SS

Sơ sinh

SYT

Sở Y tế


YTTG

Y tế Thế giới

UBND

Ủy ban nhân dân

UNFPA

United Nations Population Fund
Quỹ Dân số Liên hợp quốc

WHO

World Health Organiration

2.3. Thiết kế nghiên cứu:....................................................................................... 30
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:............................................................... 30
2.4.1. Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng:.................................................................. 30
2.4.2. Cỡ mẫu nghiên cứu định tính:...................................................................... 32
2.5. Phương pháp thu thập số liệu:......................................................................... 33
2.5.1. Số liệu:......................................................................................................... 33
2.5.2. Phương pháp thu thập số liệu:...................................................................... 33
2.6. Các biến số nghiên cứu................................................................................... 37
2.7. Các khái niệm, tiêu chí đánh giá:.................................................................... 37


2
2.8. Phương pháp phân tích số liệu:....................................................................... 38
2.9. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu:..................................................................... 39
2.10. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục:..............................39
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU............................................................... 41
3.1. Thông tin chung:............................................................................................ 41
3.2. Thực trạng việc thực hiện Qui trình:............................................................... 44
3.2.1................................................................................................................Quan
sát thực hành cuộc đẻ đối với trẻ thở được:.................................................... 44
3.2.2................................................................................................................Quan
sát mô hình thực hành đối với trẻ không thở được.......................................... 51
3.2.3. Thực hành chăm sóc thiết yếu trong và ngay sau đẻ qua phỏng vấn bà mẹ:
54 3.3. Một số yếu tố thuận lợi và khó khăn......................................................... 59
3.3.1. Thuận lợi:.................................................................................................... 59
3.3.2. Khó khăn:.................................................................................................... 63
Chương 4. BÀN LUẬN....................................................................................... 66
4.1. Thực hiện Qui trình Chăm sóc thiết yếu BM,TSS trong và ngay sau đẻ.........66
4.1.1. Kỹ năng thực hiện Qui trình đối với trẻ thở được của CBYT......................66
4.1.2. Thực hành Qui trình đối với trẻ không thở được của CBYT,.......................69

Bảng 3. 3. Thực trạng cơ sở vật chất.............................................................42
Bảng 3. 4. Thực trạng về trang thiết bị..........................................................43
Bảng 3. 5. Thực trạng về thuốc thiết yếu.......................................................43
Bảng 3. 6. Các văn bản hướng dẫn thực hiện................................................44
Bảng 3. 7. Thực hành chuẩn bị trước sinh.....................................................44
Bảng 3. 8. Thực hành đỡ vai..........................................................................47
Bảng 3. 9. Thực hành đỡ mông và chi thai nhi..............................................48
Bảng 3. 10. Thực hành các việc làm ngay sau sinh chăm sóc mẹ và con: ... 49
Bảng 3. 11. Thực hành các việc làm ngay sau sinh đối với trẻ không thở được
....................................................................................................................... 51
Bảng 3. 12. Thực hành hồi sức đối với trẻ sơ sinh không thở được..............52
Bảng 3. 13. Tỷ lệ Bà mẹ được chăm sóc thiết yếu trong quá trình sinh.......54
Bảng 3. 14. Tỷ lệ trẻ sơ sinh được tắm sau sinh............................................56
Bảng 3. 15. Tỷ lệ trẻ sơ sinh được thực hiện da kề da với mẹ sau sinh........56
Bảng 3. 16. Tỷ lệ trơ sinh được bú sữa mẹ và chăm sóc sớm sau sinh.........58
Danh mục Biểu đồ:
Biểu đồ 3. 1. Tỷ lệ ca đẻ có CBYT thực hiện đúng các bước chuẩn bị.................45


Biểu đồ 3. 2. Thực hành đỡ đầu thai thai nhi........................................................ 46
Biểu đồ 3. 3. Tỷ lệ ca đẻ CBYT thực hiện đúng 5 bước thực hành đỡ đầu............46
Biểu đồ 3. 4. Tỷ lệ CBYT thực hành đúng 5 bước đỡ vai...................................... 47
Biểu đồ 3. 5. Tỷ lệ ca đẻ được CBYT thực hành đúng đỡ mông, chi....................48
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ ca đẻ CBYT thực hành đúng các bước cần làm ngay...............50
Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ ca đẻ được CBYT thực hành đúng 40 bước qui trình...............51
Biểu đồ 3. 8. Thực hành ấn tim ngoài lồng ngực HSSS trên mô hình..................54
Biểu đồ 3. 9. Tỷ lệ bà mẹ được tư vấn về chăm sóc thiết yếu................................ 55
Biểu đồ 3. 10. Trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ sau sinh............................................... 57
Biểu đồ 3. 11. Cử bú đầu tiên của trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ..............................58
Biểu đồ 3. 12. Thực hành chăm sóc rốn và cho trẻ SS được nằm với mẹ............59


38.9

% thực hành đúng đặt đầu trẻ đúng khi bóp bóng. Rất ít (5%) CBYT thực

hành đúng vị trí ấn ngực. Không có CBYT nào thực hành đúng tất cả các kỹ năng
HSSS ngay sau đẻ.
Phỏng vấn bà mẹ sau sinh có con đủ tháng cho thấy có 76,5 % trẻ sơ sinh bú
mẹ cử đầu tiên trong vòng 15-60 phút sau sinh, 61,1% trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ
hoàn toàn trong 90 phút đầu đời, 92% trẻ sơ sinh được đặt da kề da với mẹ ngay sau
sinh, 74% được duy trì đên 90 phút, tuy nhiên chỉ có 57,5% trẻ được tiếp xúc da kề
da với mẹ không bị các ly trong 90 phút và hoàn thành cử bú đầu tiên.
Tại thời điểm đánh giá, nhân lực ở các bệnh viện huyện số lượng tương đối
đủ, hầu hết được đào tạo qui trình của BYT. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc
thiết yếu cơ bản có đủ theo qui định, chỉ còn thiếu khu vực HSSS ở phòng sinh.
Qui trình được triển khai thuận lợi ở địa bàn nghiên cứu chủ yếu là được
Lãnh đạo các cấp quan tâm, hỗ trợ; Qui trình dễ thực hiện; CBYT hiểu được lợi ích
và quyết tâm thực hiện; Bà mẹ hợp tác và tuân thủ. Tuy nhiên, cũng có một vài khó
khăn nhỏ trong những ngày đầu thực hiện cụ thể là một số CBYT, BM, gia đình
chưa thật sự tin tưởng vào các thực hành mới.như cho trẻ nằm da kề da với mẹ ngay
sau sinh, để rốn hở hoặc thực hành cắt rốn muộn.
Tiếp tục nâng cấp cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị; bồi dưỡng kiến thức
và kỹ năng thực hành chăm sóc thiết yếu BM,TSS, ưu tiên HSSS; các qui định và
chính sách khuyến khích thực hiện cần tiếp tục hoàn thiện là những việc cần thiết để
thực hiện tốt qui trình tại bệnh viện đa khoa tuyến huyện./


ABSTRACT
EVALUATING THE IMPLEMENTATION OF ESSENTIAL CARE
PROCEDURE FOR MOTHER AND NEWBORN BABY AT THE BIRTH

observation of 60 normal deliveries, 18 simulations, interviewed 179 mothers after
birth, 18 detail interviews and 6 health staff group discussions.
Result of 60 normal births observation: 58% by health staff that practise
enough step, 18% carring firt-step, 22% carring sholder-step, 50% limb-rump-step,
47% carring right steps for birth of maternal and newborn baby. There are 96.7%
newborn baby contacting with mother after birth; 97.7% injecting oxytoxin to
mother at firrt minute; 97.7% performed late cord clamping and cutting, 91%
correcting cord clamp 1; 38.1% did not perform a tightening of the uterus when the


umbilical cord was pulled and 31.1% did not perform uterine rubbing. Only 8% of
births were performed in exactly 35-40 steps.
Neonatal resuscitation skills of health staffs are not good when observed 18
infants were unable to breathe neonatal resuscitation; 61.1% put the mask in place,
22.2% performed mobile chest tracking; 38.9% put right baby head when by
ventilator fibrilation, 5% practicing right the position of chest press and no health
staffs carring right all neonatal resuscitation skills after birth.
Interviewing mothers after birth who have full-term newborn baby record
that 76.5% newborn baby dinking mother milk within 15-60 minutes after birth,
61.1% newborn baby dinking mother milk for 90 minutes at the beginning of life,
92% were skin-to-skin with the mother immediately after birth, 74% were
maintained to 90 minutes, however only 57.5% of children were skin-to-skin
contact with the mother without the inner glasses. 90 minutes and complete the first
feeding.
The number of staff in district hospitals was sufficient at the time of
evaluation, most of the Ministry of Health procedure training. There are enough
basic facilities, equipment, basic essential drugs but lacking the area of neonatal
recovery in the birth room.
That procedure was deployed good at the research zone, easy to do and
mothers adhere to and cooperate. However, there are some difficuty to do at the first

được cập nhật trong “Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ Chăm sóc Sức khoẻ Sinh
sản” năm 2009 và được ban hành cho tất cả các cơ sở y tế trong cả nước thực hiện.
Tiếp đó, dựa vào khuyến nghị của WHO, các chuyên gia đầu ngành về Sản - Nhi đã
biên soạn tài liệu hướng dẫn chuyên môn “Chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh
trong và ngay sau đẻ" (sau đây gọi tắt là Chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh) và


đã được Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 4673/QĐ-BYT nhằm tăng cường chất
lượng chăm sóc, cơ hội sống còn của bà mẹ và trẻ sơ sinh tại cuộc đẻ và ngay sau
khi đẻ. Hướng dẫn chuyên môn này vừa được ban hành đã được các cơ sở y tế triển
khai đồng loạt trong toàn quốc. Một số đánh giá nhanh ban đầu cho thấy Hướng dẫn
này là phù hợp, có giá trị thực tiễn đối với công việc hàng ngày của cán bộ chuyên
trách chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh cũng như được sự chấp nhận của bà
mẹ.
Tỉnh Đắk Lắk là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, có 47 dân tộc, đời
sống kinh tế, xã hội và công tác chăm sóc sức khỏe sức khỏe bà mẹ, trẻ em còn
nhiều khó khăn, tình hình tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh còn ở mức cao so với
cả nước và chưa được kiểm soát [13] [14]. Để tiếp tục tăng cường công tác chăm
sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh, giảm tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh, từ đầu năm 2015
đã tổ chức triển khai, thực hiện Qui trình chuyên môn Chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ
sơ sinh trong và ngay sau đẻ ở tất cả các tuyến y tế.
Bệnh viện đa khoa huyện là tuyến y tế gần dân, nơi nhiều bà mẹ lựa chon để
sinh con đã thực hiện Quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay
sau đẻ. Sau hơn 2 năm thực hiện chỉ số về chăm sóc bà mẹ, trẻ sơ sinh có cải thiện,
tuy nhiên vẫn cao hơn nhiều so với mức trung bình chung của cả nước. Để tìm hiểu
sâu hơn về hiện trạng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, đặc biệt là việc thực hiện
của hướng dẫn chuyên môn tại bệnh viện huyện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
"Đánh giá việc thực hiện Qui trình Chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong
và ngay sau đẻ tại bệnh viện đa khoa tuyến huyện của tỉnh Đắk Lắk năm 2017"
với hy vọng là sẽ cung cấp các số liệu khoa học làm cơ sở cho các can thiệp nâng

sau đẻ.
Chăm sóc sản khoa thiết yếu" phân thành 2 loại: (1) Chăm sóc sản khoa cơ
bản có thể được cung cấp tại tuyến xã/tương đương, gồm các DV: Sử dụng kháng
sinh theo phân tuyến kỹ thuật; Sử dụng thuốc gây co cơ tử cung sau đẻ; Sử dụng
thuốc chống co giật trong tiền sản giật, sản giật; Bóc nhau nhân tạo và kiểm soát tử
cung khi có băng huyết; Đỡ đẻ ngôi chỏm. (2) Chăm sóc sản khoa toàn diện có thể
được cung cấp từ tuyến huyện trở lên, bao gồm các dịch vụ Chăm sóc sản khoa cơ
bản thêm mổ lấy thai và truyền máu [3].
Chăm sóc thiết yếu bà mẹ trong và ngay sau đẻ: là những chăm sóc cần
thiết cho bà mẹ trong khi đẻ ở giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của cuộc chuyển dạ; bao


gồm đỡ đẻ đường dưới; tiêm thuốc gây co cơ tử cung sau đẻ, kéo dây rốn có kiểm
soát, xoa tử cung 15 phút/1 lần ngay sau sổ rau để gây co tử cung sau sinh 2h (Xử
trí tích cực giai đoạn 3 cuộc chuyển dạ);
Chăm sóc sơ sinh thiết yếu: Chăm sóc sơ sinh thiết yếu, áp dụng ở Việt
Nam, là một quá trình can thiệp toàn diện, liên tục từ khi mang thai, trong khi sinh
và sau sinh nhằm cải thiện sức khỏe sơ sinh. Bao gồm: (1) Chăm sóc thường qui
ngay tại cuộc đẻ và sau đẻ; (2) Khám trẻ; (3) Hồi sức sơ sinh; (4) Giữ ấm; (5) Nuôi
con bằng sữa mẹ; (6) Các phương pháp nuôi dưỡng; (7) Chăm sóc trẻ sơ sinh non
tháng, nhẹ cân; (8) Xử trí các nhiễm khuẩn.
Hồi sức sơ sinh cơ bản là những xử trí ngay khi trẻ không thở được, ở những
nơi không có Oxy, gồm (1) Giữ ấm cho trẻ; (2) Đặt trẻ ở tư thế nằm thẳng, đầu ngữa
nhẹ về phía sau đảm bảo đường thở thông thoáng; (3) Hút đờm dãi xuất tiết ở mũi
miệng; (4) Thông khí phổi bằng các bóp bóng qua mặt nạ.
Chăm sóc sơ sinh thiết yếu trong và ngay sau đẻ là những chăm sóc cho
trẻ sơ sinh ngay sau đẻ nhằm cải thiện sức khỏe sơ sinh, bao gồm: (1) giữ ấm cho
trẻ ( lau khô nhanh, ủ ấm), (2) cắt rốn muộn ( khi mạch rốn ngừng đập) và cắt rốn 1
thì; (3) đặt trẻ da kề da với mẹ và kéo dài 90 phút; Cho trẻ bú sữa mẹ sớm và hoàn
toàn ngay sau đẻ

1.2.

Tình hình tử vong mẹ và tử vong sơ sinh:
Phụ nữ thường dễ gặp nguy biểm trong khi chuyển dạ, khi sinh và ngay

sau sinh. Mỗi năm, khoảng 35.000 phụ nữ chết trong thời kỳ mang thai hoặc khi
sinh con, ước tính hơn 8 triệu phụ nữ nữa bị mắc bệnh nguy hiểm và tàn tật suốt
đời do những biến chứng khi sinh con [16]. Kể từ 1990 đến nay, số ca tử vong ở
bà mẹ mỗi năm trên toàn thế giới ước tính trên 500.000 với tổng số gần 10 triệu
ca trong vòng 19 năm qua [17]. Nguyên nhân gây tử vong mẹ hàng đầu được kể
đến là băng huyết sau sinh, sản giật, nhiễm trung hậu sản và các nguyên nhân
khác. Hơn nữa, hàng triệu phụ nữ nếu sống sót sau khi sinh nở thì cũng bị thương
tổn, nhiễm trùng, bệnh tật và khuyết tật xuất phát từ việc mang thai, và thường để
lại hậu quả suốt đời [22].
Mỗi năm ước tính có gần 43% tổng số tử vong trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới
là của trẻ sơ sinh, trẻ trong vòng 28 ngày đầu đời hoặc thời kỳ sơ sinh, 3/4 của tất


cả tử vong sơ sinh xảy ra trong tuần đầu của cuộc đời [22] và cứ mỗi ngày có tới
1.500 phụ nữ bị tử vong do các biến chứng trong lúc mang thai và khi sinh. Có
đến 2/3 số tử vong sơ sinh có thể phòng ngừa được nếu biết trước và được cung
cấp các biện pháp y tế hiệu quả khi sinh và tuần đầu của cuộc sống. Tại các nước
đang phát triển, gần một nửa tất cả các bà mẹ và trẻ sơ sinh không nhận được sự
chăm sóc lành nghề trong và ngay sau khi sinh. Nguyên nhân của hầu hết tử vong
sơ sinh là do đẻ non, các biến chứng liên quan đến đẻ (ngạt khi sinh hoặc không
thở khi sinh), và nhiễm trùng [17].
Tại khu vực Châu á Thái Bình Dương cứ hai phút trôi qua lại có một trẻ sơ
sinh tử vong, số trẻ sơ sinh tử vong chiếm tới hơn 50% số trẻ tử vong dưới 5 tuổi,
đa số các ca tử vong có thể phòng tránh được [20], hầu hết ở các nước đang phát
triển và thường là không có chăm sóc đúng kỹ năng. Nhiều tử vong như vậy xảy ra

37 quốc gia và khu vực Tây Thái
Bình Dương

Số ca TVSS
(1000 ca)
157.4
32.3
17.5
6.7
5.1
5.3
6.7

Tỷ lệ TVSS/
1000 Trẻ đẻ sống
8.5
14.0
12.4
18.4
24.3
27.2
-

231.0

9.0

Nguồn: Levels and Trends in Child Mortality – Report 2013. New York UNICEF, 2013[10].

Chảy máu sau sinh là một biến chứng trầm trọng, một trong 5 tai biến chính

có tới 90% trường hợp xảy ra trên sản phụ không có yếu tố nguy cơ nào. Để phòng
ngừa chảy máu sau đẻ, Hiệp hội nữ hộ sinh quốc tế (ICM) và Hiệp hội Sản phụ khoa
quốc tế (FIGO) khuyến cáo xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ bao gồm ba
can thiệp chính: tiêm bắp oxytocin ngay sau khi sổ thai, kéo dây rốn có kiểm soát và
xoa đáy tử cung 15 phút/lần trong hai giờ đầu sau đẻ [5].
● Tiêm bắp oxytocin:
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo sử dụng thuốc tăng co tử cung
(thuốc được khuyến cáo là oxytocin) để xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ
cho tất cả các trường hợp đẻ đường âm đạo, oxytocin sử dụng đường tiêm bắp với
liều 10 đơn vị để đề phòng chảy máu sau đẻ.
Trước khi tiêm bắp thuốc tăng co tử cung cần phải kiểm tra xem trong tử
cung có còn thai hay không bằng cách sờ nắn tử cung qua thành bụng ngay sau khi
thai sổ [5].
● Kéo dây rốn có kiểm soát:
Trước đây kéo dây rốn có kiểm soát được khuyến cáo áp dụng cho tất cả các
trường hợp đẻ thường, do các nhân viên y tế đã được đào tạo về kỹ năng xử trí tích
cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ thực hiện. Năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành hướng


dẫn “Xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ” trong đó khuyến cáo kéo dây rốn
có kiểm soát sau khi tiêm bắp 10 đơn vị oxytocin được áp dụng cho tất cả các trường
hợp đẻ đường âm đạo tại cơ sở y tế từ tuyến xã đến trung ương do nhân viên y tế đỡ
đẻ thực hiện. Tuy nhiên bằng chứng nghiên cứu gần đây đã khuyến cáo kéo dây rốn
chỉ nên thực hiện tại các cơ sở cung cấp dịch vụ đỡ đẻ có cán bộ y tế có kỹ năng và
được đào tạo về xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ, còn các nơi không có
nhân viên y tế có kỹ năng và chưa được đào tạo thì không được tiến hành kéo dây
rốn có kiểm soát.
● Xoa đáy tử cung:
Xoa đáy tử cung là một trong ba can thiệp của xử trí tích cực giai đoạn ba
cuộc chuyển dạ được khuyến cáo tiến hành liên tục trong hai giờ đầu sau đẻ, với tần

tháng không bị thiếu máu cũng như giảm tỷ lệ xuất huyết não do giảm
prothrombin [5].
Xuất phát từ các bằng chứng lâm sàng của các nghiên cứu về kẹp cắt dây rốn
muộn, năm 2012, WHO đã khuyến cáo nên kẹp cắt dây rốn muộn (khi dây rốn
ngừng đập hoặc 1-3 phút sau sổ thai) cho tất cả các trường hợp đẻ thường để ngăn
ngừa tình trạng thiếu máu của trẻ. Chỉ kẹp cắt dây rốn sớm (trước 01 phút) đối với
các trường hợp trẻ ngạt cần phải hồi sức tích cực.
● Tiếp xúc da kề da:
Trẻ được tiếp xúc da kề da với mẹ ngay từ những phút đầu sau khi sinh
giúp tăng sự tương tác sớm giữa mẹ và con. Trẻ sẽ không bị hạ thân nhiệt, trẻ sẽ
tìm vú mẹ sớm hơn và bú mẹ khoẻ hơn. Người mẹ cũng giảm lo lắng, giảm nỗi
đau “vượt cạn một mình”. Kết quả nghiên cứu Cochrane phân tích gộp 34 thử
nghiệm lâm sàng trên 2177 cặp mẹ con về tiếp xúc da kề da cho thấy các trẻ
được tiếp xúc trực tiếp da kề da với mẹ ngay sau sinh thì ít khóc hơn so với các
trẻ được nhân viên y tế chăm sóc, các bà mẹ cũng cảm thấy dễ dàng cho con bú
mẹ hơn trong những tháng đầu sau đẻ, thời gian cho bú cũng lâu hơn. Các bà
mẹ cũng ghi nhận trẻ gần gũi với mẹ hơn, tuy nhiên phương pháp lượng giá về
mối quan hệ mẹ con cũng khó chính xác [5].
● Cho trẻ bú sớm:
Cho trẻ bú sớm và bú sữa mẹ hoàn toàn trong giờ đầu sau đẻ, không cho trẻ
ăn thêm bất cứ một loại thực phẩm nào khác. Theo khuyến cáo của WHO, nên cho
trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú mẹ đồng thời bổ sung thêm
các thực phẩm thích hợp khác cho đến 2 tuổi hoặc lâu hơn tùy trường hợp. Cho trẻ
bú mẹ hoàn toàn có thể ngăn ngừa tử vong do tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp
tính trong 3 tháng đầu. Cho trẻ bú sớm còn làm kích thích tuyến yên tăng tiết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status