KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ EM GIAI ĐOẠN 2016-2020 - Pdf 39

BỘ Y TẾ

KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA VỀ
CHĂM SÓC SỨC KHỎE BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ EM
GIAI ĐOẠN 2016-2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 4177/QĐ-BYT, ngày 03 tháng 8 năm 2016 của
Bộ trưởng Bộ Y tế)

HÀ NỘI, NĂM 2016


MỤC LỤC
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN ................................................................................... 5
CHƢƠNG II. THỰC TRẠNG, THÁCH THỨC VÀ CÁC ĐỊNH HƢỚNG
CHÍNH ĐỐI VỚI SỨC KHỎE BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ EM HIỆN
NAY .......................................................................................................................... 9
I. THỰC TRẠNG VÀ THÁCH THỨC ............................................................ 9
1. Sức khỏe bà mẹ ............................................................................................. 9
2. Sức khỏe trẻ em ............................................................................................. 15
3. Hệ thống y tế, mạng lưới CSSKSS/SKBMTE .............................................. 23
II. CÁC ĐỊNH HƢỚNG CHÍNH...................................................................... 31
CHƢƠNG III. KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ......................................................... 33
I. MỤC TIÊU ...................................................................................................... 33
1.1. Mục tiêu chung ........................................................................................... 33
1.2. Mục tiêu cụ thể ........................................................................................... 33
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ CÁC CAN THIỆP THIẾT YẾU ................................... 35
2.1. Đối tượng can thiệp .................................................................................... 35
2.2. Các can thiệp thiết yếu ............................................................................... 35
III. CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH .......................................................................... 36
3.1. Nhóm giải pháp về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc thiết yếu, khoa học,
công nghệ ............................................................................................................. 36

Kết quả mong đợi 7: Nâng cao tính sẵn có, chất lượng và sự tiếp cận các dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ sơ sinh .................................................................. 50
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN .............................................................................. 56
5.1. Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch hành động .......................... 56
5.2. Phân công trách nhiệm thực hiện .............................................................. 56
VI. DỰ KIẾN NHU CẦU KINH PHÍ ............................................................... 58


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVĐK

Bệnh viện đa khoa

CSSKSS

Chăm sóc sức khoẻ sinh sản

CSSS

Chăm sóc sơ sinh

IMCI

Lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh

KHHGĐ

Kế hoạch hoá gia đình

KMC


TTYT

Trung tâm y tế

TVM

Tử vong mẹ

TVSS

Tử vong sơ sinh

TVTE

Tử vong trẻ em

TYT

Trạm Y tế

YSSN

Y sỹ sản nhi


CHƢƠNG I. TỔNG QUAN

Năm 2015 là mốc thời gian quan trọng để các quốc gia trong đó có Việt
Nam đánh giá việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Đối với

(SKSS)/SKBMTE, dự thảo Chiến lược toàn cầu về Sức khỏe phụ nữ, trẻ em
5


và vị thành niên (GSWCAH) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đề ra 3 nhóm
mục tiêu: (i) Mục tiêu về cứu sống - chấm dứt những trường hợp tử vong có
thể phòng tránh được; (ii) Mục tiêu về vươn tới - đảm bảo các tiêu chuẩn cao
nhất về y tế; và (iii) mục tiêu về chuyển đổi - đạt được các thay đổi có tính
chất chuyển đổi và bền vững.
Ngoài dự thảo Chiến lược toàn cầu về sức khỏe phụ nữ, trẻ em và vị
thành niên, mục tiêu “Loại trừ TVM, TVSS, TVTE do các nguyên nhân có thể
phòng tránh được” (ending preventable maternal, newborn and child deaths)
còn được nhấn mạnh trong các Chiến lược, Kế hoạch hành động khác của các
tổ chức LHQ như: Kế hoạch hành động về trẻ sơ sinh (ENPA), Chiến lược
loại trừ TVM do các nguyên nhân có thể phòng tránh được (EPMM)…
Để đạt được các mục tiêu trên, các giải pháp và nội dung can thiệp chủ
yếu được khuyến nghị, bao gồm:
1. Áp dụng cách tiếp cận chăm sóc liên tục theo vòng đời (continuum of
care – life course) - đặc biệt là chăm sóc trong thời kỳ mang thai, chăm sóc
trong và ngay sau khi sinh, chăm sóc tuần đầu sau sinh- và tiếp cận phổ cập
dịch vụ CSSK (universal access, universal health coverage) được nhấn mạnh.
2. Quan tâm giải quyết sự khác biệt trong sử dụng và tiếp cận dịch vụ
CSSK giữa các vùng miền, các nhóm dân cư để đảm bảo công bằng trong
CSSK.
3. Quan tâm đến tất cả các khía cạnh: tính tiếp cận, tính sẵn có, khả
năng chi trả và chất lượng của dịch vụ (AAAQ) trong việc cung cấp dịch vụ,
đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người đỡ đẻ có kỹ năng.
4. Quan tâm đến các nguyên nhân gốc rễ (underlying causes), trong đó
đặc biệt nhấn mạnh vai trò của dinh dưỡng trong 1000 ngày đầu đời - từ giai
đoạn trong bụng mẹ cho đến 2 tuổi.

mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở vị thành niên và thanh niên có
xu hướng gia tăng. Hiểu biết, hành vi về SKSS/SKTD của vị thành niên và
thanh niên còn nhiều hạn chế. Kiến thức, thái độ và hành vi về
CSSKSS/SKBMTE trong cộng đồng và ngay cả cán bộ y tế còn hạn chế.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên chủ yếu là do việc tiếp cận
dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh của người dân cũng như chất lượng
dịch vụ, nhất là ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải
đảo còn nhiều hạn chế. Phong tục, tập quán lạc hậu trong chăm sóc, nuôi
dưỡng bà mẹ, trẻ sơ sinh, trẻ em, tình trạng phụ nữ có thai không được quản lý
thai và đẻ tại nhà không có cán bộ y tế đỡ còn khá phổ biến ở khu vực miền
núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đặc biệt
ở các bệnh viện tuyến huyện chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc điều trị
cấp cứu sản khoa và sơ sinh. Nhân lực về chuyên ngành sản phụ khoa và nhi
khoa rất thiếu, đặc biệt là tại tuyến huyện. Hầu hết các bệnh viện huyện đều
bố trí khoa Sản chung với khoa Ngoại để tận dụng nhân lực. Tỷ lệ bác sĩ đa
khoa, bác sĩ chuyên khoa ngoại làm công tác sản khoa khá lớn. Năng lực
chuyên môn của nhân viên y tế làm công tác chăm sóc sản khoa, chăm sóc sơ
sinh (CSSS), đặc biệt là ở tuyến y tế cơ sở cũng còn có những hạn chế trong
việc phân loại, phát hiện nguy cơ, tiên lượng, theo dõi, cấp cứu và hồi sức sản
7


khoa, sơ sinh. Cán bộ y tế làm công tác sản phụ khoa, nhi khoa, nhất là ở
tuyến huyện, xã ít có cơ hội được tham gia các lớp tập huấn bổ túc, cập nhật
kiến thức và thực hành chuyên môn do thiếu kinh phí và không bố trí được
người làm thay. Bên cạnh đó, còn có biểu hiện chủ quan, chưa kịp thời, chưa
thực hiện nghiêm quy chế bệnh viện, quy định chuyên môn trong chẩn đoán,
tiên lượng và xử trí cấp cứu, hồi sức sản phụ, trẻ sơ sinh khi có tai biến xảy ra.
Nhằm thực hiện giai đoạn 2 và hiện thực hóa các mục tiêu của Chiến lược về
Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 cũng như hướng tới thực

Lào (197 và 6,1); Cambodia (161 và 7,4).
Cũng tương tự như ở nhiều nước trên thế giới, TVM ở Việt Nam phần
lớn (khoảng 70% các trường hợp) là do các nguyên nhân trực tiếp, trong đó
chủ yếu là do băng huyết, sản giật và nhiễm khuẩn. Một trong những giải
pháp hữu hiệu nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc sản khoa là thực hiện thẩm
định TVM đối với tất cả các trường hợp TVM. Ở Việt nam, hoạt động thẩm
định TVM đã được chính thức thực hiện trên phạm vi cả nước từ năm 2011.
Mặc dù còn nhiều hạn chế trong báo cáo, các dữ liệu thu thập được cũng đã
chỉ ra bức tranh tương đối toàn cảnh của TVM. Tổng số ca TVM được báo
cáo năm 2012 là 289, số ca đã được tiến hành thẩm định là 207, chiếm 71.4%.
1

Tổng cục Thống kê. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt nam 2009-Mức sinh và mức chết ở Việt nam:

Thực trạng, xu hướng và những sự khác biệt. 2001, Hà Nội
2

Bộ Y tế. Điều tra tử vong mẹ, tử vong sơ sinh ở Việt Nam 2006-2007. 2009, Hà Nội

3

Trends in Maternal mortality: 1990 to 2015 – Estimates by WHO, UNICEF, UNFPA, World Bank

Group and the United Nations Population Division

9


TVM trong quá trình mang thai chiếm 18%, trong chuyển dạ và 24 giờ đầu
sau đẻ là 45%. Có đến 38% các trường hợp TVM xảy ra tại tuyến huyện, tỉnh,

119/100.000 trẻ đẻ sống, trong đó là vùng Tây Bắc là 242/100.000 trẻ đẻ sống
4 Bộ Y tế, Vụ SKBMTE. Báo cáo thẩm định tử vong mẹ 2012
5 Bộ Y tế, Vụ Sức khỏe sinh sản. Tử vong mẹ ở Việt Nam. Nhà xuất bản y học, 2004
6 Bộ Y tế, Vụ SKBMTE. Số liệu TĐTVM năm 2014

10


và Tây Nguyên là 108/100.000 trẻ đẻ sống. Điều tra TVM và TVSS gần đây
nhất tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc do Dự án hỗ trợ y tế các tỉnh miền núi phía
Bắc tiến hành cho thấy tỷ số TVM trong dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc
H’mông cao hơn nhiều lần so với tỷ số TVM ở dân tộc Kinh (tỷ số TVM ở
các dân tộc H’mông, Thái, Dao, Nùng, Tày và Kinh lần lượt như sau: 210, 64,
52, 53, 43 và 12/100.00 trẻ đẻ sống)7.
- Về nguyên nhân TVM, số liệu ở cả 2 cuộc điều tra TVM ở khu vực
miền núi (Điều tra TVM tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên 20072008 và Điều tra TVM,TVSS tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc 2013-2014) đều
cho thấy tỷ lệ TVM do các nguyên nhân trực tiếp ở các tỉnh miền núi còn khá
cao so với cả nước và đáng quan ngại hơn là tỷ lệ này không có xu hướng
giảm (81,5% và 81,2%). Điều này cho thấy trong thời gian tới cần phải tập
trung đầu tư nhiều hơn nữa cho các vùng miền núi khó khăn các can thiệp
nhằm làm giảm các nguy cơ dẫn đến TVM do các nguyên nhân trực tiếp gây
ra như tăng cường chất lượng quản lý, chăm sóc thai nghén, đảm bảo kịp thời
các can thiệp về cấp cứu, hồi sức sản khoa trong các trường hợp nguy cơ…
- Tốc độ giảm TVM trong những năm gần đây đã có sự chậm lại. Báo
cáo của nhóm đánh giá độc lập thuộc Ủy ban Thông tin và Trách nhiệm giải
trình về sức khỏe phụ nữ và trẻ em của LHQ phân tích số liệu của 75 quốc gia
cho thấy, nếu như giai đoạn 1990-2003, Việt Nam đạt tốc độ giảm tỉ số TVM
trung bình năm là -5,2% thì trong giai đoạn 2003-2013 tốc độ này chỉ còn 4,6%/năm và Việt Nam nằm trong số 19 quốc gia có xu hướng giảm tỉ số
TVM chậm lại trong giai đoạn này. Tương tự như vậy, Báo cáo quốc gia kết
quả 15 năm thực hiện các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam

yếu tố rất quan trọng giúp cuộc đẻ an toàn, góp phần làm giảm tai biến sản
khoa, giảm TVM và TVSS. Số liệu Báo cáo tổng kết công tác CSKSSS năm
2014 của Vụ SKBMTE cho thấy từ năm 2010 đến 2014, tỷ lệ phụ nữ sinh con
được cán bộ y tế đã qua đào tạo đỡ luôn duy trì ở mức cao từ 97-98%.
Chăm sóc sau sinh, đặc biệt là chăm sóc sớm ngay sau sinh là một trong
những giải pháp quan trọng để phát hiện và xử trí sớm các tai biến ở bà mẹ và
sơ sinh, góp phần giảm TVM và trẻ sơ sinh. Số liệu theo dõi cho thấy tỷ lệ bà
mẹ/trẻ sơ sinh được chăm sóc tuần đầu sau sinh trong các năm từ 2010-2014
đạt các tỷ lệ tương ứng là 79,0%, 75,4%, 77,9%, 76,95% và 78,7 %. Theo báo
cáo, các vùng Trung du & miền núi phía Bắc và đặc biệt là Đông Nam bộ
thường có tỷ lệ thấp hơn so với trung bình toàn quốc.
1.3. Sử dụng biện pháp tránh thai
Thực hiện Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) đóng vai trò quan trọng
trong đảm bảo sức khỏe phụ nữ, trẻ em thông qua việc giúp phòng tránh thai quá
sớm, quá muộn hoặc quá nhiều lần. Theo Điều tra MICS 201410, có 75% (so với
77,8% của điều tra MICS 2011) phụ nữ tuổi từ 15-49 hiện đang có chồng hoặc
đang chung sống như vợ chồng cho biết có sử dụng biện pháp tránh thai. Biện
pháp phổ biến nhất là đặt dụng cụ tử cung (28,2%), tiếp đến là tính vòng kinh
(13,4%), bao cao su nam (11,8%), thuốc uống tránh thai (11,9%), xuất tinh ngoài
(5,4%), đình sản nữ (2,8%) và thuốc tiêm tránh thai (1,7%). Cũng theo Điều tra
MICS 2014, tổng nhu cầu KHHGĐ không được đáp ứng là 6,1%, hay nói cách
khác trong 100 phụ nữ từ 15-49 tuổi đã kết hôn hoặc đang chung sống như vợ
chồng thì có 6 người không được đáp ứng nhu cầu về KHHGĐ. Tỷ lệ này cao
hơn 1,8 điểm phần trăm so với điều tra MICs 2011 (4,3%) và cao hơn ở khu vực
Tây Nguyên, Trung du, miền núi phía Bắc, ở nhóm phụ nữ nghèo, phụ nữ dân
tộc thiểu số, đặc biệt là trong nhóm phụ nữ trẻ từ 15-19 và 20-24 tuổi.
9

Vụ SKBMTE, Bộ Y tế. Báo cáo tổng kết CTCSKSSS năm 2014


1.5. Lây truyền HIV từ mẹ sang con
Hàng năm, ở Việt Nam có khoảng gần 2 triệu phụ nữ mang thai và ước
tính tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai là 0,25% thì mỗi năm
ở nước ta có hơn 5000 phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV. Nếu không có can thiệp
thì với tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con khoảng 30-40%, ước tính mỗi năm
Việt Nam có khoảng 1500-2000 trẻ em sinh ra bị nhiễm HIV từ các bà mẹ bị
nhiễm HIV. Theo báo cáo năm 2009 của Cục Phòng, Chống HIV/AIDS, tỷ lệ
phụ nữ mang thai nhiễm HIV tăng nhanh ở một số tỉnh miền núi như Điện Biên
(2%) và Thái Nguyên (2,38%). Tuy nhiên, số liệu chính xác về số trẻ em nhiễm
HIV hiện vẫn chưa được thống kê đầy đủ. Các can thiệp về phòng lây truyền từ
mẹ sang con hiện đang được triển khai trên địa bàn toàn quốc với định hướng
mới dùng thuốc ARV dự phòng lây truyền từ mẹ sang con ngay khi phát hiện
13


mẹ bị nhiễm HIV mà không phải chờ đến tuần thai thứ 14 như hướng dẫn trước
đây. Cho đến cuối năm 2013, toàn quốc có 226 điểm cung cấp dịch vụ dự
phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, trong đó có 2 điểm tuyến trung ương, 92
điểm tuyến tỉnh, 132 điểm tuyến huyện chiếm khoảng 25% số huyện trong toàn
quốc. Số liệu của Cục Phòng, Chống HIV/AIDS cho thấy trong 9 tháng đầu
năm 2013 trong số 1.048.534 phụ nữ có thai được tư vấn xét nghiệm có
794.681 (chiếm 75%) trường hợp được xét nghiệm HIV. Trong đó, 449.718
trường hợp được xét nghiệm trong thời gian mang thai và 352.503 làm xét
nghiệm trong lúc chuyển dạ và phát hiện 1.031 trường hợp phụ nữ mang thai bị
nhiễm HIV11.
Thách thức: tỷ lệ phụ nữ có thai được xét nghiệm HIV đạt còn thấp và
số xét nghiệm trong chuyển dạ vẫn chiếm đến gần một nửa số trường hợp được
xét nghiệm. Mất dấu và tiếp cận điều trị ARV muộn đối với các trường hợp
nhiễm HIV còn cao. Cung ứng test xét nghiệm và thuốc ARV điều trị liên tục
cũng là vấn đề khó khăn, nhất là trong bối cảnh ngân sách và hỗ trợ quốc tế bị

cho thấy tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và phụ nữ có thai đều
khá cao (25,5% và 32,8%)13. Điều tra này cũng cho thấy mức độ đáng báo
động về tỷ lệ thiếu kẽm ở phụ nữ có thai (80%) và ở trẻ em (70%) Việt Nam.
2. Sức khỏe trẻ em
Tử vong trẻ em

2.1.

Trong những năm qua, TVTE ở Việt Nam đã giảm đáng kể. Theo Báo
cáo quốc gia kết quả 15 năm thực hiện các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ
của Việt Nam, tử vong TE
vực thành thị. Tỷ suất TVTE của dân tộc thiểu số cao gấp gần 3 lần so với ở
trẻ em dân tộc kinh. Năm 2013, ước tính tổng số tử vong dưới 5 tuổi ở Việt
Nam là khoảng 26.600 trẻ em.
- Tốc độ giảm tỷ suất TVTE đã chậm lại trong những năm gần đây. Theo
Báo cáo quốc gia kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên
kỷ của Việt Nam, trong giai đoạn 1990-2004, tỷ suất TVTE dưới 5 tuổi duy trì
tốc độ giảm trung bình khoảng 2‰ /năm, đến giai đoạn 2005-2010 chỉ còn
0,6‰ /năm và từ 2011 - 2014, tốc này giảm xuống chỉ còn 0,5‰/năm. Tương
tự, trong giai đoạn 1990 - 2010, tỷ suất tử vong ở trẻ em dưới 1 tuổi giảm với
tốc độ 1,4‰/năm nhưng từ 2011-2014, con số này chỉ đạt 1,15‰/năm. Báo
cáo của nhóm đánh giá độc lập thuộc Ủy ban Thông tin và Trách nhiệm giải
trình về sức khỏe phụ nữ và trẻ em của LHQ cũng cho thấy, nếu như giai đoạn
1990-2000, Việt Nam đạt tốc độ giảm TVTE dưới 5 tuổi là 5%/năm thì đến
giai đoạn 2011-2013 tốc độ giảm chỉ còn 3,4%/năm.
- Mặc dù TVTE dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể nhưng tử
vong trẻ sơ sinh vẫn còn cao, chiếm khoảng 70-75% TVTE dưới 1 tuổi và
50% TVTE dưới 5 tuổi. Đáng lo ngại hơn, tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh tuy có
giảm nhưng tốc độ giảm rất chậm so với 2 chỉ số TVTE dưới 1 tuổi và dưới 5
tuổi. Điều này cho thấy công tác chăm sóc trước sinh cũng như chăm sóc, điều
trị, cấp cứu, hồi sức trong cuộc đẻ và chăm sóc ngay sau sinh đối với trẻ sơ
sinh còn nhiều bất cập và hạn chế.

15

WHO, UNICEF.2014. Every Newborn:an action plan to end preventable death: Executive summary.

Geneva: World Health Organization

16


- Bên cạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em hiện còn ở mức cao, chúng ta
cũng đang phải đối mặt với tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em tại khu vực
thành thị, những nơi có điều kiện về kinh tế - xã hội thuận lợi và phát triển
cũng như tình trạng gia tăng các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh
dưỡng. Đây thực sự là gánh nặng kép về dinh dưỡng mà Việt Nam cần phải
giải quyết trong các năm tới.
- Mặc dù thiếu vitamin A thể nặng hầu như đã được loại trừ ở trẻ em, thể
Viện Dinh dưỡng. Điều tra giám sát dinh dưỡng hàng năm.

16
17

Viện Dinh dưỡng Quốc gia. Số liệu điều tra năm 2015.

17


tiền lâm sàng vẫn đang còn tồn tại có ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Với
tỷ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng ở trẻ em là 13%, Việt nam được xếp ở mức
trung bình về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng18.
- Bên cạnh các thành tựu đã đạt được, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
(NCBSM) còn nhiều tồn tại, thách thức cần phải khắc phục trong thời gian tới.
Chỉ 62% trẻ sơ sinh ở Việt Nam được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh19.
Việt Nam hàng năm có khoảng 1,5 triệu trẻ em được sinh ra – như vậy có
khoảng 600 nghìn trẻ không được bú sữa mẹ trong giờ đầu. Có thể thấy sữa
mẹ trong giờ đầu - nguồn vắc xin quý cho trẻ đã bị lãng phí.
NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu là yếu tố quan trọng trong việc
giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi. Tuy nhiên, tỷ lệ NCBSM hoàn
toàn trong 6 tháng đầu tại Việt Nam được cải thiện rất ít. Chỉ có 19,6% trẻ dưới
6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn20. Như vậy chỉ có 1 trong số 5 bà mẹ

Viện Dinh dưỡng Quốc gia. Tổng điều tra dinh dưỡng – 2010

18


các cơ sở sản khoa và nhi khoa. Sáng kiến này nhằm bảo vệ, khuyến khích và
hỗ trợ NCBSM. Cho đến nay, chỉ có 59 bệnh viện Trung ương và tỉnh trong số
12.146 bệnh viện (chưa đến 1%) được cấp giấy chứng nhận bệnh viện Bạn
hữu trẻ em (BVBHTE). Việc duy trì và mở rộng số lượng BVBHTE còn gặp
nhiều khó khăn do thiếu kinh phí cũng như hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật từ
các tổ chức quốc tế còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, việc thiếu kinh phí và cam
kết giám sát duy trì tiêu chuẩn BVBHTE của các Sở Y tế cũng là một lý do
khiến cho số lượng BVBHTE tăng không nhiều.
- Năng lực của các cán bộ y tế tư vấn nuôi dưỡng trẻ nhỏ ở tất cả các
tuyến còn hạn chế. Chương trình đào tạo về NCBSM đã được xây dựng và đưa
vào giảng dạy tại các trường Trung học Y tế, tuy nhiên cần phải được cập nhật
kiến thức thường xuyên. Chưa xây dựng được một chương trình đào tạo lại về
NCBSM cấp quốc gia cho các cán bộ y tế các tuyến. Năng lực tư vấn nuôi
dưỡng trẻ nhỏ của đội ngũ cán bộ y tế tuyến xã và y tế thôn bản còn hạn chế.
- Việc quảng cáo quá mức và việc tặng quà của các công ty sữa đã ảnh
hưởng không nhỏ đến niềm tin của bà mẹ trong việc lựa chọn sản phẩm thay
thế sữa mẹ hơn là việc NCBSM. Kết quả nghiên cứu năm 2011 trên 10 tỉnh
của Dự án Nuôi dưỡng và phát triển cho thấy Việt Nam có tỷ lệ xem truyền
hình cao (gần 99% bà mẹ xem truyền hình), trong khi hơn 80% bà mẹ xem các
quảng cáo về sữa bột ít nhất 1 lần 1 tuần, thì chỉ có gần 40% bà mẹ được xem
các chương trình tuyên truyền về NCBSM trên truyền hình. Như vậy, vấn đề
đặt ra là làm thế nào để quản lý được hoạt động quảng cáo của các công ty sữa
cũng như tăng cường truyền thông về NCBSM trên các phương tiện thông tin
đại chúng nếu chúng ta muốn hỗ trợ, khuyến khích và bảo vệ NCBSM21.
- Việc cho trẻ ăn dặm sớm (bắt đầu từ tháng thứ 2) là hiện tượng phổ biến

bệnh tiêu chảy hoặc bệnh về đường hô hấp. Nghiên cứu của FANTA-2 vào
năm 2009 về việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ đối với những phụ nữ nhiễm HIV dương
tính ở hai thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV cao tại Việt Nam cho thấy khá nhiều
thách thức để tìm được nguồn thức ăn thay thế an toàn23.
Tiêm chủng mở rộng

2.3.

Giảm các bệnh lây nhiễm có thể phòng ngừa được bằng tiêm chủng góp
một phần quan trọng trong giảm tỷ lệ bệnh tật và TVTE nước ta. Từ tháng 10
năm 2000, Việt Nam đã được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là nước đã
thanh toán bệnh bại liệt và đến năm 2005 được công nhận là nước đã loại trừ
uốn ván sơ sinh. Theo quy định của Chương trình tiêm chủng mở rộng, trẻ em
trước ngày sinh nhật đầu tiên cần được tiêm một mũi vắc xin BCG phòng lao,
ba mũi DPT phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván, ba liều vắc xin phòng bại liệt,
một liều vắc xin phòng sởi, ba mũi tiêm phòng viêm gan B và 3 mũi vắc xin
Hib phòng viêm màng não. Điều tra MICs 2014 cho thấy, trong vòng năm đầu
có 98,0% trẻ em được tiêm BCG, 96,3% được tiêm Bạc hầu - Uốn ván – Ho
gà mũi 1, có 93,5%% được tiêm mũi 2 và 88,6% được tiêm mũi 3. Số liệu
tương tự đối với vắc xin phòng bại liệt như sau: mũi 1: 96,9%, mũi 2: 95,1%
và mũi 3: 91,9%. Các loại vắc xin đạt tỷ lệ tiêm còn thấp là: tiêm phòng sởi
trong vòng năm đầu (86,2%) và tiêm phòng VGB sơ sinh (78,5%). Tính chung
cho tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin phòng bệnh trước
ngày sinh nhật đầu tiên là 75,6%.
Bên cạnh những thành tựu đã nêu trên, chương trình tiêm chủng mở
rộng vẫn còn phải giải quyết một số thách thức liên quan đến vấn đề công
bằng trong cung cấp dịch vụ. Theo Điều tra MICs 2014, tỷ lệ trẻ tiêm chủng
đầy đủ ở nhóm dân tộc Kinh/Hoa đạt được cao hơn nhóm trẻ em dân tộc thiểu
23


Theo số liệu điều tra MICS 2014, có 8,6% trẻ em dưới 5 tuổi được khai
báo có triệu chứng tiêu chảy cấp trong vòng 2 tuần trước thời điểm phỏng vấn.
Tỷ lệ này cao hơn ở vùng Tây nguyên, vùng trung du-miền núi phía Bắc, ở
nhóm trẻ nhỏ 0-11 tháng tuổi, nhóm trẻ sống trong các hộ gia đình nghèo nhất,
nhóm trẻ thuộc dân tộc thiểu số. Cũng theo điều tra MICS 2014, có 79,6% trẻ
em dưới 5 tuổi được khai báo có triệu chứng tiêu chảy cấp trong vòng 2 tuần
trước thời điểm phỏng vấn có đi tìm lời khuyên hoặc phương pháp điều trị từ
các cơ sở y tế hoặc người cung cấp dịch vụ y tế và nhà thuốc. Có 50,9% trẻ
em khi bị tiêu chảy được uống gói ORS hoặc dung dịch ORS pha sẵn, 41,1%
được uống các loại dung dịch tự pha chế tại nhà (nước gạo rang, nước cơm
pha muối, nước luộc rau…) và 16,9% được uống viên kẽm hoặc sirô kẽm.
Lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh
Hoạt động IMCI là sáng kiến của WHO và UNICEF nhằm lồng ghép
21


các chương trình ngành dọc hiện có như chương trình phòng chống tiêu chảy,
nhiễm khuẩn hô hấp cấp, dinh dưỡng, tiêm chủng mở rộng, phòng chống sốt
rét...với mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc, điều trị trẻ bệnh
nhằm giảm tỷ lệ TVTE.
Chiến lược IMCI được giới thiệu vào nước ta từ năm 1996 và được Bộ
Y tế chính thức phê duyệt cho triển khai thực hiện trên diện rộng từ năm 1999
và IMCI được coi là một trong các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và
tăng cường hoạt động chăm sóc trẻ bệnh tại các tuyến y tế và cộng đồng. Cho
đến nay hoạt động IMCI đã được triển khai ở hầu hết các tỉnh/ thành phố
trong cả nước. Nội dung IMCI đã được đưa vào chương trình giảng dạy tại 7
trường Đại học và 19 trường Trung học Y tế và hàng ngàn cán bộ y tế đã được
tập huấn cập nhật về nội dung này.
Thách thức đối với các hoạt động IMCI: Mặc dù IMCI được coi như là
một chiến lược hành động nhằm giảm bệnh tật, TVTE nhưng việc triển khai

3.1.

Mạng lưới cung cấp dịch vụ CSSKBMTE

Mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ CSSKBMTE nói
riêng ở Việt Nam được bao phủ rộng khắp. Các cơ sở y tế cũng như mạng lưới
cung cấp dịch vụ CSSKBMTE được thiết lập từ trung ương đến tỉnh, huyện,
xã và thôn bản. Theo số liệu khảo sát năm 2013 của Vụ SKBMTE, ở tuyến
tỉnh, ngoài các khoa sản, khoa nhi ở 156 bệnh viện tuyến tỉnh và đa khoa khu
vực, chưa kể hệ thống tư nhân, toàn quốc có 11 bệnh viện chuyên khoa phụ
sản, 12 bệnh chuyên khoa nhi, 9 bệnh viện sản nhi. 100% huyện/thị có trung
tâm y tế (TTYT) /BV tuyến huyện, trong đó có các khoa sản và nhi hoặc
nội/nhi. 97,9% tổng số xã phường có trạm y tế (TYT). Ngoài ra còn có 595
phòng khám đa khoa khu vực (PKĐKKV) đang hoạt động trên toàn quốc24.
Nhìn chung, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế ở nước ta đang dần được
đổi mới, cải thiện; từng bước được đầu tư nâng cấp để đáp ứng nhu cầu CSSK
ngày càng cao của nhân dân. Nhiều tiến bộ khoa học, y học đã được áp dụng
trong chẩn đoán, phát hiện sớm và điều trị; nhiều kỹ thuật cao, phức tạp đang
được thực hiện trong các bệnh viện như thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai
hộ, mổ nội soi,…
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được,việc cung cấp các dịch vụ y tế,
trong đó có dịch vụ CSSKBMTE hiện nay ở Việt Nam còn nhiều bất cập như:
mô hình tổ chức nhiều biến động; việc tổ chức lại mô hình y tế tuyến huyện
thành bệnh viện huyện, TTYT dự phòng, phòng y tế, và việc phân công lại
nhiệm vụ giám sát hoạt động của TYT đã phần nào tạo ra sự mất ổn định, xáo
trộn về nhân lực và năng lực cung cấp dịch vụ ở tuyến y tế cơ sở (đánh giá
thực trạng y tế dự phòng tuyến huyện năm 2014 của Cục Y tế dự phòng cho
thấy chỉ có 28,9% huyện áp dụng mô hình TTYT huyện thực hiện đồng thời
cả 2 chức năng dự phòng và điều trị, 71,1% số huyện áp dụng mô hình y tế
tuyến huyện có bệnh viện huyện, TTYT dự phòng và phòng y tế). Quy định về

Tuyến xã: 12.863 (Bs trở lên 90 = 0,7%,
Hộ sinh/YSSN: 12.773=99,30%).
Khó khăn, thách thức:
Nhân lực về chuyên ngành sản phụ khoa và nhi khoa rất thiếu, đặc biệt
tại tuyến huyện. Hầu hết các bệnh viện huyện đều bố trí khoa Sản chung với
khoa Ngoại để tận dụng nhân lực. Tỷ lệ bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa
ngoại làm công tác sản khoa khá lớn (chiếm khoảng 1/3). Việc bố trí cho các
cán bộ đi tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cũng gặp rất nhiều khó khăn
do không đủ cán bộ làm việc.
Số liệu khảo sát tình hình mạng lưới CSSKSS năm 2013 cho thấy,
trong hệ thống y tế công, cả nước hiện mới đạt 0,33 BS chuyên khoa sản (kể
cả định hướng)/10.000 dân; 0,2 BS nhi/10.000 dân; 3,48 y sỹ sản nhi-hộ
sinh/10.000 dân (trong khi đó nhu cầu đến năm 2020 cần đạt 1,2 BS sản, 1,2
BS nhi/10.000 dân và 4,5 hộ sinh và 4,5 điều dưỡng nhi/10.000 dân).
Tại tuyến xã mới có 73,3% TYT xã có hộ sinh từ trung học trở lên, nếu
25

Báo cáo JAHR 2014

24


tính cả YSSN và hộ sinh sơ học, thì tỷ lệ này là 91,3%. Như vậy, còn khoảng
trên 8% TYT chưa có YSSN hoặc hộ sinh trung học trở lên, Đặc biệt, tại 62
huyện nghèo, vẫn còn 15,4% TYT chưa có YSSN hoặc hộ sinh từ trung học
trở lên.
Theo báo cáo của các địa phương, toàn quốc có khoảng trên 12.000
thôn bản vùng khó khăn cần được bố trí cô đỡ thôn bản làm việc, tuy nhiên,
tính đến hết năm 2014 mới có 1.737 cô đỡ thôn, bản được đào tạo theo các
chương trình 6 -18 tháng trong khuôn khổ một số chương trình, dự án.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status